Tại sao đức Phật nhập Niết bàn

Đức Phật nhập Niết bàn lúc nửa đêm rằm tháng hai(15/2 âm lịch), lúc đó Ngài 80 tuổi. Nơi đức Phật nhập niết bàn là cội cây Sa La bên mé sông Hi Liên Nhã Bạt Để.

Tại sao đức Phật nhập Niết bàn
Tại sao đức Phật nhập Niết bàn

Tại sao đức Phật nhập Niết bàn

Khi nghe Ðức Thế Tôn bảo rằng mình sắp nhập diệt, Diệu Tràng Bồ Tát khởi lòng nghi: “Có hai nhân duyên được sống lâu: Không giết hại và bố thí các thức ăn cho chúng sanh. Ðức Thích Ca Thế Tôn đã tu Thập thiện trong vô lượng kiếp, tại sao Ngài chỉ sống có tám mươi tuổi?”

Trong khi Bồ Tát nghĩ như thế, do oai thần của Phật, tịnh thất ấy bỗng hiện ra rộng rãi trang nghiêm như cõi Tịnh độ. Trên hư không, phương đông có Phật Bất Động; Phương nam có Phật Bảo Tướng; Phương tây có Phật Vô Lượng Thọ; Phương bắc có Phật Thiên Cổ Âm. Ngồi nơi tòa diệu liên hoa, đồng thuyết kệ rằng:

Có thể biết điểm giọt

Của tất cả biển lớn

Không ai đếm biết được

Thọ lượng của Thích Ca.

…Có thể biết số bụi

Của tất cả đại địa

Không ai đếm biết được

Thọ lượng của Thích Ca.

*

Bốn đức Thế Tôn lại bảo:

– Nầy Thiện nam tử! Chúng sanh ở cõi Ta Bà căn lành kém mỏng, có nhiều sở chấp: Nhân, ngã, đoạn, thường… Vì muốn cho họ được lợi ích, mau sanh chánh giải, nên Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện thọ mạng ngắn ngủi.

Thiện nam tử! Đức Như Lai đây muốn cho chúng sanh thấy Phật vào Niết bàn, sanh lòng thương lo mến tiếc; Nghĩ rằng khó còn được gặp, mà đối với chánh pháp phát tâm siêng năng đọc tụng thọ trì; Vì người giảng giải, không còn hủy báng, nên Ngài thị hiện thọ mạng ngắn ngủi. Tại sao thế?

Nếu chúng sanh thấy Như Lai không vào Niết bàn, tất không sanh lòng cung kính, không sanh niệm khó gặp, không siêng năng đọc tụng thọ trì vì người giảng giải. Vì lẽ hằng thấy Phật nên ỷ lại xem thường. Ví như hoa Ưu đàm được người quí trọng vì lâu năm mới nở một lần. Nhân duyên sớm nhập diệt của Ðức Thích Ca Như Lai, ý nghĩa cũng như thế. (Kinh Kim Quang Minh)

Đức Phật Niết bàn và Thiên ma ba tuần

Một hôm, Ðức Thế Tôn cùng thị giả A Nan Đà ở ngôi giảng đường tại thành Ba Tra Lỵ Phất. Sau khi đi khất thực trở về dùng ngọ trai xong, Đức Phật đến ngồi nơi cội cây Cung chế để. Ngài gọi A Nan Đà mà bảo rằng: “A Nan! Thành nầy vật sản hoa lệ, cây cối tốt tươi, ao suối trong mát, hiện tại tuy đơn sơ, nhưng tương lai tất sẽ hưng thạnh. Đây là một kỳ cảnh của châu Nam Thiệm Bộ. Nầy A Nan! Nếu kẻ nào chứng pháp Tứ thần túc, có thể tùy ý trụ thọ một kiếp cho đến nhiều kiếp. Như Lai đã chứng pháp Tứ thần túc, nên muốn sống lâu một kiếp hay nhiều kiếp, đều được tự tại”. Phật nói như thế ba lần, song ngài A Nan vẫn làm thinh.

Lúc ấy, Thiên ma Ba Tuần đến đảnh lễ Phật và thưa rằng: “Bạch Thế Tôn! Thời gian trước Ngài đã nói: Khi nào trong hàng môn đệ có nhiều kẻ thông biện đủ khả năng tuyên dương chánh pháp dẹp phá tà luận thì Ngài sẽ vào Niết bàn. Hiện thời những điều kiện ấy đã có đủ, xin Ðức Thế Tôn nên sớm nhập diệt”.

Đức Phật bảo: “Ngươi hãy gắng chờ ít lâu, ba tháng sau Như Lai sẽ vào cảnh Vô dư y đại niết bàn”. Thiên ma Ba Tuần nghe Phật hứa nhận, sanh lòng vui mừng, liền ẩn thân trở về thiên giới. Sau khi nói lời ấy, Ðức Thế Tôn liền nhập định, thâu ngắn thọ mạng trong vô lượng kiếp chỉ còn lại ba tháng.

*

Lúc đó, đất đai chấn động, tinh quang rơi rớt khắp bốn phương, thiên cổ trên hư không tự nhiên kêu lên vang động. Ðức Thế Tôn xuất định, nói bài kệ rằng:

Tất cả pháp sai biệt

Như Lai đã diệt trừ

Do đó được định tâm

Như chim bay tự tại.

Sau khi ấy, Đức Phật cùng đồ chúng vượt qua sông Hằng, vào thành Tỳ Xá Ly. Nơi đây, nàng kỹ nữ Yêm Ma La dâng cúng khu vườn Nại Thọ lâm và được Phật hóa độ. Bấy giờ đã đến mùa mưa, Ðức Thế Tôn muốn an cư ba tháng ở Trúc Lâm thôn, một vùng phụ cận của đô thành. Nhưng gặp năm mất mùa, e sự cúng dường không được đầy đủ. Phật liền giải tán đại chúng, rồi riêng mình ở tại đó với thị giả A Nan.

Trong thời gian tạm trú nơi đây, ngài A Nan thấy kim thể không an, biết Phật sắp vào Niết bàn, liền thưa thỉnh cách thức y chỉ về sau. Đức Phật bảo: “Ông nên lấy chính mình làm nơi quy y, lấy pháp làm nơi quy y, đừng nương theo ai khác bên ngoài. Hãy tự xét, xem mình tinh tấn hay giải đãi, dứt trừ sự tham nhiễm lo buồn theo thế gian. Hãy quán thân, thọ, tâm, pháp, thấu triệt lý bất tịnh, khổ, vô thường, vô ngã, để đối trị bệnh chấp tịnh, lạc, thường, ngã, theo quan niệm chúng sanh. Đây là chân lý tự quán của ta khi thành chánh giác và cũng là căn bản quy y của người học đạo”.

Ngày đức Phật nhập Niết bàn

Mãn ba tháng hạ, Ðức Thế Tôn đến ở Trùng Các giảng đường tại bản xứ. Ngài bảo các đệ tử: “Những giáo pháp ta đã nói khi trước như: Tứ niệm trụ, Tứ chánh cần, Tứ thần túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát thánh đạo, các ông nên thường suy nghĩ tu tập, chớ nên biếng trễ. Các ông phải gắng tu tịnh hạnh, giữ gìn cấm giới để làm phước lợi cho thế gian”.

Rồi từ đó, Đức Phật lại đi về phía Bắc, qua thôn Lộ Càn Trà. Tại nơi đây, Ngài lại khuyên đồ chúng: “Các ông nên biết, nếu người tu không thông đạt bốn pháp, sẽ hằng bị đọa vào nẻo luân hồi. Bốn pháp ấy là gì? Chính là giới, định, huệ và giải thoát”. Từ thôn Lộ Càn Trà, Ðức Thế Tôn đi vào xứ Ba Bà. Ở chốn nầy, Ngài thọ thức ăn nấu bằng nấm chiên đàn của người thợ bạc tên là Thuần Đà, rồi đi sang thành Câu Thi Na Yết La đến chỗ hai đôi cây Sa la bên mé sông Hi Liên Nhã Bạt Để.

Đêm ấy, có người ngoại đạo là Tu Bạt Đà La đi đến chỗ Ðức Thế Tôn, nghe thuyết pháp và chứng thánh quả. Đây là vị đệ tử sau rốt của Phật. Ðức Thế Tôn gọi A Nan và bảo: “Thuở xưa ta làm Chuyển luân vương, đã xả thân sáu lần nơi đây, cho nên nay Như Lai cũng nhập Niết bàn tại chỗ nầy”. Ngài lại bảo đồ chúng: “Các ông đối với Phật, Pháp, Tăng bảo và Tứ thánh đế có điều gì nghi thì nên hỏi, ta sẽ giải đáp cho”. Trong đại chúng vì không nghi vấn nên không ai hỏi.

Phật nhập Niết bàn

Bấy giờ Ðức Thế Tôn do lòng đại bi, tự cởi áo trên bày kim thân ra, và nói: “Nầy Tỷ khưu! Các ông nên nhìn kỹ thân tướng của Như Lai, vì chư Phật cũng như hoa Ưu đàm bát la rất khó gặp gỡ”. Khi sắp nhập diệt, Đức Phật còn bảo: “Các ông chớ cho rằng mình sẽ mất thầy giảng dạy. Sau khi ta nhập Niết bàn, những Pháp và Luật của ta đã nói là thầy của các ông. Các pháp đều vô thường, có sanh tất có diệt. Các ông hãy tinh tấn chớ nên biếng trễ. Đây là lời khuyên dạy sau rốt của ta”.

Khi nói xong lời ấy, Ðức Thế Tôn nhập Tam muội theo thứ lớp chín lần thuận, chín lần nghịch, từ Sơ thiền đến Diệt tận định. Rồi từ Sơ thiền ra, Phật vào Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, và niết bàn ở nơi đó. Lúc ấy, vào khoảng giữa đêm Rằm tháng hai, Ngài được tám mươi tuổi. (Đối chiếu các kinh: Đại Niết Bàn, Du Hành, Trường A Hàm)

(Tại sao đức Phật Nhập Niết Bàn – Theo Phật học Tinh Yếu)

Tuệ Tâm 2021.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *