Hòa Thượng Tuyên Hóa – Cuộc đời & Đạo nghiệp linh dị, kỳ đặc bậc nhất!

Hòa Thượng Tuyên Hóa là hóa thân của đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Cuộc đời vào đạo nghiệp của Ngài là niềm cảm hứng bất tận cho bất kỳ ai đang tìm đường thoát khỏi sanh tử luân hồi. Từ ngày Ngài theo bản nguyện độ sanh xuất thế cho đến khi nhập Niết Bàn là vô số những câu chuyện độ sanh thần dị. Từ hàng ma, phục quái cho đến những yêu mị ngàn năm…đều bị ân đức của Ngài hàng phục.

Hòa Thượng Tuyên Hóa
Hòa Thượng Tuyên Hóa

Tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần tự truyện của Ngài. Nhận thấy sẽ lợi lạc rất nhiều cho người học Phật nên mạo muội đăng lên đây. Nguyện người đọc hữu duyên cảm được sự vô thường của kiếp sống nhân sinh mà phát tâm xuất thế. Rồi hoặc tụng kinh, hoặc trì chú, hoặc niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc mà thoát khổ, vĩnh viễn ra khỏi nhà lửa Tam giới…!

Cuộc đời và Đạo nghiệp của Hòa Thượng Tuyên Hóa

1. Đản Sanh trong Hào Quang

Tối ngày 15 âm lịch tháng 3,năm 1918, bà Bạch Hồ Thị mộng thấy đức Phật A Di Đà phóng quang sắc vàng sáng chói. Khi tỉnh giấc, bà nghe có mùi hương kỳ diệu và không lâu sau Hòa Thượng ra đời. Lúc bấy giờ là ngày 16 tháng 3 giờ Tý. Mới sanh ra, Hòa Thượng khóc luôn ba ngày liền, chắc vì lòng thương xót chúng sanh nên Ngài mới tới thế giới Ta Bà đầy khổ nạn này. 

Hòa Thượng Tuyên Hóa kể: Tôi sanh ra trong một gia đình nghèo túng. Cả nhà có một thửa ruộng nhưng chỉ đủ nuôi sống gia đình trong một năm. Tôi không thể nào đi học sớm, bởi vì cả nhà phải đi làm mướn mới có cơm ăn, đây cũng giống như là đi xin ăn vậy. Cho nên lúc nhỏ tôi gọi mình là “Khất sĩ” tức ăn xin.

Nhớ lúc tôi được 11, 12 tuổi, có lần tôi cùng lũ bạn ra vùng ngoại thành chơi đùa. Tôi thấy ở khu đất hoang có một đứa bé bị bó trong rơm nằm đó, mắt nó nhắm kín và cũng chẳng có hơi thở. Tôi chưa bao giờ thấy qua sự việc này nên cứ tưởng là đứa bé đang ngủ. Tôi bèn kêu nó thức dậy để chơi với chúng tôi. Có đứa nhỏ khác nói: “Nó chết rồi, anh kêu nó để làm gì?”

Lúc đó tôi cũng không biết cái gì gọi là chết, tôi cũng rất ngại ngùng để hỏi chúng bạn. Sau đó tôi về nhà hỏi mẹ tôi: “Tại sao đứa bé đó lại chết? Con không hiểu gì về cái chết này?”

Hòa Thượng Tuyên Hóa: Lần đầu biết cái chết

Các vị thấy đó, kiến thức tôi có hẹp hòi, nông cạn không? Vì đã hơn mười mấy tuổi đầu rồi mà tôi còn không hiểu thế nào gọi là chết, cũng đủ biết rằng cái người này rất ít tiếp xúc qua lại với người ngoài. Sau khi nghe tôi hỏi, mẹ tôi trả lời rằng: “Chết à! Ai ai cũng đều phải chết, nhưng chẳng qua là chết sớm hay chết muộn, hoặc có khi chết già, chết trẻ, cũng có khi chết lúc trẻ thơ rồi người ta bó rơm đem bỏ ở ngoại thành. Có người chết vì tuổi già, hay chết vì bịnh tật, có nhiều cách chết không giống nhau.” 

Tôi cảm thấy con người sanh ra rồi tức nhiên phải chết, vậy sống đây để làm gì? Chẳng có ý nghĩa gì cả! Tôi lại hỏi: “Con người có thể nào không chết được không? Chúng ta làm sao mới khỏi phải chết. Con cảm thấy cái chết chẳng có nghĩa lý gì.” Mẹ tôi không biết nói làm sao để trả lời câu hỏi của tôi.

Đang lúc đó, có người bà con tên là Lý Lâm, nghe tôi hỏi vậy, ông bèn nói: “Con muốn không chết à ! Vậy thì dễ thôi!” 

“Dễ ra sao?”

 “Hãy xuất gia tu đạo, làm Hòa Thượng thì tu thành Phật; hoặc làm đạo sĩ (đạo Lão) thì tu thành tiên, như vậy sẽ không chết đâu.” Lúc đó tôi không muốn chết và cảm thấy chết chẳng có ý nghĩa gì. Sanh ra rồi chết, chết rồi lại sanh, đâu có gì vui thú? Không có ý nghĩa gì hết. Nhưng tu đạo thì có thể khiến cho người ta không chết.

*

Tôi luôn ghi nhớ câu nói này và nghĩ, vậy là mình có lối thoát rồi. Kể từ lúc đó, tôi phát tâm muốn xuất gia, nên bàn với mẹ tôi, xin được xuất gia tu đạo. Nghe tôi muốn xuất gia, mẹ tôi rất vui mừng nhưng cha tôi lại chau mày. Mẹ tôi nói:

“Con xuất gia là việc tốt, mẹ không ngăn cản con, mẹ không phản đối chuyện con muốn xuất gia. Nhưng bây giờ con khoan hãy xuất gia, đợi khi mẹ chết rồi thì con muốn sao cũng được. Mẹ còn sống thì con nên ở nhà với mẹ, chớ vội xuất gia, vì trên thế giới không có vị Phật nào bất hiếu, cũng như không có vị Bồ Tát nào bất hiếu cả.”

Mẹ đã cho phép tôi xuất gia nhưng không phải xuất gia ngay tức thời, nên đây chỉ là vấn đề thời gian mà thôi! Thế là tôi phải chờ đợi, rồi ở nhà ăn chay, niệm Phật và học tập Phật pháp.

Hòa Thượng Tuyên Hóa: Mộng thoát đường hiểm

Năm Hòa Thượng 12 tuổi, vào ngày 19 tháng 2 âm lịch, nhầm ngày đản sanh Bồ Tát Quán Thế Âm. Đêm đó Ngài mơ thấy mình đi đến một con đường hầm, bốn bề mờ mịt, Ngài trực nhớ tới ý nguyện xuất gia tu hành của mình chưa được mãn nguyện, còn việc hiếu kính cha mẹ cũng chưa tròn, Ngài mũi lòng khóc lớn. Đột nhiên có một bà lão hiền từ, mang xâu chuỗi, mặc áo vá, cầm gậy trúc, chân mang giày rơm hiện ra trước mặt.

Bà Lão mĩm cười với Hòa Thượng nói: “Đừng khóc nữa! Hãy đi theo ta, ta sẽ dẫn con về nhà. Nhớ đi cẩn thận coi chừng bị vấp té đấy!”

Thế là Hòa Thượng đi theo Bà Lão, chẳng mấy chốc ra khỏi con đường hầm nguy hiểm. Khi quay đầu nhìn lại con đường hiểm nguy đó, Hòa Thượng phát hiện có rất nhiều người đang đi theo sau, gồm cả già, trẻ, nam, nữ, Tăng sĩ, hay Nho nhã đều có hết.

Hòa Thượng bèn hỏi Bà Lão: “Các người này đi đâu vậy?”

Bà Lão nói: “Các người đó có duyên với con, họ đi theo con để thoát ra khỏi con đường nguy hiểm đó. Con phải cố gắng bảo hộ họ cho đàng hoàng! Ta có chuyện phải đi chỗ khác, không lâu sau chúng ta sẽ gặp lại.”

*

Trong mộng Hòa Thượng đảnh lễ và thỉnh hỏi danh tánh của Bà Lão. Bà Lão nói: “Chúng ta nhiều đời đều là bạn bè đồng hương với nhau, về tới nhà rồi con sẽ biết!”

Nói xong Bà Lão nhẹ nhàng lướt đi mất. Mộng này có thể là điềm báo trước Hòa Thượng sau này sẽ phổ độ chúng sanh. Hòa Thượng Tuyên Hóa kể: Lúc tôi còn nhỏ, có lần mộng thấy mình đi vào một con đường giống như là cái nia có nhiều lỗ hổng, không biết những lỗ hổng đó sâu bao nhiêu nữa. Con đường đó cũng giống như màng lưới vậy. Nếu đi trên lưới ấy không cẩn thận sẽ bị rơi xuống những lỗ hổng ngay!

Tôi đi trên con đường đó cho đến chỗ không còn hầm hố, không còn lỗ hổng nửa là tới con đường lớn thênh thang bằng phẳng. Tôi bèn quay đầu nhìn về phía sau thì thấy không biết là bao nhiêu người đang đi theo tôi! Già, trẻ, loại người nào, người nước nào cũng đều có hết. Không biết đó phải chăng là con đường tôi hiện đang dấn thân hay không nữa?

Hòa Thượng Tuyên Hóa: Nhân duyên lễ lạy

Lúc Hòa Thượng 12 tuổi, bỗng nhiên Ngài tỉnh ngộ, rồi mỗi ngày Ngài đều đảnh lễ cha mẹ để tỏ lòng sám hối. Sau đó, Ngài từ từ tăng lên đến 837 lạy. Mỗi buổi sáng Ngài lạy một lần, chiều lạy một lần và lạy cho đến lúc thủ hiếu bên mộ mẹ. Hòa Thượng tự đem thân mình thực hành để dạy dỗ, và dùng lời nói để giáo huấn, khích lệ chúng đệ tử nên xem cha mẹ như Phật sống trên bàn thờ. Bởi vì bổn phận của người Phật tử là phải coi trọng chữ hiếu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa: Tầm sư học đạo

Lúc 11 tuổi Hòa Thượng đã chứng kiến cảnh tử vong nên thường nghĩ: “Phải làm sao để không chết đây?” Sau khi nghe lời chỉ dạy rằng, tu đạo mới có thể không chết; tức là nếu muốn liễu thoát sanh tử tất phải có minh sư chỉ giáo. Sau khi trình rõ ý định mình cho cha mẹ nghe, Ngài đi ra ngoài tìm Thầy cầu pháp. Hòa Thượng Tuyên Hóa kể:

Tà môn ngoại đạo không cứu cánh

Lúc nhỏ tôi đã bị thất học vì không nhận được sự giáo dục. Trước khi xuất gia, tôi đi khắp nơi tìm cầu phương pháp liễu sanh thoát tử. Thời đó ở phương Bắc có rất nhiều tà môn ngoại đạo và tôi cũng đã từng gia nhập các ngoại đạo đó, cho nên tôi cũng biết được một số pháp ngoại đạo của họ. 

Ví như ở phương Bắc có một loại ngoại đạo gọi “Lý Môn” mà môn đồ không niệm gì ngoài câu “Ngũ tự chân ngôn.” Vị lãnh tụ tối cao ngồi trên pháp tòa, gọi là “Lãnh Chánh”, hai người ngồi hai bên gọi là “Bang Chánh”. Ba người ngồi ở đó, giống như chủ lễ đại pháp hội phóng “Diệm Khẩu” cho quỷ thần vậy. Trong lúc mọi người đảnh lễ vị “Lãnh Chánh,” ông ta tâm niệm “Nam Mô hắc ra đát na đa ra dạ da,” và chỉ niệm một câu này thôi. Đó là pháp “Lý Môn.” 

Ông ta truyền cái gì cho tín đồ? Truyền một pháp bí mật. Ông ta bảo họ đưa tay ra, rồi viết trong lòng bàn tay họ năm chữ “Quán Thế Âm Bồ Tát.” Từ đó họ phải nhớ kỹ, phải niệm thầm trong tâm “Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát …” chớ không được niệm ra tiếng. Đây gọi là “Ngũ tự chân ngôn.”

*

Sau đó ông ta bảo họ “ngậm miệng dấu lưỡi, để đầu lưỡi nơi hàm trên, tâm luôn niệm, pháp hiện trong ý căn.” Đây là loại pháp bí mật, mật đến độ “cha không được trao cho con, cũng như chồng không được truyền cho vợ.”

Điểm đặc sắc chủ yếu của “Lý Môn” là không uống rượu, không hút thuốc. Cho nên gọi là “Hội cấm thuốc và rượu”, còn gọi “Tại lý công sở.” Trong khoảng 100 năm nay, Trung Quốc rất thịnh hành loại ngoại đạo này. Ngoại đạo này dựa vào đâu? Chính là câu “Nam Mô hắc ra đát na đa ra dạ da.” Bởi lúc trước tôi có tham dự qua nên mới biết.

Tôi cũng tham gia lễ Mét (Mass) của Thiên Chúa giáo và các thánh lễ của Giê Su giáo. Tôi cũng nghiên cứu về Khổng giáo, Đạo giáo, Phật giáo, Hồi giáo, cũng như đi các nơi nghiên cứu về giáo nghĩa của những tôn giáo này.

Vì nghe pháp, không ăn không ngủ

Lúc tôi 13, 14 tuổi, có người giảng Kinh Địa Tạng cách nhà tôi khoảng 5 dặm đường, nên mỗi ngày tôi đều đến nghe. Thời đó không phải ngồi xe mà phải chạy bộ, đi và về cũng mất khoảng một tiếng đồng hồ. Tuy đường xa như vậy, tôi vẫn đi nghe mỗi ngày.

Vị Pháp Sư giảng kinh, có khi nói sai chữ, giống như “đài phong tập (㽆  cảng” là gió bão tập (kích) hải cảng, Sư nói “đài phong long (啡) cảng” tức gió bão long (rồng) hải cảng. Vậy, mà tôi chuyên nghe người không biết giảng kinh. Sư giảng càng không hay, tôi lại càng muốn nghe. Ai mà giảng hay thì tôi không nghe. Tại sao tôi chỉ muốn nghe “cái không hay”? Vì ngay trong cái “không hay” đó, ta mới tìm ra được cái hay, đó mới chính là đạo vậy!

Hồi đó, tôi chỉ cần được nghe giảng kinh, cho dù không ăn, tôi cũng không thấy đói; không ngủ cũng không thấy mệt, tâm tư lúc nào cũng nghĩ tới lời dạy trong kinh. Tôi nghe kinh, không phải lúc giảng mới nghe, rồi quên hết khi rời khỏi giảng đường. Tôi thì “niệm tư tại tư,” luôn thường nghĩ đến đạo lý trong kinh. Thường tự hỏi, phải chăng mình có thể làm được như thế?

*

Phải chăng mình có thể làm theo các đạo lý như vậy? Tôi luôn nhiếp thâu lời giảng đó vào thân tâm mình để có thể áp dụng được, đó mới thật là nghe kinh vậy!

Nhớ lúc còn nhỏ, khi nghe kinh xong trở về nhà, tôi vẫn còn nghe văng vẳng bên tai lời giảng kinh của Pháp sư và tôi suy ngẫm hoài về các đạo lý trong buổi giảng kinh đó; thậm chí trải qua mấy ngày sau mà tôi vẫn còn nghe được lời giảng.

Cho dù không có Pháp sư giảng kinh thuyết pháp, tôi chỉ cần ngồi tĩnh lặng là cũng nghe trong hư không có rất nhiều Pháp sư đang giảng kinh thuyết pháp, đồng thời có thể nghe đến cả mấy trăm vị thuyết pháp luôn, hơn nữa tôi có thể nhớ lại rất rõ ràng. Tại sao tôi lại như vậy? Vì tôi chuyên tâm nhất trí, “niệm tư tại tư”, nhất tâm muốn nghe kinh học pháp. Đây là cảnh giới nghe kinh lúc xưa của tôi.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *