Hòa Thượng Tuyên Hóa 71. Khéo độ người dâu ác
Có một lần Hòa Thượng đi Tây Đại Bá đến nhà ông Trưởng khu Lưu Trung Cần mượn xe. Bởi ngay lúc nông dân bận rộn mùa màng nên bị từ chối. Sau đó Hòa Thượng cứu sống một em bé sắp chết, hóa độ một bà bất hiếu, biết sửa lỗi làm người mới, nên cảm động ông Khu Trưởng, …
Hòa Thượng Tuyên Hóa kể:
Tôi nhớ trong thôn Đại Bá, có người họ Lưu làm Trưởng khu ở đó. Tôi đến nhà ông Trưởng khu Lưu nói: “Chùa đã lâu không tu sửa, hiện tại bắt đầu tu sửa. Xin các ông trong thôn làng giúp đỡ, bỏ ra chút công sức tới giúp chùa!” Trưởng khu nói: “Hiện ngay là lúc gieo mạ, mỗi gia đình ai nấy đều rất bận rộn, nên chúng tôi không có thời gian tới chùa làm công quả được.”
Ngay lúc đó, có một người đàn bà nhìn qua cửa kiếng, rồi đi vào, mặt mày mếu máo, nói: “Con tôi chắc chết quá! Thầy có cách nào cứu cho con của tôi không? Nếu như đứa nhỏ này lành bịnh, dù mọi người có bận đến mấy, họ cũng sẽ đem xe đến giúp chùa vận chuyển vật liệu.”
Tôi nói với bà ta rằng: “Con của bà tại sao phải chết?”
Bà nói: “Tôi không biết!”
*
Tôi nói: “Vì bà không hiếu thuận với cha mẹ chồng, không hòa nhã với chị em dâu, cho nên con của bà mới chết, nếu bà muốn nó không sao thì bà nhất định phải sám hối! Bà trước hết, nên đến thắp hương trên bàn Phật trong nhà, bài vị tổ tiên cũng phải thắp hương, sám hối nói: “Từ nay về sau, hứa sẽ hiếu thuận với cha mẹ chồng, và hòa nhã với chị em dâu.” Sau đó lạy cha mẹ chồng nhận lỗi, nói với họ là sau này bà sẽ hiếu thuận với họ, không còn ngỗ nghịch nữa. Nếu bà thành tâm làm như vậy thì con của bà sẽ không sao!”
Vì lòng thương con nên bà ta làm y theo lời tôi dạy, nhưng con bà vẫn hấp hối gần chết, không có chuyển biến gì. Bà ta hớt hơ hớt hải chạy đến gặp tôi. Tôi nói: “Bà bồng đứa nhỏ tới cho tôi xem nào!”
Đó là một đứa bé trai khoảng 3, 4 tuổi, mắt nhắm nghiền, miệng hả ra. Tôi vỗ lên đầu nó ba cái, nói: “Được rồi!” thì lập tức đứa nhỏ hết bịnh, rồi nó mở mắt nhìn dáo dác, không đầy vài phút sau là rời khỏi tay mẹ nó, chạy đi chơi. Vì vậy mà cả nhà ông Trưởng khu Lưu đều quy y và phát tâm đem xe đến chở vật liệu. Cả thôn trang nhỏ này vốn chỉ có 13 cỗ xe, thế mà sáng sớm ngày hôm sau, đã có 12 cỗ xe lục đục kéo đến chùa rồi.
*
Đến chiều, khi họ quay về nhà thì có một cỗ xe bị tai nạn, chân con lừa bị thương. Người chủ xe này cảm thấy kỳ quái, tâm nghĩ: “Làm chuyện cho chùa, đáng lẽ phải có công đức, trái lại sao còn bị tai nạn?” Ông ta nghĩ mãi không ra, chạy đến hỏi tôi: “Ông Thầy! Đây là nguyên cớ gì vậy?”
Tôi nói với ông: “Ông chớ có nóng nảy! Tuy con lừa của ông bị thương, nhưng không lâu sẽ khỏi, nó đã cứu mạng cho người nhà của ông rồi đó!”
Nghe nói như vậy, ông rất cảm động và quyết định ngày hôm sau lại đến chở vật liệu cho chùa. Sau khi phát sanh chuyện này, chúng tôi đến bất cứ thôn trang nào mượn xe chở vật liệu, họ đều vui vẻ, thậm chí còn tranh tới giúp trước, vì họ biết là làm công quả cho chùa sẽ được vô lượng công đức.
Ghi chú:
Bạch Ngọc Đường (anh ba của Hòa Thượng) kể: Lúc Sư Phụ xuất gia ở Harbin, tôi có đến chùa Tam Duyên hai lần. Lần đầu ở chùa hơn 20 ngày. Lần thứ hai lưu lại chùa hơn 3 tháng, cũng nhằm lúc chùa Tam Duyên chuẩn bị vật liệu cất lầu chánh điện và phòng xá ở phía Đông.
Hơn mười ngày Thầy An Từ làm Phật sự ở ngoài và nay trở về với hai mươi mấy cỗ xe chở gỗ và vật liệu xây dựng khác do cư sĩ phát tâm cúng dường. Vì toàn là gỗ cây tròn nên cần phải cưa thành hình vuông và từng miếng mỏng. Tôi thấy không đủ nhân công, nên mỗi ngày giúp thợ mộc cưa cây. Ngoài ra tôi còn phụ phân ra loại gỗ lớn nhỏ sắp ngay ngắn. Có lúc tôi cũng giúp nhà bếp nấu cơm và gói “hoành thánh.” Sau đó tôi không có dịp tới chùa nữa.
Hòa Thượng Tuyên Hóa: 72. Chuyện chú bé Vương Thân
Thôn Dương Gia có một chú bé tên Vương Thân bị bịnh trầm trọng. Cha mẹ chú tới cầu thỉnh Hòa Thượng trị bịnh cho con họ. Hòa Thượng quán sát nhân duyên của chú Vương Thân …
Hòa Thượng Tuyên Hóa kể:
Tôi cùng Hòa Thượng phương trượng của chùa chúng tôi đi ra ngoài hóa duyên từng nhà một, và đã đến mỗi một gia đình để hóa duyên, quyên góp. Lúc đó có một người quỳ trước ngưỡng cửa, không cho chúng tôi vào nhà ông. Có người tưởng rằng ông ta không muốn bố thí nên bảo chúng tôi đi. Chúng tôi hỏi ông: “Tại sao quỳ như vậy?” Ông nói con trai ông hiện bị bịnh nặng, cầu xin Hòa Thượng phương trượng cứu giúp trị bịnh cho đứa con trai mình. Hòa Thượng phương trượng xoay qua bảo tôi tìm cách giúp ông ấy.
Tôi nói: “Bộ con có cách sao?”
Ngài nói: “Đứa nhỏ ở Đại Bá sắp chết, mà chú bảo nó sống, là nó sống lại ngay đó. Vậy chú thử đi xem đứa bé này coi nó ra sao?”
Tôi nói: “Sao Thầy không giúp nó?”
Ngài đáp: “Tôi không có năng lực này!”
Tôi bèn hỏi ông ta: “Tại sao ông quỳ ở trước cửa nhà, không cho chúng tôi đi vào nhà vậy?”
Ông nói: “Con nghe nói ở Đại Bá có đứa nhỏ bị bịnh sắp chết, mà các Thầy giúp nó được lành bịnh, con nghĩ các Ngài nhất định có cách trị bịnh cho con của con!”
Tôi nói: “Vậy ông hãy đem con ông đến cho tôi coi ra sao!”
*
Đứa bé họ Vương, tên trong là Thân. Lúc đó nó được 11 tuổi, bị bịnh đau bụng, nhức đầu rất lâu cũng trị không lành. Lúc chú bé tới gặp tôi, tôi nói với chú rằng: “Con hãy mau xuất gia mau làm tu sĩ, thì sẽ hết bịnh liền!”- bởi chú bé có tướng mạo của thầy tu.
Tôi hỏi cha mẹ nó: “Nếu ông bà cam tâm xả cho nó xuất gia làm tu sĩ, tôi có thể bảo cho nó hết bịnh, còn không nỡ cho nó xuất gia thì tôi không có cách gì hơn!”
Cha mẹ chú bé nói: “Xả được, Xả được! Nó hết bịnh, chúng con sẽ dẫn nó đến chùa Tam Duyên xuất gia!”
Tôi nói: “Vậy thì tốt! Bắt đầu từ ngày nay trở đi, nó sẽ lành bịnh, không còn bịnh nữa đâu!” Nói vừa xong, quả nhiên Vương Thân cũng hết bịnh.
Một tháng sau, tôi đến nhà chú ta, nói: “Con phải xuất gia đó!”
Cha mẹ chú nói: “Đợi một chút, chừng hai tháng nữa khi bịnh nó thật hết hẳn, chúng con sẽ cho nó xuất gia ngay!”
Hai tháng sau, tôi lại tới nhà chú bảo chú xuất gia, cha mẹ chú lại nói hãy đợi thêm chút nữa. Tôi nói: “Sau này bịnh nó có tái phát thì tôi không có cách gì để trị nữa đó!”
Rồi ba tháng sau, tôi lại đến thôn đó, nhưng tôi không đến nhà chú ta. Tại sao không đến? Bởi tôi đã đến hai lần, họ đều nói là muốn đợi một chút nữa, nên tôi nay chỉ đi ngang qua cửa mà không ghé vào.
*
Chú Vương Thân dù ở trong nhà, nhưng biết được tôi sẽ đi ngang qua thôn của chú, nên nói với cha mẹ chú: “Không xong rồi! Con thấy Sư Phụ của con hôm nay đi ngang qua đây nhưng sao không ghé vào nhà mình, chỉ sợ bịnh của con sẽ tái phát thôi!”
Cha của chú nói: “Có tái phát cũng không cần lo, qua vài ngày sau là khỏi hà! Con đừng có sợ.” Đó là ngày 23 tháng 11. Đến ngày 26, Vương Thân thật bị bịnh nặng, cha của chú không thể không đến chùa tìm tôi. Ông muốn đem con ông đến chùa xuất gia, nhưng tôi không có ở đó nên ông đành phải quay về nhà. Có điều kỳ lạ là linh hồn của Vương Thân đã theo cha chú đến chùa. Cho nên, Hòa Thượng phương trượng ở đâu, người nào ở phòng nào trong chùa chú đều biết hết.
Đợi khi cha chú về đến nhà, chú nói với cha chú rằng: “Con mới theo cha đi chùa nè! Rồi ra sao, ra sao… ”
Cha chú nói: “Tại sao cha không thấy con?”
Chú nói: “Cha không thấy con, nhưng con thấy cha! Con đi theo phía sau cha đó.”
Sáng sớm ngày 27, Vương Thân ngồi kiết già ở nhà. Trong nhà không có đèn điện, chú nói với cha chú: “Cha ơi! Cha đốt đèn lên xem giúp, coi con ngồi có ngay thẳng không?” Cha chú đốt đèn thì thấy chú ngồi kiết già mà qua đời ở nơi đó rồi. Dù cho cha mẹ chú khóc thảm thiết cách mấy đi nữa chú cũng không sống lại nữa.
*
Sau đó cha chú nói với tôi: “Nếu sớm biết là vậy, thì chúng con đã cho nó xuất gia rồi!”
Nhằm đúng ngày tôi lại đến thôn đó, cha mẹ chú khóc lóc với tôi, hỏi tôi còn có cách gì cứu sống lại con họ không? Tôi nói: “Phương pháp này không phải là của tôi, mà là của tự ông bà thôi, tôi nói cho ông bà biết, nhưng ông bà không dùng, vậy tôi cũng không còn cách nào hơn?
Tại sao tôi bảo Vương Thân xuất gia? Vì chú có tướng mạo của người tu sĩ. Tai lớn lớn, mũi bự bự, tướng mạo rất viên mãn; hơn nữa kiếp trước chú là một Hòa Thượng, có thể nói chú phát nguyện đời đời kiếp kiếp đều muốn làm Hòa Thượng. Tôi vừa nhìn thấy chú là bảo cha mẹ chú cho chú xuất gia. Cha mẹ chú vì đang lúc chú bị bịnh không thể không chấp nhận. Đến khi chú hết bịnh thì không đành lòng cho chú xuất gia, cho nên chú mới chết.
Tuy chú bé này đã chết nhưng đến nay vẫn thường thường theo tôi. Lúc sống, chú không được xuất gia, chết vẫn còn biết tu đạo, tương lai vẫn có thể làm Hòa Thượng. Tại sao tôi muốn nói chuyện này? Bởi vì lúc trẻ mà tu đạo thì dễ được thành công nhất. Đây là sự việc tôi đã gặp qua khi xưa, bởi cha mẹ chú không cho phép chú xuất gia nên chú mới chết như vậy!
Hòa Thượng Tuyên Hóa: 73. Người có niềm tin được cứu
Vợ ông Lý Thắng Tỉ vì uống nước tro tự vẫn, nên con trai bà là Lý Anh Kiệt cấp tốc chạy đi cầu cứu với Hòa Thượng và cảm động bởi lòng hiếu thảo của người con, Ngài dùng chú Đại Bi cứu độ bà Lý. Nhà họ Lý cảm kích ân đức Hòa Thượng cứu mạng, kính tặng tấm biểu ngữ “Tự Tại Như Lai”, cùng bản đối liễn do Vương Phụng Nghi viết:
Từ bi phổ độ, tín giả đắc cứu thành chánh giác;
Quá hóa tồn thần, lễ chi hoạch phước ngộ vô sanh.
Nghĩa là:
Từ bi phổ độ, cứu người tín tâm thành Chánh Giác;
Để tâm sửa lỗi, lễ lạy được phước ngộ vô sanh.
Mười mấy năm sau, trong bổn phái quy y của các đệ tử quy y Ngài, có câu đối liễn này ở hai bên hình của Ngài. Đây cũng biểu hiện cho sự hoằng truyền chánh pháp với bi nguyện bảo hộ chúng sanh của Hòa Thượng.
Hòa Thượng Tuyên Hóa kể:
Tôi đến Đông Tỉnh Tử thì phải đi bằng xe. Tại sao tôi thường đến Đông Tỉnh Tử? Vì ông họ Quách có cô con gái muốn xuất gia tu hành, nhưng không tìm được Sư Phụ. Tôi giới thiệu cô đến hội Đạo Đức học đạo căn bản làm người. Bởi có cơ duyên nên mùa Thu năm đó, tôi lại đến Đông Tỉnh Tử gặp vị đệ tử quy y tôi.
*
Lý Thắng Tỉ làm thôn trưởng ở đó, một ngày nọ hai vợ chồng ông gây lộn, bà vợ nóng giận bèn uống một chén nước tro để tự tử. Ở phương Bắc, nếu bỏ chút nước tro vào sữa đậu nành tức có thể làm đậu hủ, nếu chúng ta dùng một chút nước này trong thức ăn thì không sao, nhưng nếu dùng nhiều là có thể bị độc chết. Vì vậy khi uống nước này xong, bà ta sôi bọt mép, mắt không thấy gì, cũng không thể nói chuyện. Con trai bà nghe nói tôi ở Đông Tỉnh Tử bèn tìm đến tôi.
Chú quỳ dưới đất bên cái kháng (giường bằng gạch) cầu thỉnh tôi cứu mẹ chú. Lúc đó tôi không đáp lời chú, cũng không để ý đến chú. Qua 20 phút sau, chú vẫn còn quỳ ở đó. Vốn là nếu uống nước độc này mà qua 20 phút thì không cách gì cứu được. Tôi thấy chú này rất thành tâm, tôi bèn nhận lời đến nhà chú.
Đến nơi, tôi tụng trì chú Đại Bi, trì tụng khoảng 5 phút, người bất tỉnh nhân sự này, bèn ói ra hết các nước tro đã uống mà không hề gì. Đây là một chứng minh cụ thể của việc trị bịnh bằng chú Đại Bi. Sau khi trải qua sự việc này đã có rất nhiều người trong thôn trì tụng chú Đại Bi.
Ghi chú:
Tỳ Kheo Ni Hằng Phẩm (Tục danh: Quách Ngọc Hà) kể lại: Hàng xóm tôi có một bé gái khoảng 12 tuổi bị bịnh gần chết nên cha mẹ cô ta cho cô ta vào chùa xuất gia. Tôi và cô là bạn thân, tôi thấy vậy cũng muốn theo cô ta cùng xuất gia, nhưng gia đình tôi không cho phép, nói: “Con người ta bịnh đến gần chết như thế mới đưa đi xuất gia, nếu con mà bịnh đến nỗi gần chết giống vậy thì ở nhà cũng sẽ cho con xuất gia thôi!”
Lúc đó tôi được 14 tuổi. Tôi nghĩ mãi: “Tôi làm sao để sanh bịnh đây? Và phải bị bịnh nặng đến sắp chết thì mới có thể xuất gia được.” Đến lúc 16, 17 tuổi (năm 1942, Hòa Thượng 24 tuổi) quả nhiên tôi bị bịnh một trận, phát sốt đến bất tỉnh nhân sự, coi như là chỉ còn chờ chết. Người nhà khiêng tôi ra ngoài nhà kho, vì sợ tôi chết trong nhà thì không tốt. Mỗi ngày mẹ tôi tới thăm coi tôi đã chết chưa.
Hàng xóm hai bên tới xem đều hỏi: “Chết chưa vậy?” “Vẫn còn chưa chết à!” “Còn chưa chết nữa hả? Thật là mang tội!” Lúc đó chẳng có người nào hỏi: “Đã sống lại chưa?” Một ngày nọ, chỉ có mình tôi nằm ở trong nhà kho, không phải là nằm mơ, tôi thấy có một đoàn tu sĩ. Họ đắp y cà sa đi tụng kinh, gõ mõ, đánh khánh, tôi đi theo ở phía sau. Trong số đó có một Thầy quay đầu lại chỉ tôi nói: “Rồi con sẽ hết bịnh, thôi con trở về đi!”
*
Đợi khi mẹ tôi tới thăm tôi, tôi nói: “Con hết bịnh rồi, con muốn xuất gia!” Bà đồng ý. Mẹ tôi thấy tôi đã nói chuyện được, nên bà bảo người khiêng tôi vào trong nhà. Đợi tới khi tôi lành bịnh hẳn, tôi nhắc tới chuyện xuất gia với mẹ tôi, bà không nói gì. Tôi nhắc lại lần nữa, bà nói: “Bởi vì lúc đó con bị bịnh nên nói bậy đó thôi!”
Sau đó dù cho tôi có nói gì đi nữa, bà cũng không đồng ý. Năm 1944 vào thời kỳ “Ngụy Mãn,” phía ngoài vách nhà tôi có một giếng nước, người trong làng sau bữa cơm chiều, họ thường tụ tập lại tán dóc ở bên giếng nước. Tôi trong nhà thường nghe họ ở ngoài nói về Vương Hiếu Tử và Bạch Hiếu Tử thủ hiếu ở mộ phần ra sao, ra sao. Ngoài ra, còn nghe rằng họ muốn tu sửa chùa Tam Duyên.
Tôi chỉ ở trong nhà nghe thôi chớ không được đi ra ngoài. Vì tôi là con gái mà ở ngoài toàn là bọn đàn ông trò chuyện, nên nếu tôi đi ra ngoài sẽ bị mẹ tôi quở trách. Tôi thường ao ước, nếu tôi được lễ bái hai Thầy làm Sư Phụ thì hay biết mấy! Tôi nghĩ như vậy cũng có hơn nửa năm.
Một bữa trưa nọ, mẹ tôi chạy vào phòng nói với tôi: “Ngoài kia có hai Thầy tới, họ đã vào trong nhà rồi.”
Tôi thầm nghĩ: “Chắc không phải Bạch Hiếu Tử, Vương Hiếu Tử đâu?”
*
Tôi ra khỏi phòng xem, thấy một vị trẻ tuổi, cao ốm, mặc y phục rách nát, giày cũng mụt nát; vị kia thì lớn tuổi chừng 70-80 tuổi, không cao, cao khoảng cỡ tôi, mặt có vài vết rỗ, mặc đồ rất cũ nhưng không đến nỗi rách rưới như vị thầy cao kia. Gia đình tôi là một tiểu phú nông, cha tôi không cần phải đi làm. Ngày đó cha tôi đi ra ngoài chơi, tôi vội đi tìm ông về nhà.
Ông bước vô cửa thấy hai vị Thầy bèn chào hỏi: “Từ đâu đến?”
“Tứ Đồn.”
Cha tôi lại hỏi:“Quý danh?”
Mỗi vị nói: “Họ Vương.” “Họ Bạch.”
Tôi vừa nghe đến Tứ Đồn là biết đây nhất định là từ chùa Tam Duyên tới. Lại nghe đến họ Vương, họ Bạch thì hai vị này tất nhiên là Vương Hiếu Tử và Bạch Hiếu Tử rồi. Nghe danh hai người, cha tôi vội vàng cúi đầu đảnh lễ, nhường chỗ ngồi, mời uống trà, rồi cùng chuyện trò, và còn giữ hai vị ở lại dùng cơm.
Cha tôi lại bảo mẹ và chị dâu làm bánh thết đãi hai Ngài. Tôi nhớ bữa đó họ nói về việc tu cất chùa Tam Duyên và cũng nói về Phật pháp. Trong câu chuyện, đa số là Bạch Hiếu Tử nói, còn Vương Hiếu Tử rất ít nói. Đến lúc ra về, cha tôi lại sai anh tôi đánh xe ngựa chở hai Thầy về chùa. Lúc đó gia đình tôi có nuôi hai con ngựa. Cả ngày tôi thường mơ ước được gặp Vương Hiếu Tử, Bạch Hiếu Tử, nay kể ra là đã được gặp rồi!
*
Tôi vui mừng không biết làm sao, vội chạy ra ngoài nói với bà con hàng xóm: “Bạch Hiếu Tử, Vương Hiếu Tử đến rồi, họ đang ở trong nhà tôi đó!” Cho nên có rất nhiều người kéo đến, họ nối tiếp nhau ra vào nhà tôi không ngớt, tôi vui mừng không thể kể.
Lúc đó tôi không có nói chuyện với Bạch Hiếu Tử và Vương Hiếu Tử. Tôi không dám nói, cũng không đủ tư cách để nói. Bởi vì người lớn nói chuyện, không tới phiên con nít xen vào. Sau đó Hòa Thượng thường đến thăm chúng tôi, có lúc Ngài cũng ở lại nhà tôi và ở lại nhiều lắm một hay hai ngày. Mỗi lần tới Ngài đều giảng pháp, trị bịnh. Hàng xóm chung quanh đều đến nhà tôi nghe pháp. Có khi Hòa Thượng cách khoảng lâu không tới, họ đều hỏi chúng tôi: “Bạch Hiếu Tử có tới không, có tới không hả?”
Lúc đó người ta quen miệng gọi Hòa Thượng là Bạch Hiếu Tử. Sau khi quy y xong họ mới gọi là Sư Phụ. Đại Sư Thường Nhân sau đó chỉ ghé qua nhà tôi hai lần. Ngài rất ít ra ngoài, cũng không thâu đệ tử quy y. Lúc Lý Anh Kiệt 12, 13 tuổi, mẹ chú uống nước tro tự tử, chú đã đến nhà tôi cầu xin Hòa Thượng cứu mạng mẹ chú.




Diệu Hoa viết
Nam mô A Di Đà Phật
Thưa thầy, Ngài Tuyên Hóa là bậc Thánh Tăng đại từ đại bi, mọi việc làm ý nghĩ lời nói của Ngài đều làm lợi cho chúng sanh, Ngài là tấm gương sáng trong Phật Pháp…
Đệ tử nghe lời dạy của Ngài hiểu ra rất nhiều,…
Thưa thầy trước kia đệ tử không đến mức giải đãi, nhưng cũng không tinh tấn, cứ ngày nào có công khóa niệm phật 01 lần là được, mọi việc với đệ tử đều tốt. Đến lúc đệ tử tinh tấn niệm phật, lạy phật thì chướng nghiệp ùn ùn kéo đến : bệnh tật, mất tiền vì tin người…. Đệ tử có lúc cũng hơi phiền não : sao mình nhiều niệm phật lạy phật mà nghiệp không bớt, lại đến nhiều hơn. Giờ nghe Ngài dạy mới hiểu ra, chỉ biết gắng nhẫn cho từ từ qua lúc chướng nạn
Cảm ơn thầy rất nhiều, bài viết quá hay giống như Ngài Tuyên Hóa đang giảng pháp
Nam mô A Di Đà Phật
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.
Nghiệp của chúng sanh vô lượng vô biên, trả hết lớp này lớp khác lại hiện ra. Nếu không tu tập thì nhân nào quả đó, trả cho bằng đủ mới thôi, còn như tu tập, trong 10 phần chỉ phải trả một hai. Nếu Phật A Di Đà không lập siêu thế nguyện, chúng ta ở trong thời mạt này ắt vô phương ra khỏi sanh tử. Nay gặp được pháp rồi, gắng an nhẫn mà niệm Phật, rồi đến cũng sẽ đến lúc giông bão đi qua, trời quang mây tạnh.