PHẬT THUYẾT KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Hán dịch:
Sa Môn Pháp Cự, Sa Môn Pháp Lập
Việt dịch: Thiện Thuận, Nguyên Tạng
*
Phẩm Ba Mươi Lăm- Phẩm Dụ Ái Dục – Thí Dụ Sáu Mươi Hai
*
Thuở xưa Đức Phật trú tại nước Xá Vệ vì hàng trời người Thuyết Pháp. Lúc ấy, trong thành có một vị Trưởng Giả Bà La Môn rất giàu có, song lại là người keo kiệt tham lam không thích bố thí.
Mỗi khi ăn, ông cho người đóng kín cửa, không tiếp khách. Vì vậy, ăn xin, Sa Môn, Bà La Môn đều đến không gặp được.
Một hôm, Trưởng Giả thèm ăn ngon, sai vợ làm một bữa thịnh soạn. Bà vợ liền giết một con gà béo, ướp gừng tiêu gia vị rồi đem quay. Các món ăn uống, bánh trái chẳng mấy chốc cũng chuẩn bị xong, được dọn ra đầy bàn.
Ông lệnh cho đóng kín cửa lại, hai vợ chồng và đứa con nhỏ ngồi ăn uống với nhau. Hai ông bà thay phiên xé thịt gà đút cho con ăn không ngớt.
Đức Phật biết vị Trưởng Giả này có túc phước, có thể độ được, bèn hóa ra một vị Sa Môn ngồi cạnh lúc họ ăn cơm, trước bàn ăn của họ Ngài Chú Nguyện rồi lại nói:
Xin các vị hãy bố thí cho ít nhiều, nhờ đó mà được phước lớn.
Vị Trưởng Giả ngẩng đầu lên ngó thấy hóa Sa Môn liền mắng:
Ông là Tu Sĩ mà không biết hổ thẹn, nhà người ta đang ăn uống sao lại đường đột xông vào?
*
Hóa Sa Môn đáp:
Ông mới thật ngu si không biết hổ thẹn.
Tôi nay là Khất Sĩ có gì phải hổ thẹn?
Trưởng Giả vặn:
Tôi và vợ con ăn uống vui vẻ với nhau có gì mà hổ thẹn?
Sa Môn đáp:
Ông giết cha, lấy mẹ làm vợ, nuôi dưỡng oan gia mà không biết hổ thẹn, trở lại cho tôi Khất Sĩ là hổ thẹn.
Bấy giờ hóa Sa Môn liền nói kệ:
Cành nhánh sinh không dứt
Do lo ăn, tham dục
Nuôi oán, thêm hậu hoạn
Người ngu mãi rộn ràng.
Ái nhiễm của người ngu
Với vợ con ràng buộc
Trí giả thấy kiên cố
Hơn ngục tù thế gian.
Người trí thấy rõ ái
Ngục kiên cố khó ra
Nên với dục tránh xa
Dứt ái, được an ổn.
Trưởng Giả nghe kệ xong, kinh ngạc hỏi:
Đạo Nhân vì sao mà nói như vậy?
*
Sa Môn đáp:
Con gà trên bàn là cha ông đời trước. Do vì kiếp trước keo kiệt nên nay ông ta phải luôn làm gà để ông ăn thịt. Còn đứa bé này kiếp xưa là La Sát.
Thuở đó, ông là thương khách đi thuyền ra biển buôn bán bị dòng nước cuốn, trôi dạt vào nước quỷ La Sát bị nó ăn thịt. Năm trăm đời đều như vậy, La Sát mạng hết sinh lại làm con ông.
Vì tội ông chưa hết nên nó đến để hại ông. Vợ ông ngày nay chính là mẹ ông đời trước, do vì thương yêu sâu chắc nên nay trở lại làm vợ ông. Ông ngu si không biết túc mạng, giết cha cho oan gia ăn, lấy mẹ làm vợ.
Sáu nẻo luân hồi mênh mang không bờ bến, quanh quẩn trong đó mấy ai biết được. Chỉ có bậc chân nhân đắc đạo mới thấy được việc người chết chỗ này, sinh chỗ kia.
Kẻ ngu không biết há chẳng hổ thẹn sao?
Bấy giờ Trưởng Giả kinh sợ toàn thân nổi gai, toát mồ hôi lạnh.
Đức Phật liền vận dụng thần thông giúp ông biết được túc mạng. Trưởng Giả liền sám hối lỗi lầm, tạ ân Đức Phật xin thọ Ngũ Giới. Kế đó, Đức Thế Tôn Thuyết Pháp cho ông nghe. Nghe xong, ông liền chứng quả Tu Đà Hoàn.
*
PHẬT THUYẾT KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Phẩm Ba Mươi Lăm- Phẩm Dụ Ái Dục – Thí Dụ Sáu Mươi Ba
*
Thuở xưa Đức Phật Thuyết Pháp tại Tinh Xá Kỳ Hoàn nước Xá Vệ.
Lúc ấy có một vị Tỳ Kheo trẻ vào thành khất thực. Ông trông thấy một thiếu nữ thật là xinh đẹp, lòng liền khởi niệm sắc dục, quyến luyến mãi không dứt.
Do đó, dần dần ông mang bệnh, bỏ ăn uống, mặt mày tiều tụy nằm liệt trên giường. Các bạn đồng đạo đến thăm hỏi nguyên nhân bệnh tình.
Vị Tỳ Kheo trẻ cứ như thật giải bày. Ông nói rằng mình muốn bỏ tu, kết tình ân ái với cô ấy, song vì không được như nguyện nên lâu ngày buồn khổ thành bệnh tương tư.
Các huynh đệ đồng đạo hết lời khuyên can song ông không để vào tai. Thấy vậy, mọi người mới dìu vị ấy đến chỗ Đức Phật, kể hết mọi chuyện cho Ngài nghe.
Đức Phật bảo với vị Tỳ Kheo trẻ tuổi:
Nguyện ước của ông dễ thành thôi, đâu có gì phải ôm mối sầu thương!
Ta sẽ tìm cách giúp ông mãn nguyện, hãy vui vẻ dậy ăn uống. Vị Tỳ Kheo nghe xong, trong lòng mừng rỡ, u uất không còn. Bấy giờ Đức Thế Tôn liền dẫn vị Tỳ Kheo trẻ và đại chúng vào thành Xá Vệ, tìm đến nhà người đẹp nọ.
Đến nơi mới hay cô gái đã chết ba ngày rồi, thi thể còn để nguyên tại nhà vì gia đình thương khóc không nỡ liệm đem chôn. Lúc ấy thân cô đã sình lên, đồ nhơ bất tịnh chảy tràn, mùi hôi thối khó chịu.
*
Đức Phật liền bảo vị Tỳ Kheo:
Ông thấy chăng?
Người mà ông mơ tưởng nay đã như vậy, vạn vật vô thường trong hơi thở. Người ngu chỉ nhìn bên ngoài mà không thấy được chỗ dơ xấu bên trong, cứ mãi ràng buộc trong lưới tội mà cho là khoái lạc.
Bấy giờ Đức Thế Tôn liền nói kệ:
Thấy sắc tâm mê tưởng
Chẳng xét lẽ vô thường
Người ngu cho là đẹp
Giả dối lại yêu thương.
Đắm mình trong dục lạc
Tằm kéo kén khác chi
Người trí tuệ dứt hẳn
Hết khổ não sầu bi.
Người tâm ý buông lung
Dâm nhơ cho là sạch
Tình ân ái sâu nặng
Là lao ngục trói trần.
Người tỉnh giác trừ dâm
Bất tịnh quán để tâm
Nhờ đó khỏi lao ngục
Già chết dứt tận mầm.
Vị Tỳ Kheo trẻ tuổi lúc ấy trông thấy người đẹp chết đã ba ngày, mặt mày thối rữa khó thể đứng gần, lại nghe bài kệ giảng dạy rất rõ, nên hổ thẹn tỉnh ngộ, biết mình trước đây mê lầm. Ông bèn đảnh lễ, dập đầu sám hối với Đức Thế Tôn.
Đức Phật hứa khả, cùng đại chúng trở về Tinh Xá. Từ đó ông đem hết thân mạng nỗ lực công phu, tinh tấn tu tập, đắc quả A La Hán. Đại chúng được đi theo hôm đó rất nhiều người thấy sắc dục ô uế, tin hiểu sâu được lẽ vô thường, tham ái lần dứt cũng chứng được đạo quả.
*
PHẬT THUYẾT KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Phẩm Ba Mươi Lăm- Phẩm Dụ Ái Dục – Thí Dụ Sáu Mươi Tư
*
Thuở xưa, Đức Phật trú tại Tinh Xá nước Xá Vệ, Thuyết Pháp cho hàng Trời, Người, Long, Thần. Lúc ấy, trong nước có một vị đại Trưởng Giả giàu có vô số, sinh được một người con trai tuổi chừng mười hai, mười ba.
Hai vợ chồng lần lượt qua đời, cậu con nhỏ bơ vơ, không biết làm ăn quản lý gia nghiệp, cho nên mới vài năm mà cậu đã hoang phí tiền của khiến tàn gia bại sản đến nỗi phải đi ăn xin.
Cha cậu có một người bạn thân cũng là Trưởng Giả rất giàu có. Một hôm ông trông thấy cậu ta mới hỏi nguyên do. Được biết hoàn cảnh cậu như vậy, ông thương xót đem cậu về bảo bọc, gả con gái, cất nhà riêng cho ở và cho nô tỳ, xe ngựa, tiền của vô số để làm ăn.
Song cậu ta tánh lười biếng, không biết tính toán làm ăn, cứ ngồi không ăn xài phung phí, chẳng bao lâu lại lâm vào cảnh đói nghèo. Trưởng Giả vì thương con gái phải cho của cải làm vốn một lần nữa, song anh ta cũng lại như trước, rốt cuộc bị phá sản, nghèo khổ.
Thấy mấy lần giúp đỡ, mà anh vẫn ăn xài hoang phí, Trưởng Giả nghĩ rằng anh không thể làm ăn nên người được, chi bằng bắt con gái lại đem gả cho người khác. Ông đem chuyện này ra cùng thân tộc bàn bạc.
*
Không ngờ người con gái nghe trộm được trở về mách với chồng bảo:
Nhà tôi đông đảo, có thế lực đè bẹp anh, nay muốn bắt tôi lại vì anh không biết làm ăn.
Anh tính như thế nào đây?
Người chồng nghe vợ nói vậy, hổ thẹn tự nghĩ:
Đây chính là do ta bạc phước, sinh ra không có cha mẹ che chở đùm bọc, không học được cách làm ăn sinh sống. Nay ta sắp mất vợ rồi sẽ đi ăn xin như cũ. Tình ân ái sâu nặng, nay phải xa nhau làm sao chịu nổi. Nghĩ tới nghĩ lui mãi, cuối cùng anh khởi ác niệm, đưa vợ vào phòng rồi cả hai cùng chết một chỗ.
Nghĩ xong, anh đưa vợ vào phòng đâm vợ chết rồi quay lại tự sát. Nô tỳ hay được hoảng kinh chạy đi báo Trưởng Giả.
Ông và cả nhà vội chạy sang thì thấy việc đã như thế, chỉ còn biết thu lượm thi hài lo tẩm liệm chôn cất. Cả nhà đang lúc đau buồn nhớ con không nguôi, bỗng nghe tiếng nói có Đức Phật đang tại thế Thuyết Pháp giáo hóa chúng sinh, ai gặp được Ngài đều hoan hỷ, dứt hết sầu lo. Vị Trưởng Giả bèn dẫn cả nhà đến chỗ Phật, làm lễ rồi ngồi qua một bên.
*
Đức Phật hỏi:
Ông từ đâu đến?
Có chuyện gì không vui mà sao sắc mặt ưu sầu?
Trưởng Giả bạch:
Nhà con vô phước, trước đây gả một người con gái. Chẳng may gặp đứa ngu phu không biết làm ăn. Vì vậy con định bắt con về, không ngờ nó lại giết vợ rồi tự sát. Con lo đám chôn cất chúng nó xong, trên đường về ghé thăm Đức Thế Tôn.
Đức Phật bảo Trưởng Giả:
Tham dục, sân hận là bệnh thường trên thế gian, ngu si vô trí là cửa của họa hoạn. Năm đường trong ba cõi do đây mà đọa lạc, sinh tử triền miên trải vô lượng kiếp, chịu khổ biết bao.
Người thường còn không biết ăn năn hối cải, huống chi là kẻ ngu làm sao biết được. Cái độc của tham dục giết mình, giết thân tộc, hại lây đến chúng sinh đâu phải chỉ riêng có vợ chồng.
Bấy giờ Đức Thế Tôn lại nói kệ:
Ngu do tham trói buộc
Không cầu qua bờ giác
Hại mình hại luôn người
Do tham tài tạo tác.
Tâm ái dục như ruộng
Dâm, nộ, si là giống
Người xả bỏ, giải thoát
Được phước thật vô lượng.
Giặc tham dục hại mang
Như nhà buôn nhiều hàng
Giữa đường hiểm ít bạn
Nên người trí không tham.
Bấy giờ, vị Trưởng Giả nghe Đức Phật nói kệ tâm sinh hoan hỷ không còn đau buồn khổ não, ngay trước thân tộc và thính chúng, phá mười hai ức kiếp nghiệp đắc quả Tu Đà Hoàn.
*
PHẬT THUYẾT KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Phẩm Ba Mươi Lăm- Phẩm Dụ Ái Dục – Thí Dụ Sáu Mươi Lăm
*
Thuở xưa, Đức Phật trú tại Tinh Xá nước Xá Vệ vì hàng Trời, Rồng, Quỷ, Thần, Vua chúa, quan dân Thuyết Pháp. Lúc ấy có hai gã lêu lỏng lang thang kết thân với nhau, đi đâu cũng có mặt như hình với bóng.
Hai người bàn nhau muốn làm Sa Môn, bèn đến chỗ Phật làm lễ, rồi quỳ xuống chắp tay thưa:
Bạch Đức Thế Tôn, chúng con muốn Xuất Gia làm Sa Môn, xin Ngài thâu nhận.
Đức Phật cho phép hai người Xuất Gia làm Sa Môn, rồi cho ở chung một phòng. Hai người sống chung vì tập khí thế gian còn sâu dày nên suốt ngày chỉ nhớ chuyện ân ái vinh hoa của thế gian.
Họ thường xuyên nói đến thân thể mỹ miều của người đẹp mà không xét nghĩ tính chất vô thường, bất tịnh của nó. Do đè nén dục vọng nên dần dần thành bệnh uất kết bên trong.
Đức Phật với Tuệ Nhãn thấy được chuyện này. Ngài biết họ do vọng tưởng, buông lòng do dục niệm nên không tu được. Ngài liền sai một trong hai người đi khỏi, rồi tự hóa thành người đó đến ở chung với vị còn lại.
Hóa Tỳ Kheo này nói với vị ở chung:
Chúng ta cứ nhớ nghĩ hoài đến ân ái, chi bằng hôm nay đi xem thân thể người đẹp ra sao. Ở nhà mà tưởng nhớ suông nào có được gì đâu.
*
Hai người cùng đến xóm dâm nữ. Đức Phật hóa ra một cô gái điếm ở trong xóm đó. Hai người đến đó vào phòng cô ta rồi nói:
Chúng tôi là người tu, thọ cấm giới của Phật nên không phạm đến việc ăn nằm. Ý chỉ muốn xem thân thể người nữ thôi, nhưng vẫn trả tiền theo phép.
Cô gái ấy nghe vậy liền cởi bỏ đồ trang sức, y phục đứng khỏa thân cho vị ấy ngắm. Một mùi hôi hám từ thân cô bốc ra. Hai người trông thấy vẻ nhơ bẩn của nó không ai gần nổi.
Hóa Tỳ Kheo nói với vị Tỳ Kheo kia:
Vẻ đẹp của người nữ chẳng qua là do phấn sáp xông hương, tắm gội nước hoa. Họ mặc y phục màu sắc xinh đẹp là để che chỗ dơ xấu của mình, ướp hoa xông hương là để lấp mùi hôi thân thể.
Thật ra nó chỉ như cái túi da chứa phân có gì đáng tham?
Bấy giờ Hóa Tỳ Kheo liền nói kệ:
*
Dục! Ta biết rõ ngươi
Ngươi từ nhớ tưởng sinh
Ta nếu không nhớ tưởng
Ngươi tự sẽ không còn.
Trong tâm thích, là dục
Đâu chỉ năm dục ngoài
Bỏ ngũ dục được ngay
Là người đại dũng lực.
Vô dục thì vô úy
An lạc chẳng lo chi
Dục hết, kết sử giải
Sinh tử mãi thoát ly.
Hóa Tỳ Kheo nói kệ xong, hiện lại thân Phật tướng hảo quang minh. Vị Tỳ Kheo trông thấy hổ thẹn ăn năn, năm vóc sát đất đảnh lễ Đức Phật. Đức Phật lại Thuyết Pháp cho ông. Ông nghe xong hoan hỷ tỏ ngộ chứng quả A La Hán.
Cả hai trở về Tinh Xá. Lúc ấy vị Tỳ Kheo được Đức Phật sai đi cũng trở về. Vị ấy thấy bạn mình thần sắc hoan hỷ hơn mọi khi, bèn hỏi nguyên nhân. Tỳ Kheo liền kể chuyện Đức Phật đã từ bi độ mình như thế nào và mình nhờ Đức Phật được thoát khỏi các khổ.
Nói xong vị Tỳ Kheo lại nói kệ:
Ngày đêm tưởng nhớ dục
Ý dong ruổi không ngừng
Thấy nữ dục nhớp nhơ
Hết tưởng, hết buồn khổ.
Vị Tỳ Kheo bạn nghe kệ xong, tự tư duy Quán Chiếu, đoạn dục diệt tưởng chứng được pháp nhãn.
*
(Kinh Pháp Cú Thí Dụ – Hết Phẩm Ba Mươi Lăm)




vu viết
PHẬT THUYẾT KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Phẩm Mười Chín – Phẩm Ác Hạnh – Thí Dụ Ba Mươi Chín
Phẩm này không đúng, bị lặp nhé ad.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật!
Tuệ Tâm đã sửa lại, cảm ơn bạn!
Thủy Nguyễn viết
Add ơi! Trong thí dụ 71 và 72 có phần con voi ba mầu trùng nhau là cố tình hay vô ý vậy.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.
Lâu lắm mới lại thấy có người đọc hết trọn bộ bản kinh này, thật là đáng quý! Bộ kinh này trước đây do một bạn đọc gửi file word bảo đăng lên, Tuệ Tâm thấy có trùng lặp nhưng vì tôn trọng dịch giả nên vẫn để nguyên như vậy. Mong bạn tùy hỷ!