Thập thiện nghiệp là gì

Thập thiện nghiệp là mười nghiệp lành, gồm có: Ba nghiệp của thân, bốn nghiệp của miệng và ba nghiệp của ý.

Theo đó ba thiện nghiệp của thân là: Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm. Bốn thiện nghiệp của miệng là: Không nói dối, không nói thêu dệt, không nói đôi chiều, không nói thô ác. Ba thiện nghiệp của ý là: Không tham lam, không giận hờn, không si mê tà kiến.

Thập thiện nghiệp là gì
Thập thiện nghiệp là gì

Trên đây là mười nghiệp lành, trái lại mười nghiệp ác. Trong mười nghiệp thiện ác này lại chia làm ba phẩm: Thượng, trung và hạ. Hết thảy chúng sanh do sáu phẩm thập thiện nghiệp đạo này mà chia đường trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi!

Thập thiện nghiệp đạo là căn bản của mọi pháp lành

Mười thiện nghiệp nầy là căn bản của các pháp lành gọi là Thập thiện nghiệp đạo. Kinh Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn nói: “Nếu chúng sanh nào làm mười nghiệp bất thiện, sẽ bị đọa vào ba đường ác. Nếu tu mười nghiệp lành, sẽ được hưởng phước nhơn thiên”.

Thế nào là không sát sanh

Sát sanh có năm tướng, nếu không phạm các tướng đó, là không sát sanh. Năm tướng ấy là:

  1. Cố tâm.
  2. Sanh mạng khác.
  3. Nghi tâm.
  4. Thân làm hoặc miệng bảo.
  5. Dùng phương tiện.

Ðiều thứ nhất: Cố tâm: Nếu có tâm giết hại, dù giết sanh mạng lớn nhỏ, cũng đều mang tội. Như vô tâm ngộ sát thì không thành tội. Nếu vô tâm giết mà thành tội thì bậc A la hán cũng không ưng đắc Niết bàn. Bởi bậc A la hán, đã đoạn nhân thế gian, như vô tâm giết rồi bị đọa luân hồi, thì không thành A la hán. Nhưng sự thật chẳng phải thế. Vì nghĩa nầy nên biết vô tâm giết không thành tội sát.

Ðiều thứ hai: Sanh mạng khác: Nói “sanh mạng khác”, tức không phải chính mình. Nếu giết sanh mạng khác mới đắc tội, còn tự sát thì không thành tội sát sanh.

Ðiều thứ ba: Nghi tâm: Nếu dùng nghi tâm mà giết hại, cũng mang tội sát, bởi kẻ ấy đã thiếu lòng từ bi.

Ðiều thứ tư: Tự làm, miệng bảo: Tự mình giết, hoặc dùng tay chân, dao gậy, cung tên, thuốc độc, thư ếm, đã đành đắc tội. Như không tự giết mà bảo kẻ khác giết, nếu sự giết thành, người bảo liền mang tội sát.

Ðiều thứ năm: Dùng phương tiện: Tuy thân không làm, miệng bảo, nhưng khởi ý giết hại, dùng mưu mô phương tiện để đưa người đến chỗ chết, nếu kết quả thành cũng mang tội sát.

Thế nào là không trộm cướp

Trộm cướp có năm tướng, nếu không phạm các tướng đó, là không trộm cướp. Năm tướng ấy là:

  1. Vật kẻ khác.
  2. Biết vật của kẻ khác.
  3. Nghi tâm.
  4. Tự lấy hoặc bảo kẻ khác.
  5. Dùng phương tiện.

Ðiều thứ nhất: Vật kẻ khác: Vật thuộc quyền sở hữu của kẻ khác, trọng như vàng bạc châu báu, khinh như mũi kim, ngọn rau, nếu người không cho mà lấy, là mang tội trộm.

Ðiều thứ hai: Biết vật kẻ khác: Biết vật của kẻ khác mà lấy, là cố tâm trộm cướp, tất nhiên đắc tội. Trừ ra như khi để đồ chung, của kẻ khác lầm tưởng là của mình mà lấy thì không đắc tội.

Ðiều thứ ba: Nghi tâm: Trường hợp hai món đồ giống nhau, đối với vật kẻ khác nghi ngờ không biết là của người hay của mình, vội lấy đi là đắc tội, vì có tâm mờ ám tham lam.

Ðiều thứ tư:Tự lấy bảo người: Tự mình lén trộm, hoặc dùng sức mạnh cướp giựt, cho đến dùng pháp thuật mà lấy, đều đắc tội. Nếu mình không làm, song xui sử kẻ khác lấy đem cho mình, cũng mang tội trộm cướp.

Ðiều thứ năm: Dùng phương tiện: Nếu dùng mưu mô phương tiện, như ăn hối lộ, đầu cơ bán chợ đen, giả đạo đức để gạt người lấy của…, cũng đều mang tội trộm.

Thế nào là không tà dâm

Tà dâm có năm tướng, nếu không phạm các tướng đó, là không tà dâm. Năm tướng ấy là:

  1. Của kẻ khác.
  2. Biết của kẻ khác.
  3. Nghi tâm.
  4. Tự hành, phi đạo.
  5. Phi xứ, phi thời.

Ðiều thứ nhất: Của kẻ khác: Đối với vợ hoặc chồng của kẻ khác, hay thanh nam, thiếu nữ còn non dại dưới quyền thủ hộ của cha mẹ, mà dẫn dụ, cưỡng bức làm việc phi hạnh, là mang tội tà dâm; kể đến sự nhiễm phạm cùng Quỷ thần, Súc sanh.

Ðiều thứ hai: Biết của kẻ khác: Nếu biết là vợ chồng hay con cái của kẻ khác mà xâm phạm, tất nhiên đắc tội, vì cố ý. Như trường hợp lầm tưởng là chồng hay vợ của mình thì không phạm; Điều nầy tuy ít khi xảy ra, nhưng chẳng phải là không có.

Ðiều thứ ba: Nghi tâm: Như có nam hoặc nữ song sinh rất giống nhau, nghi không biết là vợ hay chồng của mình mà làm tà hạnh thì đắc tội vì có tâm gian nhiễm.

Ðiều thứ tư: Tự hành, phi đạo: Như nam hay nữ tự làm việc thủ dâm, hoặc hành dâm, chẳng phải chỗ nam căn, nữ căn (phi đạo), đều đắc tội.

Ðiều thứ năm: Phi xứ, phi thời: Tuy vợ chồng chánh thức, nhưng ăn nằm không phải chỗ, gần gũi không phải thời, không chừng độ, cũng phạm tội tà dâm. Phi xứ ở đây, còn chỉ cho nơi lầu xanh, nhà chứa.

Thế nào là bốn nghiệp lành của miệng

Vọng ngữ gồm có một tướng chánh và bốn tướng phụ, nếu không phạm năm tướng đó, là không vọng ngữ. Năm tướng ấy là:

  1. Như tướng vọng ngữ.
  2. Nghi tâm.
  3. Vô nghĩa.
  4. Phi thời.
  5. Tương ưng với ác pháp.

Ðiều thứ nhất: Như tướng vọng ngữ: Là chỉ cho bốn điều ác của miệng: nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều, nói thô ác. Ðây là bốn điều chánh của vọng ngữ.

Ðiều thứ hai: Nghi tâm: Lòng còn nghi ngờ chưa biết việc ấy có thật hay không, liền vội nói ra với tánh cách quả quyết rằng có, tất phạm tội vọng ngữ.

Ðiều thứ ba: Vô nghĩa: Nói những lời bông lông không chủ đích, trái với thật nghĩa, đã vô ích còn làm mất thời giờ của mình và người, đều là nói vọng.

Ðiều thứ tư: Phi thời: Lời nói tuy có nghĩa lý, nhưng không phải thời phải lúc, rốt cuộc duy thành hư thuyết, chỉ làm người chán, không đem lại lợi ích cho ai, cũng là lỗi vọng ngữ.

Ðiều thứ năm: Tương ưng ác pháp: Nói những lời châm biếm xa gần làm cho người khó chịu, hoặc lời bỡn cợt khiến cho người sanh buồn giận, sợ hãi, tán tâm, hay hát ca điều phi pháp, khích động dục niệm cho đến tâm háo sát căm thù của kẻ khác, đều là những lời tương ưng với ác pháp cũng mang tội nói vọng. Bốn tướng sau đây là những điều phụ của vọng ngữ.

Thế nào là ba nghiệp lành của ý

Ðó là không tham, không sân, không si mê tà kiến. Không tham là không luyến trước theo ngũ dục, hằng giữ lòng trong sạch. Không sân là không giận trong những trường hợp vô lý hay hữu lý, mà hằng giữ lòng trung thứ, xót thương. Không si mê tà kiến là không tối tăm hàng động trái với lẽ phải, hoặc chấp theo thiên kiến rồi khinh hủy chánh pháp, bài bác nhân quả, mà hằng tìm hiểu Kinh điển, suy nghiệm lẽ thật, làm cho trí huệ phát sanh.

Trên đây là lược thuyết về Thập thiện nghiệp đạo, tức mười nghiệp lành thuộc nhân thiên thừa. Cũng mười điều nầy, đối với hàng Nhị thừa và Bồ Tát, còn có những tầm mức sâu xa hơn nữa.

Nhân quả của Thập thiện nghiệp đạo

Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Ðạo, Đức Phật bảo: “Nầy Long vương! Nếu không sát sanh, tất được thành tựu mười pháp ly não. Mười pháp ấy là:

Phước báo của thập thiện nghiệp đạo: Không Sát sanh
  1. Bố thí vô úy cho tất cả chúng sanh.
  2. Ðối với hữu tình thường khởi lòng đại từ.
  3. Dứt hết tập khí giận hờn.
  4. Thân thường không bịnh.
  5. Thọ mạng lâu dài.
  6. Hằng được loài phi nhân thủ hộ.
  7. Giấc ngủ yên ổn không ác mộng.
  8. Giải trừ hết oán thù.
  9. Không sợ đọa vào ác đạo.
  10. Mạng chung sanh lên cõi trời.

Ðó là mười pháp. Nếu đem công đức ấy hồi hướng quả Vô thượng bồ đề, về sau khi thành Phật, sẽ được thọ mạng tùy tâm tự tại.”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *