PHẬT THUYẾT KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Hán dịch:
Sa Môn Pháp Cự, Sa Môn Pháp Lập
Việt dịch: Thiện Thuận, Nguyên Tạng
*
Phẩm Mười – Phẩm Song Yếu – Thí Dụ Hai Mươi Hai
Thuở xưa, Vua nước Xá Vệ là Ba Tư Nặc đến thăm Đức Phật.
Vua đến nơi liền xuống xe, bỏ lộng, tháo kiếm, cởi giày rồi chắp tay đi vào quỳ xuống đảnh lễ, bạch rằng:
Bạch Đức Thế Tôn, ngày mai con mong Đức Phật và Tăng Chúng đến ngã tư đường thọ trai để cho mọi người trong nước đều biết Phật là Đấng Chí Tôn khiến chúng sinh xa lìa tà ma ngoại đạo, gìn giữ Ngũ Giới cho quốc thái dân an.
Đức Phật nói:
Lành thay!
Phàm người làm Vua phải lãnh Đạo Nhân dân một cách sáng suốt, hướng dẫn họ phụng hành Đạo Đức để được hưởng phước đời sau.
Vua thưa:
Bạch Đức Thế Tôn, con xin thoái lui để về lo việc cúng dường. Vua trở về tự tay lo sắp đặt cơm nước, rồi đích thân đón Đức Phật và Tăng Chúng đến ngã tư có thiết trai. Đức Phật đến ngồi vào chỗ, Vua tự mình múc nước rửa tay cho Đức Phật.
Đức Phật thọ trai xong, Thuyết Pháp cho Vua và mọi người. Người đến dự đông vô số. Trong đó có hai thương nhân, một người nghĩ:
Phật như Đế Vương, đệ tử như trung thần. Phật giảng Thuyết Pháp, đệ tử tụng đọc truyền bá. Vua Ba Tư Nặc thật là sáng suốt, biết Đức Phật là bậc đáng tôn kính, khép ý phụng trì.
*
Còn người kia lại nghĩ:
Vua Ba Tư Nặc ngu thật!
Mình đã là Vua còn cần gì nữa?
Phật thật như bò, đệ tử như xe. Bò kéo xe chạy Đông, Tây, Nam, Bắc. Phật có Đạo Hạnh gì mà phải y kính phụng trì. Sau đó hai người ra đi. Đi được khoảng ba mươi dặm đường, họ ghé lại một nhà nghỉ qua đêm. Hai người mua rượu cùng nhau uống và bàn luận chuyện đã thấy ban sáng. Người có thiện niệm được Tứ Thiên Vương ủng hộ.
Còn người nghĩ quấy bị Quỷ Thần ở Thái sơn khiến cho rượu uống vào bụng nóng như thiêu. Vì vậy anh ta bỏ ra ngoài lộ, nằm lăn qua lộn lại trong vết bánh xe trên đường. Sáng sớm có đoàn xe năm trăm chiếc đi ngang nghiền chết anh ta.
Người bạn sáng ra đi tìm thì thấy anh đã chết rồi, rất bối rối suy nghĩ:
Nếu mình về nước sẽ bị nghi là giết bạn lấy của, kết tội bất nghĩa, thí thân vì tiền của. Do đó anh mới đi sang nước khác. Vua nước này vừa băng hà mà không có Thái Tử nối ngôi.
Trong sấm thư nói:
Sẽ có một người thân phận thấp kém ở nước khác lên làm Vua nước này. Vua quá cố có một con thần mã, nếu gặp vị ấy nó sẽ quỳ xuống.
Các quan theo lời, thắng yên cương, đeo quốc ấn trên mình thần mã rồi dẫn đi khắp nơi tìm người kế vị. Người xem thần mã rất đông, cũng vừa gặp lúc anh này đi đến nước ấy. Quan thái sử trông thấy nói:
*
Vị ấy có mây vàng che phủ, chính là khí tượng làm Vua. Thần mã trông thấy liền đến quỳ xuống liếm chân vị thương khách. Quần Thần mừng rỡ, liền rước anh về cung tôn lên làm vua.
Bấy giờ vị Vua này mới coi sóc tình hình trong nước và tự suy nghĩ:
Ta không làm một việc lành nào cả, sao lại hưởng phước này?
Chắc đây là nhờ ân đức của Phật.
Do đó, Vua bèn cùng quần thần hướng về nước Xá Vệ, từ xa đảnh lễ bạch:
Con là người hạ tiện thiếu đức, nhờ từ ân Thế Tôn mới được làm Vua. Ngày mai xin Đức Thế Tôn và các vị A La Hán thuận theo ý nguyện của con đến đây thọ trai.
Đức Phật ở xa liền biết, bảo A Nan dặn các vị Tỳ Kheo ngày mai Vua nước kia có lời cung thỉnh, tất cả hãy sử dụng thần thông đến nước đó cho Vua và nhân dân hoan hỷ.
Hôm sau, Đức Phật và đệ tử dùng thần túc đến nước đó, theo thứ lớp mà ngồi trang nghiêm như pháp. Thọ trai rửa tay xong, Đức Phật Thuyết pháp cho Vua và mọi người nghe.
Vua hỏi:
Con vốn là người tiện dân, không có phước đức, vì nhân duyên gì được như thế này?
Đức Phật đáp:
Lúc trước Vua Ba Tư Nặc cúng dường cơm nước cho Đức Phật nơi ngã tư đường.
*
Vua đây trông thấy trong lòng suy nghĩ:
Đức Phật như Quốc Vương, đệ tử như trung thần. Nhờ Vua gieo hạt giống lành này mà ngày nay gặt lấy quả báo tốt đẹp. Còn bạn của Vua ngày trước vì cho rằng Phật như bò, đệ tử như xe. Người ấy gieo hạt giống vành bánh nên nay chịu quả báo bị xe lửa nghiền nát trong chốn địa ngục Thái sơn.
Không phải do Vua dũng cảm hùng mạnh mà đoạt được ngôi vị ấy. Làm thiện được phước, làm ác gặt họa. Phước hay họa do mình gây tạo mà chẳng phải Trời, Rồng, Quỷ, Thần ban cho hay gây ra.
Bấy giờ Đức Thế Tôn liền nói kệ:
Tâm là gốc pháp
Đứng đầu, sai sử
Tâm khởi niệm ác
Nói ác, làm ác
Tội khổ theo ta
Như xe theo vết.
Tâm là gốc pháp
Đứng đầu, sai sử
Tâm khởi niệm thiện
Nói thiện, làm thiện
Phước lạc theo ta
Như bóng theo hình.
Đức Phật nói kệ xong, Vua và vô số thần dân đều vô cùng hoan hỷ, chứng được Pháp Nhãn.
*****
PHẬT THUYẾT KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Phẩm Mười – Phẩm Song Yếu – Thí Dụ Hai Mươi Ba
Thuở xưa, Trưởng Giả Tu Đạt mua miếng vườn của Thái Tử Kỳ Đà rồi hai người cùng nhau xây cất Tinh Xá cúng dường Đức Thế Tôn.
Mỗi người thỉnh Đức Phật và Chư Tăng cúng dường trong một tháng. Nhờ nghe Đức Phật Thuyết Pháp nên hai vị đều thấy được đạo.
Thái Tử Kỳ Đà hoan hỷ trở về Đông Cung, hết lời tán thán đạo đức của Đức Phật, tự đánh nhạc làm vui. Em trai của Kỳ Đà là Lưu Ly thường ở bên Vua.
Lúc ấy, Vua cùng với cận thần và các phu nhân ở hậu cung đến chỗ Đức Phật đảnh lễ nghe Kinh. Lưu Ly ở lại lo việc bảo vệ cung điện.
Các nịnh thần như bọn A Tát Đà, có mưu gian thưa với Lưu Ly rằng:
Xin Ngài hãy đeo thử đai ấn của đại Vương, ngồi lên ngai vàng xem có giống Vua không?
Lưu Ly nghe lời mặc hoàng bào lên ngai vàng ngồi.
Bọn nịnh thần lạy mừng thưa:
Ngài thật như vị Đại Vương ngàn năm mới gặp được.
Ngài nên thuận theo nguyện vọng của lê dân, há để Đông Cung Thái Tử Kỳ Đà chiếm chỗ này sao?
Ngai vàng này không lẽ đã lên rồi mà lại xuống?
*
Lưu Ly nghe nói liền mang giáp binh, rút kiếm đến bao vây Tinh Xá Kỳ Hoàn để đuổi Vua không cho về cung. Quân Lưu Ly đánh nhau với quan quân của Vua ở Kỳ Hoàn giết hơn năm trăm cận thần. Vua và phu nhân chạy lánh nạn suốt ngày đêm đến nước Xá Di.
Giữa đường vì đói khát Vua ăn rau rừng trúng độc, bụng chướng lên rồi chết. Lúc ấy Lưu Ly lên nắm quyền, cầm gươm vào Đông Cung giết chết Thái Tử Kỳ Đà anh mình. Kỳ Đà vì hiểu lẽ vô thường nên không chút lo sợ, vẻ mặt an nhiên chẳng đổi, an tâm mỉm cười chịu chết. Khi lâm chung, Kỳ Đà nghe tiếng nhạc từ Hư Không đến đón rước thần thức.
Lúc ấy Đức Phật ở Tinh Xá Kỳ Hoàn biết được liền nói kệ:
Tạo vui đời sau vui
Làm thiện hai đời vui
Người ấy thuần hoan hỷ
Thấy phước tâm an vui.
Nay mừng đời sau mừng
Làm thiện hai đời mừng
Đây là tự giúp mình
Hưởng phước nên mừng vui.
Sau đó, Vua Lưu Ly kéo quân sang đánh nước Xá Di, sát hại những người họ Thích và những bậc thấy đạo, tàn bạo vô nhân, tạo đủ năm tội ngũ nghịch.
Đức Phật dự ký Lưu Ly vì bất hiếu bất trung, tội nghiệp sâu nặng, bảy ngày sau sẽ bị lửa địa ngục thiêu chết. Quan thái sử cũng bói đúng quẻ như vậy.
*
Lưu Ly nghe tin hết sức lo sợ cho thuyền ra giữa sông, nghĩ rằng:
Ta sống giữa nước, lửa làm sao đến được?
Đúng trưa ngày thứ bảy, tự nhiên lửa từ dưới nước bốc lên. Đốt chìm thuyền, Lưu Ly bị chết cháy, thi thể chìm dưới nước.
Lúc ấy, Đức Phật nói kệ:
Tạo lo đời sau lo
Làm ác hai đời lo
Kẻ ấy toàn lo sợ
Thấy tội tâm bất an.
Nay hối đời sau hối
Làm ác hai đời hối
Đây tự chuốc tai ương
Chịu tội đầy khổ não.
Phật nói kệ xong, liền bảo các Tỳ Kheo:
Thái Tử Kỳ Đà không tham vinh hoa địa vị chịu chết giữ đạo được sinh lên Cõi Trời sống tự tại an lạc. Còn Vua Lưu Ly cuồng ngu buông lung tình ý, chết đọa địa ngục chịu biết bao đau khổ.
Tất cả người đời không luận giàu sang hay nghèo hèn đều theo luật vô thường không thể trường tồn. Cho nên bậc trượng phu thà hy sinh mạng sống để bảo toàn của báu tinh thần, hành vi. Nghe Đức Phật dạy xong, ai ai cũng tin nhận.
*****
PHẬT THUYẾT KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Phẩm Mười – Phẩm Song Yếu – Thí Dụ Hai Mươi Bốn
Thuở xưa, sau núi Kỳ Xà Quật có hơn bảy mươi gia đình Bà La Môn đủ phước duyên đáng độ. Đức Phật đến làng đó hiển bày thần thông để giáo hóa. Dân làng trông thấy hào quang rực rỡ của Phật, ai cũng sinh lòng kính phục.
Đức Phật ngồi dưới một cội cây, hỏi các Bà La Môn:
Các ông ở trong núi này được bao nhiêu đời rồi?
Làm nghề nghiệp gì để sống?
Họ đáp rằng:
Chúng tôi ở đây đã hơn ba mươi đời, lấy việc canh tác, chăn nuôi làm nghề sinh sống.
Đức Phật lại hỏi:
Các ông tu hạnh gì để cầu thoát ly sinh tử?
Họ đáp rằng:
Thờ mặt Trời, mặt Trăng, lửa, nước, tùy thời tế tự. Nếu có người chết thì người trong làng lớn nhỏ tụ hội lại cầu nguyện cho thần hồn được sinh lên Cõi Trời Phạm Thiên, thoát ly sinh tử.
Đức Phật nói với các Bà La Môn:
Làm ruộng, chăn nuôi, tế tự mặt Trời mặt Trăng lửa nước, cầu nguyện sinh Thiên không phải là pháp trường tồn xa lìa sinh tử.
Phước lớn nhất không nơi nào hơn Cõi Trời thứ hai mươi tám mà nếu không có trí tuệ tu đạo vẫn bị đọa vào ba ác đạo. chỉ có Xuất Gia tu hạnh thanh tịnh, thân đạt tịch diệt mới được Niết Bàn.
*
Bấy giờ Đức Thế Tôn Liền nói kệ:
Cho chân là ngụy
Lấy ngụy làm chân
Đó là tà kiến
Không được lợi thật.
Biết chân là chân
Thấy ngụy là ngụy
Đó là chánh kiến
Quyết được thật lợi.
Người đời đều chết
Ba Cõi không an
Chư Thiên tuy vui
Phước hết, mất mạng
Hãy quán thế gian
Đã sinh phải tử
Muốn thoát sinh tử
Phải hành đạo chân.
Bảy mươi vị Bà La Môn nghe Đức Phật giảng xong, hoan hỷ tỏ ngộ, xin làm Sa Môn.
Đức Phật bảo:
Lành thay!
Hãy lại đây các Tỳ Kheo. Các vị ấy râu tóc liền tự rụng, thành tướng Tỳ Kheo. Đức Phật cùng với các vị ấy trở về Tinh Xá. Đi được nửa đường, các vị tân Tỳ Kheo bỗng nhớ vợ con, muốn trở về nhà.
Lại nữa, lúc đó Trời trở cơn mưa, càng thêm buồn thảm. Đức Phật biết ý, liền hóa ra vài mươi căn nhà bên đường, rồi cùng chúng Tỳ Kheo vào trú mưa. Lúc ấy mái nhà bị dột, nước mưa theo đó chảy vào.
Nhân đây Đức Phật nói kệ:
Nhà lợp không kín
Nước mưa lọt vào
Ý không siêng tu
Tham dục xen khởi.
Nhà lợp kín đáo
Mưa không lọt vào
Ý luôn siêng tu
Dục không xen khởi.
Bảy mươi vị Tỳ Kheo nghe Đức Phật nói kệ xong, cố gắng tự sách tấn, song lòng vẫn còn âm thầm lưu luyến. Mưa dứt, mọi người lại lên đường.
Đi một đoạn, Đức Phật gặp một tờ giấy cũ bèn bảo các Tỳ Kheo lượm lên. Các Tỳ Kheo vâng theo lời sai bảo lượm lên.
Đức Phật hỏi các Tỳ Kheo:
Đó là giấy gì vậy?
*
Các Tỳ Kheo đáp:
Thưa đó là giấy gói hương, nay tuy đã quăng bỏ song mùi thơm vẫn còn. Đi thêm đoạn nữa, gặp một sợi dây, Đức Phật cũng bảo các Tỳ Kheo nhặt lấy. Các Tỳ Kheo vâng theo lời sai bảo lượm lên.
Đức Phật hỏi các Tỳ Kheo:
Đó là dây gì vậy?
Các Tỳ Kheo đáp:
Sợi dây này tanh hôi, chính là dây xâu cá.
Đức Phật bèn dạy:
Mọi vật bản chất vốn thanh tịnh, song do nhân duyên mà có phước tội khác nhau. Thân cận người hiền minh thì đạo đức cao cả, kết giao kẻ ngu ám thì tội nghiệp đến bên. Ví như tờ giấy và sợi dây kia, gần hương thì thơm, gần cá thì tanh, gần gũi dần dần huân tập trở thành bản tánh mà không tự biết.
Bấy giờ Đức Thế Tôn liền nói kệ:
Kẻ xấu ô nhiễm người
Như gần vật hôi dơ
Mê dần, quen nết xấu
Thành ác mà chẳng hay.
Hiền Nhân ảnh hưởng người
Như gần vật xông hương
Trí tăng, quen tánh thiện
Thành hạnh lành sạch thơm.
Bảy mươi vị Tỳ Kheo một lần nữa được nghe Đức Phật nói kệ khai thị, biết rõ lòng tham luyến cửa nhà là rừng dơ bẩn, vợ con nào khác gông xiềng, nhân đó liền phát khởi lòng tin kiên cố. Về đến Tinh Xá, mọi người nhiếp ý tu hành, chẳng bao lâu chứng quả A La Hán.
(Kinh Pháp Cú Thí Dụ – Hết Phẩm Mười)




vu viết
PHẬT THUYẾT KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Phẩm Mười Chín – Phẩm Ác Hạnh – Thí Dụ Ba Mươi Chín
Phẩm này không đúng, bị lặp nhé ad.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật!
Tuệ Tâm đã sửa lại, cảm ơn bạn!
Thủy Nguyễn viết
Add ơi! Trong thí dụ 71 và 72 có phần con voi ba mầu trùng nhau là cố tình hay vô ý vậy.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.
Lâu lắm mới lại thấy có người đọc hết trọn bộ bản kinh này, thật là đáng quý! Bộ kinh này trước đây do một bạn đọc gửi file word bảo đăng lên, Tuệ Tâm thấy có trùng lặp nhưng vì tôn trọng dịch giả nên vẫn để nguyên như vậy. Mong bạn tùy hỷ!