Hòa Thượng Tuyên Hóa: 43. Chòi rơm rực sáng
Hòa Thượng vì mẹ ở chòi rơm thủ hiếu, gần ngày mãn tang. Vào đầu hôm, dân làng lân cận, hốt nhiên thấy chòi rơm bị cháy, lửa rực sáng bốn phía như ban ngày. Dân làng lo lắng cho sự an nguy của Hòa Thượng, tất tả chạy đi báo tin cho nhau. Đến khi mọi người xách nước cấp tốc tới cứu hỏa, chợt phát hiện chòi rơm không bị cháy và Hòa Thượng vẫn ngồi trong chòi niệm Phật.
Từ đó về sau, số người tín ngưỡng Hòa Thượng ngày càng tăng thêm. Hòa Thượng kể: Lúc thủ hiếu, chỗ tôi ở vốn không bị cháy. Vậy mà có vài lần, người trong thôn lại tưởng bị cháy, họ bèn tới nơi xem thì thấy không có gì! Lúc đó cũng có một lần bị động đất, như vào buổi tối nọ, tôi đang ngồi thiền ở đó. Ngay lúc vô nhân, vô ngã, cái gì cũng không, hốt nhiên tôi cảm thấy có tiếng động rung rinh lắc lư.
*
Tôi nghĩ thầm: “Chuyện gì đây mà khiến cho thân mình chao động như vầy, sức mạnh của ma này quả thật không phải nhỏ!”
Qua ngày thứ hai, có người nói với tôi là có động đất, tôi mới biết đó là do trận động đất. Trận động đất này thật kỳ quái, vì trong giếng đáng lẽ phải trào ra nước; Nhưng kỳ động đất đó, giếng nước chỗ tôi ở lại bốc ra lửa. Thường thì khi nào núi lửa phát khởi mới có lửa, nhưng cái giếng này không phải là núi lửa, mà cũng bốc lửa được. Cho nên trên thế gian này có lắm chuyện kỳ kỳ quái quái.
Tôi tin có người nghĩ rằng: “Thì nhất định ở đáy giếng có chất diêm vàng hay lưu huỳnh tương hợp với núi lửa, cho nên mới bốc lửa ra ngoài đó.” Đây cũng có thể là như vậy.
Hòa Thượng Tuyên Hóa: 44. Giấc mộng kỳ diệu
Trong thời gian thủ mộ, nhiều người bị bịnh đã tới chỗ Hòa Thượng cầu cứu. Họ nghe qua những đức hạnh của Hòa Thượng mà đến quy y tức đều được toại nguyện. Dù tín chúng đến rất đông, nhưng Hòa Thượng không cảm thấy phiền hà. Lúc mãn kỳ thủ hiếu, Hòa Thượng ẩn cư nơi Động Di Đà, phía Đông của khu núi.
Núi nầy là chi nhánh của rặng núi Trường Bạch, rừng rậm sầm uất chim muông mãnh thú rất nhiều, không dấu chân người. Khi đó Hòa Thượng đói ăn rau dại, khát uống nước suối. Thỉnh thoảng Ngài xuống núi mua nhang dầu, đèn cầy v.v…
Có một hôm, lúc Hòa Thượng xuống núi, đi ngang qua trấn Lạp Lâm, thôn Bối Ấm Hà đến nhà Quan Trung Hỉ. Cháu của Quan Trung Hỉ là Quan Chiêm Hải vừa mới gặp Hòa Thượng, anh ta rất đỗi kinh ngạc vì anh ta vừa mới mộng thấy Hòa Thượng hồi tối hôm qua.
Hòa Thượng Tuyên Hóa kể:
Lúc đó Quan Chiêm Hải khoảng 21, 22 tuổi. Một hôm Chiêm Hải nằm mộng thấy tôi đến nhà anh ta, ngồi trên kháng. Anh ta và ông chú bèn quỳ trước mặt tôi, thỉnh tôi dạy họ cách tu hành. Tôi nói: “Anh không thể cầu đạo cũng không thể tu đạo, vì anh đang mang một miếng da oan nghiệt trên người của anh.” Da oan nghiệt (nghiệt bì) tức là nghiệp tội.
*
Trong mộng, anh lại tiếp tục cầu khẩn. Tôi mới lột từ đỉnh đầu anh ra một tấm da rồi quăng xuống đất, thì ra là một lớp da heo! Tôi nói: “Tôi đã lột ra được tấm da nghiệp của anh, vậy bây giờ anh có thể tu đạo rồi đó!”
Anh ta hỏi: “Tại sao trên thân tôi có lớp da heo vậy?”
Tôi nói: “Vì anh cứ mãi ăn thịt heo, nên mới có tấm da heo trên thân anh.”
Anh ta nghe xong sợ hãi, nói: “Làm con heo dơ bẩn đâu có lợi ích gì?” và rồi anh ta tỉnh giấc. Lạ thay, ngày hôm sau tôi đến nhà anh ta.
Anh ta hỏi ông chú: “Chú có quen biết Thầy này không?”
Ông chú đáp: “Biết chớ, lúc Thầy chưa thủ hiếu, chú và Thầy đã quen nhau rồi.”
Người cháu nói với chú rằng: “ Hôm qua con nằm mộng thấy Thầy này đến nhà mình, hôm nay thật là Thầy đã đến!”
Ông chú đáp: “Thật vậy sao? Con nằm mơ thấy gì?”
Anh ta bèn kể cho ông chú là anh ta quỳ trước mặt tôi cầu đạo và tôi đã lột ra một miếng da heo trên thân anh. Chú anh ta nghe xong nói: “Ồ! Vậy là Thầy có đức lắm đấy! Nay Thầy lại ban phước đức đến nhà chúng ta rồi, chúng ta nên cầu đạo với Thầy đi!”
Hai người bèn đến phòng của tôi, họ đóng cửa lại và quỳ xuống cầu đạo, muốn tôn bái tôi làm Sư Phụ. Lúc đó tôi mới 23, 24 tuổi.
*
Tôi nói: “Tôi không thể làm Sư Phụ được vì tôi chẳng có đạo hạnh gì, hơn nữa tôi hiện cũng đang tìm đạo đây!”
Ông ta bảo: “Chúng con biết Thầy là người tu đạo nên nhất định bái Thầy làm Sư Phụ.”
Tôi nói: “Các người đừng gấp, nếu các người muốn tìm Sư Phụ, để tôi giới thiệu cho vài vị thiện tri thức. Rồi các người thấy vị thiện tri thức nào có đức thì theo vị đó mà cầu đạo.”
Do đó tôi dẫn hai người đến gặp Hòa Thượng Thường Nhân và nhiều bậc cao tăng khác. Thế là họ đi khắp nơi tầm đạo được hai năm, nhưng cả hai đều không vừa ý vị Thầy nào hết. Đi đến đâu họ cũng không muốn quy y, cũng không chịu bái ai làm Sư Phụ. Từ chú đến cháu nhất định muốn tôn bái tôi làm Sư Phụ của họ.
*
Hỏi: Vì sao có nhiều người trước khi gặp Hòa Thượng họ đã mộng thấy Hòa Thượng rồi? Phải chăng họ đã có duyên với Hòa Thượng từ kiếp trước? Hay là Hòa Thượng phóng hào quang khiến cho họ mộng thấy Hòa Thượng?
Đáp: Tôi không có nhiều hào quang và cũng không có nhiều xăng dầu để phóng quang như vậy. Đó đều là tiền nhân hậu quả! Vì có nhân duyên thâm sâu nên mới nhớ đến nhau và các duyên xưa kia mới hiện ra. Có nhiều người gặp tôi rất vui mừng nhất là các em bé. Tôi dạy các em làm gì chúng nó đều làm theo.
Lúc ở Đông Bắc, có một số thanh niên không ai dạy họ cúi đầu lạy Phật. Nhưng khi gặp tôi, họ cũng biết cúi đầu và lễ Phật. Có người gặp tôi lại khóc, có người gặp tôi rất mừng rỡ. Tôi hỏi họ tại sao họ khóc? Họ nói, họ có cảm giác như họ và tôi thất lạc lâu ngày, ở ngoài chịu nhiều uất ức.
Nay gặp tôi, họ giống như được về bên cha mẹ nên xúc động không cầm được nước mắt, rồi khóc một hồi để xả bỏ bao nỗi ấm ức trong lòng. Ở đây có rất nhiều rất nhiều tình cảnh không giống nhau, nhưng tôi cũng không muốn nói cho quý vị nghe. Vì nếu quý vị biết được, quý vị cũng sẽ khóc thôi!
Hòa Thượng Tuyên Hóa: 45. Đạo sĩ Luyện kiết già
Ngồi kiết già là công phu cơ bản của việc tu hành khiến dễ nhập định. Lão Quan Trung Hỉ vì trời sanh có xương đầu gối lớn, nên ngồi kiết già rất khó khăn. Nhưng ông ta chân thành muốn liễu sanh thoát tử nên cuối cùng cũng luyện tập thành công, vượt qua thử thách này.
Hòa Thượng Tuyên Hóa kể:
Lúc đó tôi còn là Sa Di nên không muốn thâu đệ tử. Nhưng hai chú cháu Quan Trung Hỉ đã quỳ trước mặt tôi không chịu đứng dậy. Tôi nói: “Tôi không có đạo, tôi chỉ có thể dạy cho hai người một phương pháp tu hành là ngồi kiết già. Trước hết hai người thử xem, coi mình có thể ngồi kiết già không? Và hai vị luyện cho tới khi nào ngồi mà chân không còn đau nữa thì tôi sẽ dạy tiếp.”
Xong, tôi dạy hai chú cháu cách ngồi kiết già. Người cháu ngồi được, còn người chú vì lớn tuổi, đầu gối lại là một đốt xương lớn; Nên lúc ngồi kiết già, hai đầu gối ông nhổng cao cách mặt kháng đến cả nửa thước ta. Tôi dạy họ luyện tập cách ngồi này rồi bèn ra về.
*
Đợi đến hơn 70 ngày sau, tôi lại đến nhà Quan Trung Hỉ. Đầu gối của ông vốn rất lớn, nay lại bị sưng vù lên gấp hai, gấp ba lần, nên không thể bước đi được.
Tôi nói: “Ông sao vậy? Nay ông có còn ngồi kiết già nữa không?”
Ông ta đáp: “Thưa có! Tôi luyện ngồi kiết già, luyện đến nỗi đầu gối sưng lớn như vậy. Hiện không đi được, cũng không bước qua được cả vết bánh xe. (Ở phương Bắc lúc xe sắt chạy, bánh xe vạch ở dưới đất một vết rộng khoảng hai tấc.) Ngay cả ngạch cửa cũng không thể bước qua được!”
Trông thấy ông ta khó khăn đến thế, tôi liền nói : “Ông làm như vậy đau đớn quá đi, thôi đừng luyện nữa, ông ngưng tập được rồi!”
Ông ta đáp: “Trừ khi tôi chết tôi mới không tập luyện, nếu như tôi không chết, dù chân có sưng đến đâu, tôi cũng quyết luyện tập. Tu hành nếu không nhẫn chịu được sự đau khổ thì làm sao tu hành? Ngay cả luyện kiết già cũng luyện không được, như vậy tôi còn tu đạo gì nữa đây? Tôi nhất định phải luyện cho thành công!”
Tôi nói: “Hiện nay chân của ông bị sưng như vậy, ông chịu không nổi đâu.” Ông nói: “Chịu không nổi, chịu không nổi, thì càng phải ráng chịu!”
*
Tôi nghe ông ấy nói cũng có chút khí khái! Tôi bèn nói: “Tôi mặc kệ ông, tùy ý ông, nếu ông không sợ chết, thì cứ luyện đi!”
Sau đó tôi đi về. Qua một trăm ngày sau, tôi lại đến nhà ông. Lúc bấy giờ ông có thể đi được, đầu gối cũng không sưng nữa.
Tôi lại hỏi: “Hiện nay phải chăng ông không còn luyện ngồi kiết già nữa?”
Ông ấy đáp: “Còn chứ! Sau khi Thầy đi, tôi tiếp tục ngồi kiết già, chân từ từ bớt sưng và cũng hết đau luôn. Hiện tôi có ngồi bao lâu đi nữa đầu gối cũng không đau, không sưng.”
Tôi nói: “Vậy thì tốt quá rồi!”
Kế đó tôi dạy ông ta phương pháp ngồi thiền. Ông ta rất đỗi vui mừng. Về sau, ông ta ở nhà mỗi ngày đều ngồi thiền tu hành. Tu được 5 năm, ông ta biết trước được ngày giờ mình lâm chung, nên bảo với người nhà rằng:
“Còn 3 tháng nữa, ngày tháng giờ đó, tôi muốn đi. Hiện tôi chỉ còn một điều duy nhất không xả được là không được gặp Sư Phụ. Nếu tôi gặp được Sư Phụ thì tôi vui mừng nhất, nhưng bây giờ tôi không biết Sư Phụ đang ở đâu? Tất cả các việc khác tôi đều buông xả hết cả rồi, chỉ có một việc này là tôi chưa mãn nguyện mà thôi!” Đến ngày giờ đó, ông tự ngồi kiết già vãng sanh, mà cũng không có bịnh đau gì.
*
Tối hôm đó, ở trong thôn có rất nhiều người nằm mơ thấy có hai vị Đồng Tử mặc áo xanh, tiếp dẫn ông vãng sanh Tây phương. Đây là chuyện mà sau này vợ ông ta kể lại cho tôi nghe. Tuy ông là một ngoại đạo, nhưng biết tìm cầu chánh pháp. Ông đã không sợ khổ, cũng chẳng sợ đau, thà chết cũng phải tu hành, phải luyện ngồi kiết già cho bằng được.
Kết quả là ông đã được thành công. Nếu như lúc chân ông bị sưng, ông không luyện tập nữa, thì tin rằng ông sẽ không có thành tựu này. Cho nên chúng ta tu đạo phải nhẫn sự đau khổ, mới luôn được sự khoái lạc vô cùng. Nếu các vị không nhẫn sự đau khổ tạm thời, các vị sẽ không được sự an vui vĩnh cửu. Quan Trung Hỉ là tấm gương cho chúng ta noi theo. Nếu chúng ta chân chánh muốn được định, được trí huệ, thì nhất định phải hy sinh cái đau đớn nhất thời, có vậy mới được thành tựu và khoái lạc vĩnh viễn




Diệu Hoa viết
Nam mô A Di Đà Phật
Thưa thầy, Ngài Tuyên Hóa là bậc Thánh Tăng đại từ đại bi, mọi việc làm ý nghĩ lời nói của Ngài đều làm lợi cho chúng sanh, Ngài là tấm gương sáng trong Phật Pháp…
Đệ tử nghe lời dạy của Ngài hiểu ra rất nhiều,…
Thưa thầy trước kia đệ tử không đến mức giải đãi, nhưng cũng không tinh tấn, cứ ngày nào có công khóa niệm phật 01 lần là được, mọi việc với đệ tử đều tốt. Đến lúc đệ tử tinh tấn niệm phật, lạy phật thì chướng nghiệp ùn ùn kéo đến : bệnh tật, mất tiền vì tin người…. Đệ tử có lúc cũng hơi phiền não : sao mình nhiều niệm phật lạy phật mà nghiệp không bớt, lại đến nhiều hơn. Giờ nghe Ngài dạy mới hiểu ra, chỉ biết gắng nhẫn cho từ từ qua lúc chướng nạn
Cảm ơn thầy rất nhiều, bài viết quá hay giống như Ngài Tuyên Hóa đang giảng pháp
Nam mô A Di Đà Phật
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.
Nghiệp của chúng sanh vô lượng vô biên, trả hết lớp này lớp khác lại hiện ra. Nếu không tu tập thì nhân nào quả đó, trả cho bằng đủ mới thôi, còn như tu tập, trong 10 phần chỉ phải trả một hai. Nếu Phật A Di Đà không lập siêu thế nguyện, chúng ta ở trong thời mạt này ắt vô phương ra khỏi sanh tử. Nay gặp được pháp rồi, gắng an nhẫn mà niệm Phật, rồi đến cũng sẽ đến lúc giông bão đi qua, trời quang mây tạnh.