Hòa Thượng Tuyên Hóa: 74. Hãng dầu Lữ Ký
Vào mùa Thu năm Dân Quốc thứ 33 (1944), lúc bấy giờ tình thế ở miền Đông Bắc rất hỗn loạn vì khắp nơi bị truyền nhiễm bịnh ôn dịch và đã có vô số người chết vì bị nhiễm bịnh dịch này. Hòa Thượng bèn dẫn đệ tử đi chung quanh thôn làng kiền thành tụng trì Chú Đại Bi, âm thầm hóa giải nạn ôn dịch ở đấy.
Hòa Thượng Tuyên Hóa kể:
Mùa thu năm Dân Quốc thứ 33, khu hãng dầu Lữ Ký đã gây xáo động vì bịnh dịch lan tràn. Loại bệnh truyền nhiễm này gọi là bịnh ôn dịch. Người bị ôn dịch thì hoặc một giờ đồng hồ, hoặc một ngày, tối đa không quá ba ngày là có thể chết. Tại hãng dầu Lữ Ký có một gia đình 11 người, trong ba ngày mà bị bịnh chết đến 13 người. Trong nhà họ có 11 người, vậy cớ sao lại chết đến 13 người như thế?
*
Vì trong nhà đó có một người làm công cũng cùng chết theo họ và thêm vào nữa là một người bà con tới nhà họ thăm viếng cũng bị bịnh ôn dịch chết luôn. Các nhà họ Trương, họ Vương, họ Lý, họ Triệu, số người chết thì lại càng không biết là bao nhiêu. Bởi tôi quen với gia đình họ Lữ này nên mới biết được nhà ông ta trong vòng ba ngày đã chết đến 13 người. Trong lúc ấy, người ta thấy có rất nhiều ma quỷ. Hễ xóm nào có bịnh ôn dịch, thì xóm nấy có quỷ!
Vừa thấy qua cảnh trạng này, không cần phải đợi người ta đến tìm, tôi bèn dẫn theo vài chú đệ tử đến đó. Rồi chúng tôi thành tâm trì tụng chú Đại Bi ở chung quanh xóm ấy. Tôi dẫn bốn chú đệ tử nhỏ, đại khái là 13, 14 cùng 14, 15 tuổi. Các chú tiểu đệ tử này rất thanh tịnh, trong tâm không có vọng tưởng, tạp loạn nên các chú theo tôi làm hộ pháp đến mỗi xóm đuổi ma quỷ đi.
Lúc đó tôi cũng không biết dùng phương pháp gì khác hơn là chú Đại Bi, và chúng tôi vừa trì chú vừa đi quanh xóm đó ba vòng. Kỳ quái thay! Xóm này không còn bịnh ôn dịch nữa và những người bịnh không thuốc men gì cũng hết bịnh, không bị chết. Lúc đó, không ai biết chúng tôi đã làm gì, chúng tôi cũng không nói cho ai nghe, cho nên đây có thể xác nhận là thật có quỷ.
Hòa Thượng Tuyên Hóa: 75. Chặt tay cứu mẹ
Cao Đức Phúc lúc hơn 20 tuổi, nhân mẹ chú bị bịnh, chú rất nóng lòng nên đến chùa Tam Duyên chuẩn bị chặt tay cầu mong đức Phật xót thương khiến cho mẹ chú mau lành bịnh. Hòa Thượng vì cảm động lòng hiếu thảo của chú, Ngài đích thân đến đồn Đại Nam Câu trị bịnh cho mẹ chú…
Hòa Thượng Tuyên Hóa kể:
Tại đồn Đại Nam Câu cách chùa khoảng 18 dặm đường, có một người tên là Cao Vạn Phong. Vợ ông hút thuốc phiện, về sau bà ta bị bịnh nằm liệt giường và bà bịnh đến nỗi không còn hơi sức để hút thuốc phiện nữa. Môi miệng bà đều khô cứng như bị lửa thiêu đốt. Đầu lưỡi bà cũng đen thui, 7, 8 ngày qua bà đã không ăn uống gì.
Con bà là Cao Đức Phúc khoảng 20 tuổi, vì muốn cứu mẹ, chú âm thầm phát nguyện đến chùa Tam Duyên chặt tay trước bàn Phật. Chú nghĩ tưởng đem lòng thành của mình cầu Phật Bồ Tát bảo hộ cho mẹ chú. Vào đầu tháng tư, nhân ngày lễ Phật Đản, tắm Phật, có rất nhiều người tới chùa Tam Duyên lễ Phật. Đến lúc trưa khoảng hơn 1 giờ, Cao Đức Phúc đem theo con dao bao bọc giấy báo ở ngoài rồi đến chùa. Chú thắp nhang trước bàn Phật xong, bèn quỳ trước bàn Phật, mở giấy báo, lấy ra con dao ra tính chặt cánh tay trái của mình.
*
Những người chung quanh thấy được vội chụp giữ cánh tay phải của chú lại, nói: “Chú muốn làm gì đây? Chú làm gì vậy?” Chú nói mẹ chú bị bịnh, trị sao cũng không hết, chú muốn chặt tay mình để bày tỏ lòng thành, mong Bồ Tát gia hộ cho mẹ chú được sống thêm vài năm nữa. Thường thì người ta đều tôn kính Hòa Thượng phương trượng của chúng tôi như Bồ Tát sống, Phật sống.
Lúc bấy giờ có một vị cư sĩ tên Lý Cảnh Hoa là vị thân tín nhất của Hòa Thượng phương trượng. Ông nghe nói tình trạng của chú ta như vậy, bèn dẫn chú đi gặp Lão phương trượng. Lý Cảnh Hoa nói: “Hòa Thượng phương trượng từ bi! Xin Ngài hãy giúp đỡ cho chú!”
Lão phương trượng nói: “Giúp đỡ, nhất định là phải giúp đỡ rồi! Ông mau đi gọi thầy An Từ tới đây.”
Hòa Thượng phương trượng bảo Lý Cảnh Hoa đến tìm tôi và tôi bèn đi gặp Hòa Thượng phương trượng. Tôi tới phòng của phương trượng, sau khi đảnh lễ phương trượng xong, tôi đứng qua một bên. Tôi nói: “Bạch Hòa Thượng phương trượng, Thầy cho gọi con có chuyện gì ạ?”
Hòa Thượng phương trượng lấy tay chỉ chú ta, nói: “Chú này rất hiếu thuận, vì cứu mẹ mà muốn chặt tay mình đó.”
Tôi nói: “Chặt một tay hả? Hay là chặt cả hai cánh tay?
“Đều không có chặt cánh tay nào hết!”
Tôi tiếp: “Vậy sao gọi là chặt tay được? Vốn là không có chặt tay mà!”
*
Hòa Thượng phương trượng không có biện tài gì, chỉ nói: “Họ đã cản không cho chú nó chặt đó! Con tội nghiệp, tội nghiệp cho chú ta mà đi cứu cho mẹ của chú đi!”
Tôi nói: “Người ta tới tìm Thầy, chớ đâu không phải kiếm con, sao Thầy lại muốn con giúp đỡ chớ? Con không biết gì chuyện này à!”
Hòa Thượng phương trượng nói: “Cái gì mà gọi là tìm thầy, tìm con hả, con giúp được thì hãy giúp cho chú ta một chút đi, con không thấy chú ta thành tâm như vậy sao?”
Tôi nói: “Thầy không thể cứ kiếm chuyện cho con hoài, làm con phiền phức thêm như vậy!”
Hòa Thượng phương trượng nói: “Con làm được mà! Nếu làm được thì con hãy đi giúp người ta đi, để kết cái mối thiện duyên và phát cái tâm từ bi đi mà!”
Lúc đó tôi còn trẻ, nhưng tôi cũng không muốn xía vào chuyện người khác, nên tôi nói với chú Cao Đức Phúc rằng: “Tôi không có cách gì hết, thôi chú hãy đi về đi.”
Tuy tôi nói vậy, nhưng chú ta vẫn quỳ ở đó. Thật ra là chú ta muốn cầu cứu tôi, nếu tôi không đi thì cũng vậy thôi! Tuy bề ngoài tôi ra vẻ không để ý đến chú ta, nhưng tôi đã hồi hướng cho chú ta, đã giúp chú giải quyết về vấn đề của mẹ chú rồi. Vậy mà chú ta nào có biết, nên vẫn quỳ ở đó khóc lóc. Tôi cảm thấy lòng hiếu thảo của chú ta cũng có chút thành tâm đấy.
*
Tôi bèn nói với Cao Đức Phúc: “Để thử coi, hay là để tôi tới nhà chú xem sao, chú về trước đi!”
Cao Đức Phúc nói: “Thầy biết đường không?”
Tôi nói: “Mặc kệ tôi, chú cứ việc tự mình đi về nhà trước là được rồi!”
Nhà chú ta cách chùa tôi cũng có tới 7, 8 dặm, chú ta đạp xe đạp đi trước, còn tôi thì đi đường nhỏ sau. Khi tôi đến nhà chú là đã 5 giờ chiều rồi mà chú ta vẫn chưa về đến nhà. Người nhà của chú không biết tôi, ngăn không cho tôi vào nhà, nói: “Nhà chúng tôi có người bịnh, không có tiền, xin Thầy đừng tới đây quyên góp.”
Người xuất gia đi đến chỗ nào, thường thì người ta thấy đều chán ghét, đều nói: “Chúng tôi không có tiền, Thầy đừng tới quyên góp.” Cho nên tôi nói: “Dù chết cũng không hóa duyên,” là do nhân duyên này. Các vị khó mà nghĩ ra lúc xưa tôi đã gặp qua biết bao là cảnh trạng như vậy.
Tôi nói với họ: “Tôi không phải tới để quyên tiền của các người đâu! Trong nhà các vị đã có người đến chùa chúng tôi muốn chặt tay mình đó, các vị có biết không? Nay tôi tới đây để gắn lại cánh tay cho người đó đấy.”
Họ nghe vậy mới cho tôi vào nhà, vào trong tôi ngồi trên kháng đó, nhưng cũng không có ai để ý đến tôi. Qua khoảng 5 phút sau, chú ta mới về đến nhà.
*
Thấy tôi, chú ta kinh ngạc hỏi: “Sao Thầy lại tới trước con thế? Thầy đi xe gì tới vậy?”
Tôi nói: “Tôi chạy bộ tới đó!”
“Thầy chạy sao mà nhanh vậy?”
Tôi nói: “Chú đi đường lớn, tôi đi đường nhỏ, dĩ nhiên là đi mau hơn chú rồi!”
Chú lập tức gọi cả nhà tới cúi đầu đảnh lễ tôi. Lúc đó tôi không mang giày, cũng không mang vớ, họ đều cảm thấy tôi rất đặc biệt. Tôi lấy giấy vàng ra viết một trang sớ cho Diêm Vương. Sớ nói rằng: “Tôi là ai, hiện tại tôi tên gì gì tại nhà của người họ gì gì, nhà số mấy mấy. Bởi vì mẹ của chú ta bị bịnh, nên chú tới chùa muốn chặt tay mình cúng Phật. Tôi nay thỉnh Diêm Vương đặc biệt khai ân, nhất định phải thả cho người này trở về; nếu không thả cho về, tôi sẽ không khách sáo với Ngài đâu!”
Cả nhà của chú rất thành tâm quỳ dưới đất, đợi tôi đem đốt tờ sớ đó rồi, mọi người mới đi ngủ nghỉ. Còn người bịnh này thì vẫn bất tỉnh nhân sự. Sáng sớm ngày thứ hai, người bịnh đã 7, 8 ngày không ăn, không uống, không nói chuyện, cũng không mở mắt, bỗng tự mình ngồi dậy trên kháng, gọi: -Cát Tử! Cát Tử!” Cát Tử là tên trong của Cao Đức Phúc.
Bà nói: Con đem chút cháo tới cho mẹ đi, mẹ muốn uống nước cháo, mẹ thấy khát nước không chịu nổi!”
Cao Đức Phúc nghe mẹ nói chuyện được, chú vui mừng vô kể xiết, mau chạy đến trước mặt bà, nói: “Mẹ ơi, mẹ mạnh rồi hả?”
*
Mẹ chú nói: “Qua nhiều ngày như vậy, mẹ không biết tự mình đã chạy đi đến chỗ nào nữa? Rồi mẹ tới chỗ không có mặt trời, cũng không có mặt trăng, cũng không có ánh lửa, mọi nơi đều tối đen âm u, chẳng thấy được gì, muốn về nhà, cũng không biết nhà ở đâu, trước mắt thì hoang mang, mơ mơ màng màng.
Cao Đức Phúc hỏi: “Vậy thì làm sao mẹ mới hết bịnh được?”
Bà nói: “Chiều hôm qua, mẹ gặp được một người xuất gia, thầy mặc đồ rách nát rồi ổng dẫn mẹ về nhà đó! Con sau này có gặp vị thầy nghèo đó, bất luận ra sao đi nữa, con cũng nên cho thầy ấy một chút tiền, kết chút duyên nhen!”
Con trai bà nghe vậy, nói: “Vị thầy đó có dáng người ra sao?”
Bà nói: “Vị xuất gia đó rất cao! Nếu mẹ gặp được, mẹ sẽ nhận ra ngay.”
Con trai bà liền chỉ về phía tôi, lúc đó tôi còn nằm trên kháng, nói: “Mẹ nhìn xem, có phải là vị Thầy đang nằm trên kháng đó không?”
Mẹ chú ta vừa nhìn là nói: “Là Thầy đó, chính Thầy đó dẫn mẹ trở về đấy!”
Thì ra vậy, thế là cả nhà chú liền chạy đến quỳ lạy, đều muốn quy y tôi. Họ cũng không thăm dò xem Sư Phụ này là Sư Phụ tốt, hay Sư Phụ xấu, có đạo đức hay không, là cả nhà đều quy y tôi.
*
Tôi nghĩ thầm: “Theo việc này, nếu tôi muốn quyên góp họ, nhất định có thể tu sửa chùa được, nhưng tôi đã không quyên góp, cũng không hóa cái duyên này! Hôm qua các người đã không cho tôi vào cửa, nên tôi không quyên góp của các người đâu!” Cá tánh của tôi là vậy đó!
Tôi đã dùng pháp “Bảo Ấn Thủ” hai lần. Một lần tại nhà họ Cao ở Đông Bắc và một lần ở Hồng Kông. Tại Đông Bắc là bất đắc dĩ mới dùng, không thể không dùng được! Sau khi tôi bắt Bảo Ấn Thủ xong là bà ta liền lành bịnh, nhưng phiền toái cũng đến. Người này nói bị bịnh, người kia cũng nói bị bịnh, bịnh nhân càng nhiều thêm. Tôi nói: “Các người đều bịnh ‘thiếu nợ bị đánh’ đó! Cho nên, tôi lấy cái phất trần, đánh mỗi một bịnh nhân ba cái phất trần.
Sau đó tôi hỏi họ. “Các vị có còn bịnh nữa không?” “Không đau nữa, lành rồi!” Tôi nói: “Các vị đều nợ bị đòn, để tôi đánh cho một cái tức sẽ không còn bịnh nữa!”
Mẹ của chú do đó mà hết bịnh, lại sống thêm được 20 năm nữa. Năm 1987, tôi từng gọi Cao Đức Phúc, Cao Đức Tường, Cao Gia Tân, vợ của Cao Đức Tường. Gia đình 5, 6 người họ đến Vạn Phật Thành đây tham quan.
Ghi chú:
Năm 1987, Vạn Phật Thành cử hành đại pháp hội Thủy Lục Không lần đầu tiên. Các Thầy và phái đoàn từ Trung Quốc tới, tổng cộng là 100 người. Hòa Thượng đặc biệt mời một vị cư sĩ nam từ Los Angeles tới Vạn Phật Thành lo việc trai soạn, chuẩn bị ngày ba bữa cơm cho họ tại nhà bếp nhỏ ở Vạn Phật Thành. Đồng thời Hòa Thượng cũng mời đón một số bà con đồng hương còn khỏe tới Vạn Phật Thành. Trong đó có hai vợ chồng người anh thứ ba, vị giảng sư tại hội Đạo Đức là Môn Dật Bình, còn gọi là Môn Nhất Bình cùng tới với gia đình Cao Đức Phúc.
Ông Cao Đức Phúc đã lớn tuổi, cộng thêm cuộc hành trình mệt nhọc, nên vừa tới Vạn Phật Thành là ông bịnh nằm liệt giường, hơn nữa bịnh tình rất nghiêm trọng. Ngày đó, bỗng nhiên Hòa Thượng gọi vị nam cư sĩ: “Chú mau tới nhà bếp xem sao!”
“Sư Phụ, bây giờ mà đi nấu cơm thì vẫn còn sớm chán! Hơn nữa ở nhà bếp có gì hay đâu mà đi xem? Ở đó cũng không có thức ăn gì ngon nên không có ai thèm tới đó đâu.”
Hòa Thượng nói: “Chớ nói vòng vo! Bây giờ chú có đi hay không?”
“Dạ đi! Đi! Đi!”
*
Chú cư sĩ vừa đến nhà bếp nhỏ là gặp ngay con của ông Cao Đức Phúc đang tới đó tìm cháo nóng cho cha chú. Bởi vì các tu sĩ ở Vạn Phật Thành ăn ngày một bữa, nên lúc đó nồi chảo ở nhà bếp vẫn còn lạnh tanh!
Con của ông Phúc không biết phải làm sao, quýnh quáng nên kêu: “Sư Phụ, Sư Phụ!” hoài. Khi thấy có người ở nhà bếp nhỏ, chú lật đật chạy đến hỏi xin cháo.
Chú cư sĩ nói: “Không được! Nhà bếp này chỉ để nấu thức ăn cho các Thầy từ Trung Quốc tới thôi!”
Con ông Phúc nói: “Cha tôi bị bịnh nặng lắm, tôi muốn cho ông ta uống chút nước cháo nóng!”
Vừa nghe là cho người bịnh, chú cư sĩ liền nói: “Vậy thì được!” Tay chân chú ta cũng thật nhanh nhẹn, vừa bắt đầu nấu cháo, vừa bắt chuyện với đối phương. Chú nghe nói họ là đồng hương của Sư Phụ, chú liền ra điệu bộ chặt cánh tay, hỏi: “Có phải các người ở đó có một hiếu tử muốn chặt tay để cứu mẹ phải không?”
Con ông Cao Đức Phúc bẽn lẽn đáp: “Là cha của tôi đó!”
*
Và không lâu sau Hòa Thượng lái chiếc xe nhỏ (nguyên là xe chơi gôn, golf) cũng đến nhà bếp nhỏ. Chú cư sĩ bèn báo cáo: “Sư Phụ, người đồng hương của Sư Phụ, người mà hồi xưa muốn chặt cánh tay đó, nay ông ta bị bịnh rất nặng gần chết rồi.”
Hòa Thượng liền bảo chú chỉ đường đến chỗ ở của Cao Đức Phúc. Hòa Thượng nhìn thấy ông Phúc nằm trên giường như sắp chết, bèn kéo tay ông, nói: “Tôi bảo chú đến Vạn Phật Thành, chớ đâu có bảo chú chết ở Vạn Phật Thành đâu. Tôi không cho phép chú bị bịnh à!”
Nói xong, Ngài vỗ nhẹ lên tay ông vài cái rồi mới đi. Ngày sau, chú cư sĩ gặp con ông Phúc đến xin cháo, biết là ông Phúc đã đỡ rất nhiều nên không ngăn được cảm xúc nói: “Nếu như tôi có thể học được câu ‘Tôi không cho phép chú bị bịnh!’ là được rồi!”
Hòa Thượng Tuyên Hóa: 76. Hành giả Quả Thuấn
Có câu: “Người đại ác, quay đầu là đại thiện; người đại thiện mà đọa lạc tức cũng như đại ác.” Lão họ Diêu là một điển hình của việc: trước là người xấu, sau học làm tốt. Lão ta, trước kia vốn rượu chè, bài bạc, làm mọi việc xấu, trải qua không biết bao nhiêu là khổ nạn. Sau cùng giác tỉnh thế sự vô thường, cải ác hướng thiện, nhất tâm xuất gia cầu đạo, liễu sanh thoát tử.
Hòa Thượng Tuyên Hóa kể:
1) Lãng tử hồi đầu, nhiều gian nan
Quả Thuấn có cái dáng giống như A Nan, vị thị giả đa văn đệ nhất của Phật. Người đệ tử xuất gia thứ hai này của tôi, tuy không có học vấn cao, nhưng chú ta rất thông minh. Chú mang họ Diêu, người ta thường gọi chú là Lão Diêu. Chú ở tại đồn Đại Nam Câu, cách phía Nam Harbin 20 dặm, làm nghề nông. Lúc chưa quy y Tam Bảo, Lão Diêu là một gã giang hồ lãng tử du thủ du thực, hút thuốc phiện, ăn chơi bài bạc, không gì xấu xa mà Lão không làm, là kẻ hư xấu nhất.
Lúc bấy giờ Nhật Bản thống trị Đông Bắc, lợi dụng triều Thanh phế vua Tuyên Thống, thành lập nước Mãn Châu để làm bù nhìn cho Nhật Bổn. Vì muốn phòng thủ Liên Xô xâm lược, họ xây dựng công trình quốc phòng tại biên giới Hắc Hà, rồi đi khắp nơi lùng bắt lao công đi phục dịch. Có một ngày Lão Diêu bị quân Nhật bắt và tống tới Hắc Hà để làm lao công. Ban ngày họ làm việc nặng nhọc như trâu ngựa, còn ban đêm thì đắp rơm ngủ. Họ sống ở nơi đó giống như ở trong địa ngục trần gian, khổ không thể tả.
*
Lúc đó, bốn bề doanh trại bao bọc bởi hàng rào điện cao thế. Nếu họ đào tẩu, hoặc sẽ bị lính Nhật bắn chết, hay là bị chó sói cắn chết. Nếu may thoát khỏi trại, họ cũng không qua được hàng rào điện. Bất cứ chúng sanh nào đụng phải hàng rào đó đều tức khắc bị điện giựt chết tốt. Tuy có hàng rào điện uy hiếp nhưng Lão Diêu cũng muốn tìm cơ hội tẩu thoát.
Có một buổi tối, Lão ta nằm mộng thấy có một ông già râu dài bạc phơ, nói với Lão rằng: “Trước hết con phải nên nhẫn chịu một chút! Thời gian chưa đến! Khi đến lúc, ta sẽ nói cho con hay để con bỏ chạy cũng không muộn.” Quả Thuấn nghe lời ông già trong mộng mà chờ đợi thời cơ. Trải qua hơn nửa tháng, thật là ông già râu bạc lại báo mộng cho Lão ta, nói: “Ngày nay, con có thể bỏ chạy được rồi! Khi con thấy ở bên ngoài có một con chó trắng đó, thì con hãy chạy theo nó.”
*
Thức giấc, Lão ta kể lại giấc mơ cho một người bạn nghe, rồi hai người tự lấy hai cái bao bố chạy đến chỗ hàng rào điện kia. Quả nhiên có con chó trắng đang đợi ở đó và Quả Thuấn theo chỉ thị của ông già, mà đi theo con chó. Con chó đi tới bên hàng rào điện, rồi phóc nhảy qua. Quả Thuấn bèn đắp bao bố lên dây điện và chống tay nhảy qua rào. Bạn ông cũng làm cách như Lão, trải bao bố ở trên nhưng lại bị bắt lửa cháy. Cho nên chỉ có một mình ông tẩu thoát một cách thuận lợi.
Và rồi con chó trắng đó cũng biến đi đâu mất. Lão Diêu đã chạy qua bảy ngày bảy đêm, ở trong núi không có gì ăn. Sau đó, Lão đi xin ăn ở dọc đường dần đến thành phố Harbin.
2) Xuất gia vì muốn thoát luân hồi khổ
Lão Diêu gặp nạn lần này bỗng cảm thấy đời người sao mà khổ quá nên chi bằng xuất gia tu đạo và từ đó Lão ta ăn chay. Ban đầu Lão Diêu theo một ngoại đạo tu hành, ở trong một cái kháng, nghèo đến nỗi không có cơm ăn. Lão Diêu thấy Lão đạo sĩ kia thật sự chẳng có công phu gì, bèn tới chùa Tam Duyên cầu xin xuất gia. Hòa Thượng phương trượng không thâu nạp Lão vì thấy Lão ta ăn mặc rách rưới, tưởng là vì sanh sống khó khăn nên mới xuất gia. Hơn nữa, Lão Diêu này cũng không biết cách nói chuyện.
Vào mùa Đông năm Dân Quốc thứ 33 (1944), tôi tới đồn Đại Nam Câu chữa bịnh cho mẹ của Cao Đức Phúc. Tôi trì tụng thần chú, mẹ Cao Đức Phúc nhờ đó, nên không uống thuốc mà hết bịnh. Qua hôm thứ hai, nguyên cả làng truyền rao về chuyện lành bịnh kỳ diệu của mẹ Cao Đức Phúc.
Lão Diêu nghe được tin này, bèn tới tìm tôi. Lần đầu gặp tôi, Lão ta mua rất nhiều trái lồng đèn cúng dường tôi. Trái lồng đèn là loại trái cây ở Đông Bắc có dạng giống như chiếc lồng đèn, từng trái từng trái ngọt ngọt chua chua. Mới đầu tôi ngồi đối diện với Lão, lúc Lão chưa cầu xin xuất gia, tôi còn nói chuyện với Lão. Đến khi Lão cầu xin xuất gia, bèn quỳ mọp trước mặt tôi, nói nếu như tôi không thâu Lão ta xuất gia, Lão sẽ không đứng lên. Nghe Lão ta nói thế, tôi liền ngồi xoay mặt vào vách, bỏ mặt Lão ấy.
*
Lúc đó, tôi vốn không muốn thâu đệ tử, vì nhận đệ tử rất phiền phức, tôi cũng không biết chuyện Hòa Thượng phương trượng đã không muốn thâu nạp Lão ta. Qua hai tiếng đồng hồ sau, Lão Diêu vẫn còn quỳ ở đó, tôi hỏi Lão: “Tôi bận chuyện mà chú vẫn còn quỳ ở đó, chú muốn làm gì thế?”
Lão ta nói: “Thỉnh Sư Phụ từ bi, con muốn xuất gia!”
Tôi nói: “Chú xuất ra cái gia (nhà) nào? Bộ chú còn có nhà hả?”
Lão ta nói: “Dạ con … con không có nhà.”
Tôi nói với Lão: “Chú không có nhà, vậy lại muốn xuất ra nhà nào đây? Chú tưởng muốn xuất gia là xuất gia liền à, không phải dễ dàng vậy đâu! Tại gia tu đạo đã không dễ, xuất gia tu đạo càng khó hơn đó. Cho nên: “Chưa tỏ đại sự như đưa tang mẹ, tỏ đại sự rồi càng như đưa tang mẹ.” Xuất gia là việc cực khổ, cần nhẫn điều mà người ta không nhẫn được; nhường điều mà người ta không thể nhường; ăn cái người không thể ăn; mặc cái người không thể mặc; quên mình vì người; bỏ việc tư vì việc công, mới chính là bổn phận của người xuất gia. Nếu chú có thể làm được như vậy thì mới có thể xuất gia được!”
Lão ta nói: “Các chuyện này con đều làm được hết.” Tôi nói: “Chú thật làm nổi sao?”
*
Lão ta nói: “Con làm lao công ở doanh trại Nhật Bổn đã chịu đủ hết mọi loại khổ rồi, huống gì xuất gia tu đạo lại không bằng phân nửa cái khổ đó. Cho nên dù có khổ sở gì chăng nữa, con cũng có thể chịu được.”
Tôi nói: “Vậy thì tốt, tôi nhận cho chú xuất gia đó! Chú nhớ buông bỏ hết mọi việc lúc trước, giống như một người vừa mới sống trở lại thì mới được. Lúc đó tôi làm bài kệ cho Lão rằng:
Niệm niệm mạc vong sanh tử khổ,
Tâm tâm tưởng thoát luân hồi quyển;
Hư không phấn toái minh Phật tánh,
Thông thể thoát lạc kiến bổn nguyên.
Nghĩa là:
Niệm niệm chẳng quên khổ sanh tử,
Tâm tâm mong thoát cảnh luân hồi;
Phá vỡ hư không, thấy Phật tánh,
Buông xả tất cả ngộ bổn lai.
Tôi lại chỉ dạy Lão ta: “Hiện là thời đại mạt pháp, nhiều người xuất gia, nhưng ít thực hành; tin Phật thì nhiều, nhưng thành đạo thì rất ít. Chú đã thành tâm muốn xuất gia, tất phải phát Bồ Đề tâm, lập định chí nguyện quảng đại. Chú phải làm như ngọn nến trước cơn gió táp, vàng rồng đốt trong lửa đỏ. Ngày nào đạo nghiệp viên thành, chói sáng Phật giáo, tức không cô phụ tâm xuất gia!”
Sau đó tôi dẫn Lão Diêu đến chùa Tam Duyên xuất gia làm Sa Di có pháp danh là Quả Thuấn.
Ghi chú:
Trái lồng đèn thuộc khoa lý gai trà lộc, lâu năm mọc thành bụi rậm. Trái có dạng giống như lồng đèn, khi chín màu xanh vàng. Lúc chín muồi trái màu tím đỏ có vị chua ngọt, đặc biệt thuộc loại trái cây mùa hè.
*




Diệu Hoa viết
Nam mô A Di Đà Phật
Thưa thầy, Ngài Tuyên Hóa là bậc Thánh Tăng đại từ đại bi, mọi việc làm ý nghĩ lời nói của Ngài đều làm lợi cho chúng sanh, Ngài là tấm gương sáng trong Phật Pháp…
Đệ tử nghe lời dạy của Ngài hiểu ra rất nhiều,…
Thưa thầy trước kia đệ tử không đến mức giải đãi, nhưng cũng không tinh tấn, cứ ngày nào có công khóa niệm phật 01 lần là được, mọi việc với đệ tử đều tốt. Đến lúc đệ tử tinh tấn niệm phật, lạy phật thì chướng nghiệp ùn ùn kéo đến : bệnh tật, mất tiền vì tin người…. Đệ tử có lúc cũng hơi phiền não : sao mình nhiều niệm phật lạy phật mà nghiệp không bớt, lại đến nhiều hơn. Giờ nghe Ngài dạy mới hiểu ra, chỉ biết gắng nhẫn cho từ từ qua lúc chướng nạn
Cảm ơn thầy rất nhiều, bài viết quá hay giống như Ngài Tuyên Hóa đang giảng pháp
Nam mô A Di Đà Phật
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.
Nghiệp của chúng sanh vô lượng vô biên, trả hết lớp này lớp khác lại hiện ra. Nếu không tu tập thì nhân nào quả đó, trả cho bằng đủ mới thôi, còn như tu tập, trong 10 phần chỉ phải trả một hai. Nếu Phật A Di Đà không lập siêu thế nguyện, chúng ta ở trong thời mạt này ắt vô phương ra khỏi sanh tử. Nay gặp được pháp rồi, gắng an nhẫn mà niệm Phật, rồi đến cũng sẽ đến lúc giông bão đi qua, trời quang mây tạnh.