Bạn đã biết sáu nẻo luân hồi là gì chưa

Sáu nẻo luân hồi gồm sáu cõi giới: Trời (và Tiên nhân), Người, A tu la, Quỷ thần, Bàng sanh, Địa ngục. Chúng ta vô thỉ kiếp đến nay trôi lăn trong sáu nẻo này! 

Trong sáu nẻo luân hồi này, tùy theo nghiệp nhân lành dữ sai biệt. Nên chúng sanh từ sắc thân, thọ lượng, cho đến sự thọ dụng, có xấu đẹp. Cùng dài ngắn, tinh thô, vui khổ không đồng.

Sáu nẻo luân hồi
Sáu nẻo luân hồi

Sáu nẻo luân hồi là tự nhiên có trong từ vô thỉ kiếp đến nay. Đức Phật nhìn thấy bằng Tuệ Nhãn của Ngài, nên dạy cho chúng ta biết. Không phải Ngài tạo ra sáu nẻo luân hồi như nhiều người hiểu lầm đâu nhé!

Chúng ta vô thỉ kiếp đến nay, tùy theo nghiệp báo thiện ác mà trôi lăn trong sáu nẻo này. Sao gọi là “đạo” hoặc “thú”? “Đạo” chỉ cho đường nẻo, “thú” có nghĩa là nơi đến; Đường nẻo của chúng sanh luân chuyển gọi là “đạo”. Chúng sanh do nghiệp thiện ác phải đến đó để thọ sanh, cư trú, gọi là “thú”. Cho nên kinh Pháp Hoa nói: “Lục đạo chúng sanh, sanh tử sở thú”.

Sáu nẻo luân hồi: Cõi thiên

Cõi này cao nhất, sung sướng nhất, bao gồm Chư thiên nhân và chư Tiên.

Chư Thiên: Thiên nhân

Sao gọi là Thiên thú? Thiên thú là nẻo trời, chữ Thiên có nghĩa: Thiên nhiên, tự nhiên. Đây là chỉ cho chúng sanh ở các cõi trời do tu thượng phẩm Thập thiện và các thiền định. Nên được hưởng phước thiên nhiên, sự ăn mặc thọ dụng đều tùy niệm hóa hiện, không cần phải tạo tác. Lại chữ Thiên ở đây còn có bốn ẩn nghĩa: tối thắng, tối thiện, tối lạc, tối tôn.

Sáu hạng trời ở cõi Dục đều có hình tướng nam nữ, dục nhiễm tùy theo cao thấp mà có nặng nhẹ. Mười tám hạng trời ở cõi Sắc, không hình tướng nam nữ, không có sự dục nhiễm. Tất cả đều dùng thiền định để trưởng dưỡng sắc thân. Còn bốn hạng trời ở cõi Vô sắc thì không hình tướng sắc thân. Duy có tâm thức, vì là báo thể của không định.

Chư Tiên: Tiên nhân

Sao gọi là Tiên thú. Tiên thú là nẻo tiên: “Tiên” là an nhàn, tự tại, không còn bị sự phiền lụy của tục trần ràng buộc. Lại “tiên” cũng có nghĩa là “thuyên”. Vì hạng nầy có thể thuyên chuyển hình thần khiến cho  dung sắc tươi trẻ, mạng sống lâu dài. Tiên có nhiều bậc như thiên tiên, nhơn tiên, địa tiên. Hoặc dạo chơi nơi nhơn gian, hoặc ở ẩn nơi non sâu, hải đảo. Theo kinh Lăng Nghiêm thì có mười hạng tiên:

Mười hạng Tiên nhân

Hạng chuyên tu về cách chế luyện các thức ăn, làm hoàn hoặc bánh để dùng. Các vị nầy do thực đạo mà thành, có thể mạnh khỏe sống lâu, nhưng chưa được nhẹ nhàng bay đi, gọi là Địa hành tiên.

Hạng chuyên phục thực các thứ thảo mộc như tử chi, huỳnh tinh, xương bồ. Hạng nầy được đạo mà thành, thân được nhẹ nhàng bay đi, gọi là Phi hành tiên.

Hạng chuyên phục thực các chất kim thạch, như thu thạch, hồng diên… Các vị nầy do hóa đạo mà thành, luyện đơn thành tiên cốt. Điểm đá hóa vàng ròng, trong chớp mắt có thể đi xa muôn dặm, gọi là Du hành tiên.

Hạng chuyên luyện về sự động chỉ tu cách điều khí cố tinh. Các vị nầy do khí tinh mà thành. Có thể dời hình ẩn bóng, đi trên hư không, gọi là Không hành tiên.

Hạng chuyên luyện về tân dịch, như nhả thứ cũ nuốt thứ mới, làm cho lửa xuống nước lên. Các vị nầy do nhuận đức mà thành, mặt sáng rỡ như ngọc, hay dạo chơi nơi cõi trời, gọi là Thiên hành tiên.

Hạng chuyên luyện về tinh sắc, mỗi ngày hớp thanh khí của trời đất, tống hết cặn bã, thâu lấy tinh hoa. Các vị nầy do hấp túy mà thành, có thể đi xuyên qua núi non, đạp trên nước lửa, gọi là Thông hành tiên.

Hạng chuyên luyện về chú cấm, nhờ công phu trì chú lâu ngày, nên tâm thần được ngưng tịnh. Các vị nầy do thuật pháp mà thành, có thể trị bịnh, dứt trừ ma quái để giúp ích cho quần sanh, gọi là Đạo hạnh tiên.

Hạng chuyên kiên cố về tư niệm, luyện theo lối buộc tâm tưởng nơi đơn điền, đưa chân khí xuống vĩ lư, thăng lên giáp tích, đạt đến nê hoàn, rồi xuất thần nơi đảnh. Các vị nầy do tư ức mà thành, có thể hồi quang phản chiếu, gọi là Chiếu hạnh tiên.

Hạng kiên cố về sự giao cảm luyện cách phối hợp khảm ly, thâu nhiếp tinh huyết. Các vị nầy do cảm ứng mà thành, làm cho thân xinh đẹp sống lâu, gọi là Tinh hạnh tiên.

Hạng chuyên luyện về biến hóa, hằng tồn tưởng nơi lý hóa, đến khi tỏ ngộ thì làm được sự huyễn hóa to tát. Các vị nầy do giác ngộ mà thành, có thể di sơn đảo hải, biến hiện nhiều cách, gọi là Tuyệt hạnh tiên.

Các hạng tiên trên đây, gọi trường sanh thì có, nhưng bất tử thì không. Đến khi số hết lại ngụp lặn trong sáu nẻo luân hồi. Vì họ chấp hình thần hữu vi mà không rõ suốt chân tánh. Tuy nhiên, họ cũng sung sướng hơn người một bậc nên ở trên Nhơn thú.

Sáu nẻo luân hồi: Cõi Người 

Sao gọi là Nhơn thú? Nhơn thú là nẻo người. “Nhơn” có nghĩa là nhẫn, chỉ cho loài người khi gặp cảnh thuận nghịch có năng lực nhẫn nại an chịu với duyên phần. Lập Thế Luận nói: “Loài người do tu trung phẩm Thập thiện mà được sanh. Trong sáu nẻo luân hồi chỉ có nhơn thú là nhiều kiêu mạn. Nhưng về phần trấn định tâm ý lại hay hơn các nẻo kia”. Chúng sanh thuộc nẻo nầy có hình tướng nam nữ, ở rải rác khắp bốn đại châu.

Chúng sanh trong bốn châu phần nhiều theo đường nhiễm dục. Song cũng có người trọn đời giữ nếp sống tu hành thanh tịnh. Luận về phước báo, người ở ba châu: Tây Ngưu Hóa, Đông Thắng Thần, Bắc Câu Lư thù thắng hơn. Nhưng về nhân duyên giải thoát thì họ lại kém thua người ở Nam Thiệm Bộ Châu. Vì nơi đây có ba điều đặc biệt: con người trí lanh lợi nhớ dai. Nhiều kẻ siêng tu phạm hạnh; thường có Phật ra đời.

Sáu nẻo luân hồi: Cõi A Tu La

Sao gọi là A tu la? A tu la là loại chúng sanh nhiều sân hận, đa số có hình tướng không đoan chánh. A tu la cũng gọi A tố lạc, dịch là Vô đoan chánh, Phi thiên. Hai danh từ nầy có nghĩa: Không xinh đẹp, có phước trời mà đức không bằng trời.

Trong Kinh luận có chỗ cho rằng loài A tu la do gây nhân hạ phẩm Thập thiện mà được sanh. Nhưng đó chỉ là nói riêng về một phương diện mà thôi, cho đến danh từ Phi thiên cũng như thế. Sự thật, phần chánh nhân là loài nầy do hay nóng giận, hiếu thắng ưa tranh cãi mà được sanh.

A tu la chia thành bốn bậc: Loài ở cõi trời thì giống trời, loại ở cõi người thì giống người. Loài ở cõi quỷ thì giống quỷ, loài ở cõi súc thì giống súc. Vì họ không có chủng loại và trụ xứ nhất định, có thể nhiếp về các nẻo khác. Nên trong kinh có chỗ chỉ gọi là ngũ đạo hoặc ngũ thú. A tu la ở cõi trời cũng có cung điện thất bảo, sự ăn mặc tự nhiên hóa hiện như chư thiên. Nhưng do nhân sân hận họ có ba sự kiện kém hơn người, nên ở sau loài người:

Dù loài nầy có ăn các món trân vị, song miếng sau rốt tự nhiên hóa ra bùn. Ở cõi trời mưa hoa hoặc châu báu, nơi cõi người mưa nước. Cõi A tu la mưa xuống những binh khí dao gậy. Loài người tâm điềm tĩnh nên dễ thực hành theo chánh pháp của Như Lai. Loài A tu la tâm sôi nổi hơn thua, nên khó tu đạo giải thoát.

Sáu nẻo luân hồi: Ngạ Quỷ

“Quỷ” có nghĩa là “úy”, là hay khiếp sợ; “Thần” có nghĩa linh thông biến hóa. Trong kinh có nói loài quỷ do nhân trung phẩm thập ác mà được sanh, và sắp quỷ đạo sau súc đạo. Nhưng đó là chỉ nói riêng về phương diện Ngạ quỷ. Sự thật, nếu nói rộng, phải gọi là Quỷ thần thú, vì loài nầy chia làm hai hạng: hạng có uy phước và hạng không uy phước. Đây là do những nghiệp nhân thiện ác bất định từ thuở tiền sanh.

Loại Quỷ thần uy phước cũng có cung điện, thân tướng trang nghiêm, nhiều kẻ tùy thuộc. Hoặc thọ dụng những trân vị cam lồ, hoặc được người thờ cúng. Loại nầy lại chia ra làm hai hạng: Chánh thần và tà thần. Bậc chánh thần thì giữ lòng chân chánh hay giúp đỡ nhơn gian. Hạng tà thần tâm niệm quỷ quyệt không chân thật. Hoặc đa dâm đa sát, thường làm tổn hại cho người. Loại quỷ không uy phước thì vất vả, ở chỗ âm u. Thường đói khát, hoặc ăn những đồ bất tịnh.

Xứ sở của Ngạ quỷ có hai nơi: Chánh trụ và biên trụ. Chánh trụ là như trong kinh Chánh Pháp Niệm nói: “Có thành Diêm La, nơi ở chánh thức của vô số Ngạ quỷ do Diêm La Vương thống lãnh. Thành nầy ở dưới châu Diêm Phù Đề, chu vi rộng 7.500.000 dặm. Nơi đây không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng”.

Biên trụ là những chỗ như mé biển, triền núi, rừng bụi, đình miếu, hang hố, đồng trống, mồ mả. Cho đến vườn nhà cùng các nơi bất tịnh. Chánh trụ là xứ sở riêng của loài quỷ nghiệp nặng, thuộc về thế giới Ngạ quỷ. Biên trụ là xứ sở của các Quỷ thần nghiệp nhẹ hoặc có phước nghiệp, thuộc về hạng ở lẫn lộn trong loài người.

Sáu nẻo luân hồi: Súc sanh (Bàng sanh thú)

Sao gọi là Bàng sanh? Bàng sanh là loại chúng sanh có xương sống nằm ngang. Lại chữ “bàng” còn có nghĩa “biến mãn”. Vì Bàng sanh có nhiều chi loại, và ở các nẻo kia đều có loài nầy. Trong sách Phật có chỗ gọi nẻo nầy là Súc sanh đạo. Nhưng danh từ Súc sanh chỉ ở trong phạm vi loài sanh vật được người nuôi dưỡng. Không rộng rãi và đầy đủ bằng danh từ bàng sanh. Chủng loại bàng sanh tuy nhiều, song đại ước có ba: Loại bay trên hư không, loại ở mặt đất và loại sống dưới nước.

Theo kinh Chánh Pháp Niệm, Bàng sanh có đến 40 ức chi loại khác nhau. Duyên phận của loại nầy cao thấp không đồng. Cao như Kim súy điểu vương, Long vương, có uy phước thần thông. Thấp như giòi, đỉa, côn trùng, sống một khung cảnh nhơ nhớp tối tăm, ngắn ngủi. Bàng sanh cũng có nghiệp nhân thiện ác bất định như Quỷ thần và A tu la. Nhưng nếu lấy phần đại khái về đa số, thì loài nầy do nhân hạ phẩm thập ác mà được sanh.

Sáu nẻo luân hồi: Cõi Địa Ngục (Địa ngục thú)

Sao gọi là Địa ngục? Danh từ nầy do người Trung Hoa y theo nghĩa mà lập danh, để chỉ cho lao ngục ở dưới đất. Chữ “ngục” có  nghĩa là bó buộc không được tự do. Nhưng theo Luận Bà Sa, thì Địa ngục thú không phải đều ở dưới đất. Có khi ở trên mặt đất, hoặc dưới nước, hoặc trên hư không. Vì thế bổn kinh Phạm văn không gọi Địa ngục, mà gọi là Nại lạc ca có những nghĩa: Khổ cụ, phi đạo, ác nhơn. Chỉ cho nơi người tội ác làm điều trái đạo ở, nơi có đủ sự khốn đốn khổ đau.

Địa ngục tuy nhiều, nhưng đại ước có hai loại: Chánh ngục và biên ngục. Chánh ngục vị trí ở dưới châu Diêm Phù Đề và giữa núi Thiết Vi. Chánh ngục lại có hai thứ: Hàn ngục và nhiệt ngục. Hàn ngục và nhiệt ngục mỗi thứ có tám nơi, mỗi nơi có 16 ngục phụ. Mỗi ngục phụ lại có nhiều tiểu ngục khác nữa. Biên ngục cũng gọi là độc ngục, thì ở lẻ loi trên núi, nơi mé biển, dưới nước, chỗ đình miếu, giữa đồng trống, hoặc trong hang sâu.

Ở châu Nam Thiệm Bộ có đại Địa ngục, còn ba châu kia chỉ có biên, độc Địa ngục mà thôi. Theo kinh Nghiệp Báo thì Địa ngục là nơi thác sanh của loài hữu tình tạo mười điều ác về thượng phẩm. Tóm lại, y báo và chánh báo của sáu nẻo luân hồi đều như huyễn. Chúng sanh do nghiệp duyên lành dữ mà đổi thay hình dạng, chịu sự khổ vui lên lên xuống xuống, luân chuyển không cùng.

(Sáu nẻo luân hồi – Theo Phật Học Tinh Yếu)

Tuệ Tâm 2019.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *