CHÚ ĐẠI BI NHIỆM MẦU

Hòa thượng Tuyên Hóa dạy: ” Khi quý vị niệm thần chú Đại Bi thì trời đất đều chấn động, cả pháp giới rung chuyển. Trên thông cả cõi trời, dưới thấu khắp các cõi địa ngục. Khắp cả mọi pháp giới trời người đều tán dương công đức”.

Chú Đại Bi

Tụng Chú Đại Bi xua tan dịch bệnh

Chú Đại Bi có công năng thông cả thiên đường, thấu cả địa phủ. Năng lực của Thần chú có thể chữa lành mọi bệnh tật thế gian, bất kể là bị bệnh gì, nếu trì tụng Chú Đại Bi  thì mọi khổ được tiêu trừ. Ngài Tuyên Hóa kể:

Mùa thu năm Dân Quốc thứ 33, khu hãng dầu Lữ Ký đã gây xáo động vì bịnh dịch lan tràn. Loại bệnh truyền nhiễm này gọi là bịnh ôn dịch. Người bị ôn dịch thì hoặc một giờ đồng hồ, hoặc một ngày, tối đa không quá ba ngày là có thể chết. Tại hãng dầu Lữ Ký có một gia đình 11 người, trong ba ngày mà bị bịnh chết đến 13 người. Trong nhà họ có 11 người, vậy cớ sao lại chết đến 13 người như thế? Vì trong nhà đó có một người làm công cũng cùng chết theo họ và thêm vào nữa là một người bà con tới nhà họ thăm viếng cũng bị bịnh ôn dịch chết luôn. Các nhà họ Trương, họ Vương, họ Lý, họ Triệu, số người chết thì lại càng không biết là bao nhiêu. Bởi tôi quen với gia đình họ Lữ này nên mới biết được nhà ông ta trong vòng ba ngày đã chết đến 13 người.

Trong lúc ấy, người ta thấy có rất nhiều ma quỷ. Hễ xóm nào có bịnh ôn dịch, thì xóm nấy có quỷ! Vừa thấy qua cảnh trạng này, không cần phải đợi người ta đến tìm, tôi bèn dẫn theo vài chú đệ tử đến đó. Rồi chúng tôi thành tâm trì tụng chú Đại Bi ở chung quanh xóm ấy. Tôi dẫn bốn chú đệ tử nhỏ, đại khái là 13, 14 cùng 14, 15 tuổi. Các chú tiểu đệ tử này rất thanh tịnh, trong tâm không có vọng tưởng, tạp loạn nên các chú theo tôi làm hộ pháp đến mỗi xóm đuổi ma quỷ đi. Lúc đó tôi cũng không biết dùng phương pháp gì khác hơn là chú Đại Bi, và chúng tôi vừa trì chú vừa đi quanh xóm đó ba vòng. Kỳ quái thay! Xóm này không còn bịnh ôn dịch nữa và những người bịnh không thuốc men gì cũng hết bịnh, không bị chết. Lúc đó, không ai biết chúng tôi đã làm gì, chúng tôi cũng không nói cho ai nghe, cho nên đây có thể xác nhận là thật có quỷ.

Chú Đại Bi cứu người thập tử nhất sinh

Hòa Thượng Tuyên Hóa kể: Tôi đến Đông Tỉnh Tử thì phải đi bằng xe. Tại sao tôi thường đến Đông Tỉnh Tử? Vì ông họ Quách có cô con gái muốn xuất gia tu hành, nhưng không tìm được Sư Phụ. Tôi giới thiệu cô đến hội Đạo Đức học đạo căn bản làm người. Bởi có cơ duyên nên mùa Thu năm đó, tôi lại đến Đông Tỉnh Tử gặp vị đệ tử quy y tôi.

Lý Thắng Tỉ làm thôn trưởng ở đó, một ngày nọ hai vợ chồng ông gây lộn, bà vợ nóng giận bèn uống một chén nước tro để tự tử. Ở phương Bắc, nếu bỏ chút nước tro vào sữa đậu nành tức có thể làm đậu hủ, nếu chúng ta dùng một chút nước này trong thức ăn thì không sao, nhưng nếu dùng nhiều là có thể bị độc chết. Vì vậy khi uống nước này xong, bà ta sôi bọt mép, mắt không thấy gì, cũng không thể nói chuyện. Con trai bà nghe nói tôi ở Đông Tỉnh Tử bèn tìm đến tôi.

Chú quỳ dưới đất bên cái kháng (giường bằng gạch) cầu thỉnh tôi cứu mẹ chú. Lúc đó tôi không đáp lời chú, cũng không để ý đến chú. Qua 20 phút sau, chú vẫn còn quỳ ở đó. Vốn là nếu uống nước độc này mà qua 20 phút thì không cách gì cứu được. Tôi thấy chú này rất thành tâm, tôi bèn nhận lời đến nhà chú. Đến nơi, tôi tụng trì chú Đại Bi, trì tụng khoảng 5 phút, người bất tỉnh nhân sự này, bèn ói ra hết các nước tro đã uống mà không hề gì. Đây là một chứng minh cụ thể của việc trị bịnh bằng chú Đại Bi. Sau khi trải qua sự việc này đã có rất nhiều người trong thôn trì tụng chú Đại Bi.

Chú Đại Bi uy cảm thiên địa

Tụng chú Đại Bi là nương sức mạnh của chú làm tiêu tội nghiệp, quỷ thần Thiên nhân nghe rồi lập tức cũng tiêu định nghiệp của họ. Tụng kinh chú ắt có thể khiến chúng sinh minh lý, biết sai hối lỗi, vĩnh viễn dứt vô minh. Người tu hành chân chính tụng kinh, sẽ khiến Thiên nhân nghe được tăng thọ, quỷ thần sớm ra khỏi ác đạo chuyển sinh vào cõi lành. Ngài Quả Khanh kể:

Có một thanh niên tên Tiểu Phí, sau khi tôi khuyên y dứt tuyệt đồ mặn, ăn chay trường, tập tĩnh tọa rồi, thì chưa đầy mấy ngày y đã đạt được một số năng lực vi diệu. Một hôm y đến nhà tôi chất vấn:

– Ngài nói tụng Chú Đại Bi uy cảm thiên địa hả? Nhưng hằng ngày, sáng nào tôi cũng đều tụng mười biến Chú Đại Bi, song chẳng thấy hiện tướng lành gì ráo, chỉ thấy quỷ thần qua đường ngó tôi nửa mắt mà thôi, việc này là sao vậy?

Lúc đó Quả Đạt (con trai tôi) 15 tuổi cũng đang ở đó. Thế là tôi bảo cả hai:

– Bây giờ tôi tụng Chú Đại Bi , Tiểu Phí thì lo nhìn cảm ứng trên trời, còn Quả Đạt thì theo dõi cảm ứng nơi địa ngục nhé!

Căn dặn xong tôi liền ngồi khoanh chân, gõ mỏ chuông (lúc đó tôi còn rất chấp tướng, thực ra chẳng cần vậy) và bắt đầu tụng Chú Đại Bi. Tôi tụng chưa được mấy câu, thì chợt nghe tiếng Tiểu Phí khóc nức nở bên tai. Sau khi tụng xong, tôi hỏi y:

– Vì sao mà khóc vậy?

Y đáp:

– Ngài vừa gõ chuông, thì tôi thấy có rất nhiều Thiên nhân, quỷ thần tụ hội, ngài vừa đọc chú lên thì có rất nhiều thiên chúng đồng quỳ xuống chắp tay nghe, có lúc họ đứng chắp tay nghe, còn có hai con rồng đang bay cũng đáp xuống, nằm trên đất lắng nghe. Ngài tụng xong rồi thì tất cả đều hành lễ mà đi, tôi chấn động quá nên bật khóc.

Quả đạt thì kể trong lúc tôi tụng chú, nơi địa ngục liền đình chỉ tất cả hình phạt trị tội. Toàn bộ kẻ thọ hình đều quỳ tại đó chắp tay hướng lên nghe Chú Đại Bi. Tụng chú xong, thì nơi địa ngục bắt đầu hành hình lại, nhưng mức độ giảm đi, người thọ hình chịu thống khổ cũng nhẹ hơn. Nghe họ kể tự nhiên tâm tư tôi cao hứng, thế là tôi bảo Tiểu Phí:

– Giữ giới chẳng phải chỉ là không sát sinh, không ăn thịt mà còn phải: Không làm các điều ác, siêng làm các điều lành, thành thật sám hối các tội nghiệp đã tạo trong quá khứ nữa. Hễ bạn càng tinh tấn sửa tật tánh mình, thì âm thanh tụng chú biến chuyển càng vang xa và chúng sinh đến nghe càng đông! Tụng kinh trì chú là như vậy đó! Hễ ai không làm các điều ác, luôn làm các điều lành, thì khi tụng kinh trì chú sẽ chiêu cảm vô lượng công đức. Nếu người tham sân si nặng hoặc không giữ giới mà tụng kinh trì chú thì chẳng đạt được kết quả tốt.

Lúc đó tôi mới trì giới, thời gian bỏ mặn ăn chay chưa được lâu, cho nên chỉ tụ tập được nhiều thiên nhân, quỷ thần đến nghe chú. Nếu như tôi tu hành tốt, ắt sẽ có vô lượng chúng sinh đến nghe kinh, thọ ích. Hơn nữa trong lúc tụng kinh chú, tâm phải định tĩnh chuyên nhất, nếu không sẽ khó đạt kết quả tuyệt đối.

Trì chú Đại Bi cảm ứng Chư thiên rải hoa cúng dường

Hòa thượng Tuyên Hóa kể: ” Tôi ở Đông Bắc còn có một đệ tử, chú này khoảng 14 tuổi. Tuy rằng là đệ tử nhỏ, nhưng thần thông của chú không nhỏ chút nào. Chú có thể lên đến trời và chui xuống đất. Chú có được ngũ nhãn nhưng không được lậu tận thông. Nếu được lậu tận thông là chứng đắc quả vị A La Hán rồi.

Một ngày nọ, chú ta chạy lên trời chơi. Thiên ma trên đó rất thích chú, bèn nhốt chú vào trong cung điện của ma vương, là một cung điện sáng bóng trong suốt giống như xây bằng lưu ly, vô cùng mỹ lệ. Vì chú có ngũ nhãn, nên thấy được pháp thân mình đến chỗ đó nhưng không ra được. Chú bèn nói với tôi: “Sư Phụ, con lên trời, bây giờ không trở về được!” Tôi nói: “Ai bảo chú đi vậy?” Chú ta nói: “Con tưởng ở trên đó vui lắm nên mới đến xem thử, ai ngờ mấy người trên đó không cho con về.” “Chú nghĩ chơi vui thì được, nhưng chú không được lên đó chơi! Đó là thiên ma ở trời lục dục thiên, chuyên môn phá hoại định lực của người tu hành đấy!” Nghe tôi nói vậy chú ta càng hoảng hốt, nói: “Ma vương nhốt con lại rồi, không cho con trở về, vậy phải làm sao đây?” Tôi nói: “Chú đừng sợ! Ta nay dạy cho chú cách trở về.” Tôi dùng chú Ngũ Đại Tâm trong chú Lăng Nghiêm khiến cung điện của ma vương tan biến mất. Do đó chú ta mới được thoát thân trở về. Thật là đã xảy ra chuyện như vậy.

Mỗi ngày tôi thường cùng với 20 mấy đệ tử quy y của tôi niệm chú Đại Bi. Mỗi lần niệm là chúng tôi quỳ niệm đến hai giờ đồng hồ. Trong nhà vốn không có bông hoa, nhưng khi chúng tôi trì chú Đại Bi khoảng hơn 200 biến là nghe có mùi hương thơm ngát khắp nhà. Loại hương này tuyệt không có ở nhân gian, từ xưa đến nay chúng tôi chưa bao giờ ngửi được mùi hương như vậy. Tôi có một chú đệ tử vừa trì chú Đại Bi vừa hít ngửi mùi hương thơm, càng thơm chừng nào, chú ta càng hít dữ chừng nấy: “A! Thơm quá! – A! Thiệt là thơm quá!” Tôi nói: “Chú làm cái gì vậy hả?” “Thơm quá đi thôi!” Tôi nói: “Chú hãy chuyên tâm trì chú Đại Bi đi, chớ có chạy theo mùi hương như vậy.”

Về sau các đệ tử của tôi đều được một số cảm ứng, cũng đều khai mở trí huệ hiểu biết các pháp và tâm lượng cũng lớn rộng. Sau đó, tôi muốn đem các chú trẻ này tới đây, nhưng rất tiếc là các chú không thể đi xa nhà. Sau này các chú đều bị mất trí huệ đã có được cũng như tất cả các sự diệu dụng khác. Hiện tại các chú cũng giống như những người bình thường khác mà thôi!

Chú Đại Bi siêu trừ nghiệp chướng

Hòa Thượng Tuyên Hóa dạy: “Các vị phải học gấp chú Đại Bi, mỗi người đều nên học chú Đại Bi, vì sau này có dịp dùng tới. Trong tương lai nếu nơi mình ở có vấn đề gì, gặp yêu ma quỷ quái gì, ngay lúc nguy cấp đó các vị đều nên niệm chú Đại Bi, tức Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ bảo hộ cho các vị, tiêu tai miễn nạn!”, Ngài kể:

Vào năm 1945, tại Thừa Thiên Tự, Tô Châu, Trung Quốc có vị Hòa Thượng trụ trì tuy là Phật giáo nhưng lại tin theo ngoại đạo, thờ cúng Hồ Tiên (hồ ly), cho nên Hồ Tiên ra vào chùa tự do. Người và Hồ Ly sống hài hòa với nhau. Hòa Thượng Thủ tọa Đại Minh đã từng triều bái tứ đại danh sơn, là vị rất có đức hạnh. Khi Hòa Thượng nhập thất duyệt đọc Đại Tạng Kinh, Hồ Ly cũng tới chỗ nhập thất của Ngài mà đồng tu. Lúc Hòa Thượng xem kinh thì nó nằm ngủ trên tấm nệm lễ Phật của Ngài. Khi Ngài muốn lễ Phật thì Ngài bảo nó: “Ta muốn lạy Phật đó! Ngươi tránh ra coi!” thì nó ngoan ngoãn đi ra khỏi phòng. Đợi khi Thủ Tọa lạy Phật xong, nó quay trở về ngủ trên đệm đó. Ngày nào cũng vậy trải qua một thời gian dài, hai bên trở thành đôi bạn đạo.

Một ngày kia, Hòa Thượng Thủ Tọa hơi bực dọc nên lúc muốn lạy Phật nói xẵng với Hồ Ly: “Nếu ngươi không tránh ra, ta đánh ngươi chết bây giờ!” Hồ Ly trừng mắt nhìn không nhúc nhích, xong nhắm mắt lại, giả vờ ngủ mê. Nó nghĩ, Thầy là người xuất gia có tâm từ bi, mở cửa phương tiện, cho nên nó làm biếng không đi. Bấy giờ Thủ Tọa nóng giận nói: “Ngươi có lý nào là khách mà muốn lấn át cả chủ hả! Ta đánh chết ngươi đây!” Thủ Tọa vừa nói vừa lấy cây hù dọa nó, nhưng Hồ Ly vẫn ngủ lì trên đệm. Thủ Tọa trong phút nóng nảy lỡ xán cây xuống làm vỡ đầu Hồ Ly. Thế là Thủ Tọa phạm giới sát nên trong tâm rất hối hận không biết phải làm sao? Nghĩ tới nghĩ lui, hốt nhiên Thủ Tọa nhớ ra có người nói, nếu đánh chết Hồ Ly nên lấy thịt nó cho người khác ăn tức sẽ tiêu nghiệp sát. Vì thế, Thủ Tọa vội lột da nó rồi biếu xác nó cho người và nghĩ rằng, thế là xong việc.

Bảy ngày sau, trong thiền định Thủ Tọa hốt nhiên nghe tiếng của Hồ Ly nói: “Tôi đã đến Diêm Vương thưa Thầy, bắt Thầy phải bồi thường sanh mạng cho tôi.” Nghe xong Thủ Tọa hết sức kinh hãi, bắt đầu niệm chú Đại Bi. Bởi có thần lực của chú Đại Bi gia hộ, nên Hồ Ly không đến gần Thủ Tọa được. Hồ Ly bèn chiêu tập một số âm binh tử trận Nhật Bổn bắn pháo đạn vào Thủ Tọa, nhưng bắn nhiều ngày cũng không trúng Thủ Tọa. Tại vì sao? Vì Thủ Tọa đã tập trung tư tưởng tụng Chú Đại Bi, không rời chỗ ngồi, cho nên pháo đạn chỉ rơi hai bên trái phải của Ngài mà thôi!

Trải qua nhiều ngày, Thủ Tọa không ăn không uống, ngay phút chốc sức cùng lực tận, tinh thần hoảng hốt đó, đầu gối Thủ Tọa không may bị trúng đạn và âm binh Nhật Bổn lập tức phân tán. Thấy chúng rút lui Thủ Tọa rất đắc ý, tưởng là sau này sẽ được bình yên vô sự. Ai ngờ vừa mới khởi vọng tưởng này, Thủ Tọa lập tức cảm thấy đau nhối ở chỗ bị trúng đạn và cúi xuống nhìn thì thấy đầu gối mình bỗng sanh mụt ghẻ mặt người, có miệng có răng, vừa sưng vừa đau. Thủ Tọa trị liệu thuốc men gì cũng vô hiệu quả.

Có người bày với Thủ Tọa rằng: “Nếu đắp thịt lên mụt ghẻ mặt người thì sẽ bớt đau nhức.” Thủ Tọa thử xem, quả nhiên có hiệu nghiệm. Nhưng đến lúc mụt ghẻ mặt người ăn hết thịt rồi, nó lại hành nhức nhối trở lại. Cứ vậy mà Thủ Tọa bị mụt ghẻ mặt người hành hạ, khổ không kể xiết.

Qua nhiều ngày thống khổ, Thủ Tọa giác ngộ rằng, chỉ khi nào tiêu trừ được nghiệp chướng mới miễn trừ được sự đau khổ. Do đó Ngài chân thật tu hành, không còn so đo tới sự đau nhức nữa. Ngài nhẫn chịu trăm phần khổ sở, nhất tâm lạy Phật sám hối nghiệp sát. Qua 3 năm sau, vết thương của Thủ Tọa mới lành. Do đây, chúng ta mới biết rằng, nghiệp báo sát sanh là lợi hại nhất. Các vị nhớ đừng sát sanh mà làm nhiều công đức phóng sanh.

Chú Đại Bi phá ma chướng

Người tu hành càng cao, ma khảo càng nhiều. Tổ Thiền Tâm dạy: “Gặp cảnh ma chướng quá nhiều, người xưa còn có phương pháp là sắm hai mặt gương soi, rồi nhập thất bốn mươi chín ngày, chuyên tụng chú Đại Bi hoặc chú Chuẩn Đề gia trì vào trong gương. Xong, treo hai tấm gương trên cao chiếu nghiêng xuống nơi chỗ thường ngồi trì niệm, một để trước mặt, một ở sau lưng. Nếu loài ma đến liền bị thâu bắt hiện hình vào gương, chừng ấy hành giả muốn đuổi đi hay hành phạt gì tùy ý. Gương phép này lâu lâu phải dùng vải sạch lau chùi và gia trì thần chú một lần. Làm như thế nó chẳng những nhắc nhở cho sự trong sáng của tâm linh, mà còn tăng thêm phần ứng nghiệm. Đây là cách dùng gương để đối trị nội ma và ngoại ma theo kinh nghiệm của tiền nhơn.” Ngài kể:

Có một nữ Phật tử, tánh tình rất tốt, song thường lâm cảnh ngoại ma quấy nhiễu. Một độ nọ, trong lúc đang tu, cô bị ma ngoại đạo vây khổn, và nghe tiếng nói: “Ông cha mi đều là người tu theo phái Ngũ Hành của chúng ta, sao mi không trở về gốc cũ, lại đi theo đạo Phật?” Cô kinh hãi chí tâm niệm Phật, mỗi câu niệm Phật thấy có một làn ánh sáng phát ra che phủ thân mình, bọn ma không làm chi được. Chúng tức giận bảo: “Mi đừng cậy có phép Phật mà tự đắc tự kiêu, sẽ có người trưởng thượng của chúng ta đến đây cho mi biết thủ đoạn!” Nói xong, chúng liền rút lui.

Khi ấy cô bỗng nghe tiếng một vị thiện thần bảo: “Bọn chúng ganh hờn vì cô quy y Tam Bảo, không theo đạo ông cha mà thờ cúng chúng nó. Ngay bây giờ cả hai tay cô nên kiết ấn Kim Cang quyền, bấm ngón tay cái vào lóng gốc ngón áp út và nắm chặt lại. Cứ giữ y như thế rồi thành tâm trì chú hoặc niệm Phật mãi, vì giây lát sẽ có người lớn của bọn chúng đến đây, dùng phép ngũ lôi đánh và bắt hồn cô. Vây cánh chúng rất đông, tôi chỉ giúp đỡ phần nào thôi, bởi cô thế không làm sao xua đuổi bọn nó nổi. Sức của cô cũng chỉ có hạn, sợ e lâu ngày chẳng kham chống trả, tốt hơn nên vào chùa tu mới tránh khỏi nạn.”

Cô liền y theo lời dặn, nắm tay lại kiết ấn và trì chú Đại Bi. Giây lát bỗng nghe tiếng ồn ào đông đảo, rồi có một làn chớp từ trên đánh xuống nặng nề như búa bổ, nóng rát rêm nhứt cả đầu. Cô liền buông bỏ tất cả ý niệm, liều mạng chí tâm trì chú, không còn biết cảnh giới bên ngoài ra sao, giây lâu nghe xung quanh lặng lẽ, thân tâm trở lại trong trạng thái yên ổn bình thường. Sau đó, cô nương vào chùa, nhưng vì còn bà thân già hay đau yếu không ai săn sóc, nên bắt buộc phải về nhà lo phần sanh kế để phụng dưỡng.

Một khoảng thời gian cách xa không gặp lại, bút giả nghe tin cô hay nói chuyện hư huyền, và xướng ra làm bịnh, biết cô chống không nỗi nên đã bị ma ám nhập, chỉ riêng thầm thương xót thở than! Cho nên những vị trước kia có liên hệ với ngoại phái sau trở về tu Phật, nên nhìn gương trên mà lưu tâm cẩn thận.

Chú Đại Bi nhiệm mầu không thể nghĩ bàn

Ngài Quả Khanh kể:

Ngày 14 tháng 8 năm 2007 Nhật báo Thiên Tân đã đăng một chuyện lạ khó tin như sau:

Trong khi giới Nông nghiệp Trung Quốc mở hội “Nông nghiệp hiện đại hóa” áp dụng kỹ thuật lai giống hoặc chuyển biến gien, cho dùng phân hóa học, thuốc tăng trưởng, thuốc diệt cỏ và cơ giới hóa quy mô, thì ông An Kim Lỗi ở thôn Đông Tử Long, thị trấn Mã Đồn, huyện Táo Cường, tỉnh Hà Bắc lại thực hành trái ngược. Ông khởi nghiệp tại vùng hoang sơ này, chỉ dùng hạt giống của mình gieo trồng không hề áp dụng kỹ thuật biến đổi gien hay cho lai giống hoặc xài phân hóa học, nông dược chi. Ông chẳng giết côn trùng, không làm bù nhìn đuổi vật, mà còn dành ra một vùng trồng riêng dành cho hơn năm trăm con chim sẻ ăn. Cả chó trong nhà ông nuôi cũng cho ăn chay.

Mọi người thấy vậy đều cho là kỳ quái, không ai hiểu được ông. Kết quả thế nào? Các ruộng bông nông nghiệp hữu cơ của ông phát triển rất tốt, sản lượng tăng cao, chi phí thấp, sinh thái bình ổn. Còn các vùng dân làng trồng theo kỹ thuật nông nghiệp hiện đại thì cây mọc không tốt, sản lượng chẳng cao, chi phí rất tốn kém, môi trường sinh thái ác hóa (bị xấu tệ). Quan trọng hơn nữa là, vùng đất của An Kim Lỗi canh tác không hề sử dụng thuốc, vậy mà ruộng vườn sinh thái quân bình, hài hòa thấy rõ: Một vùng xanh tươi căng tràn sức sống, không giống như các cánh đồng xịt đầy thuốc sâu. Đấy là, dưới nguyên tắc: “Tự mình sinh tồn còn giúp cho kẻ khác sinh tồn”, các sinh vật hiện hữu đều cảm ân, tợ như ngầm giúp đỡ cánh đồng hoa màu của An Kim Lỗi được tăng gia sản lượng.

Cây bông vải của An Kim Lỗi không hề dùng thuốc sâu và phân hóa học, vậy mà khối lượng thu hoạch vượt xa mọi người, đồng thời còn đem lại thu nhập cực cao, làm chấn động cả dân làng vùng đó. Cánh đồng bông của An Kim Lỗi mượt óng, nhìn ưu việt vượt trội hẳn mọi người, vì vậy mà năm nay trang trại ông được một nhà máy dệt để mắt đến, xin ký hợp đồng và thu mua hết. Hàng ông tốt đến nỗi mỗi cân bán được 4.5 đồng trong khi giá thị trường mỗi cân chỉ có 2.7 hoặc 2.8 đồng. Không những thế, hạt kê và các loại nông sản khác của ông trồng cũng cho sản lượng cực cao và ưu việt, hơn nữa môi trường sinh thái rất tuyệt hảo.

Chuyện này không có gì là ngẫu nhiên, tại Hà Nam tôi gặp một nông dân trẻ tên Quốc An. Lúc đó những người trồng bắp ở đây đều dùng thuốc diệt côn trùng, riêng anh lại quyết định niệm Chú Đại Bi cho đám sâu trong hai mẫu bắp của mình. Mỗi ngày anh tụng hai trăm biến, hy vọng hoa màu tăng trưởng phát tốt, năm ngoái khi chưa biết đạo, anh còn dùng cái bình to phun thuốc giết chết côn trùng vô số. Anh kể tôi nghe chuyện trồng trọt của mình như sau:

“Từ khi học Phật hiểu nhân quả rồi, tôi nguyện thà cam chịu hai mẫu bắp kém thu hoạch chứ nhất quyết không sát sinh giết côn trùng nữa. Sau đó thấy côn trùng trong vùng càng lúc càng nhiều, cư dân láng giềng sợ ruộng bắp bị côn trùng phá hư nên xúm nhau góp ý kiến nghị với tôi. Gặp tình huống “chẳng đặng dừng” này, tôi đành đeo bình thuốc lên vai cho dân làng nhìn thấy yên lòng nhưng thực ra bên trong chứa toàn nước lã, tôi vừa xịt nước vừa tụng Chú Đại Bi liên tục, còn âm thầm khấn vái chư Bồ-tát gia hộ, đừng để côn trùng kéo đến đất mọi người. Được một thời gian, đột nhiên trong một đêm, những côn trùng hiện hữu bỗng nhiên biến mất tăm mất tích. Rẫy bắp tăng trưởng cực tốt, toàn thôn cuối cùng cũng thu hoạch sản lượng rất cao, khiến tín tâm học Phật của tôi càng thêm kiên định”.

Xem qua mấy câu chuyện các nông dân Phật tử kể ra như thế rồi, bạn có muốn thử chăng? Đầu tiên bạn phải thành tâm sám hối những lỗi sát sinh trước đây của mình, thề không phạm lại nữa. Bạn phải thệ nguyện từ nay nghiêm trì giới cấm của Phật, và hãy dùng nước Chú Đại Bi thay cho thuốc trừ sâu, chân thành tụng kinh hồi hướng cho những chúng sinh đến quấy phá. Thời kỳ đầu có thể côn trùng vẫn còn tái tới lui. Nhưng nếu bạn nhất định kiên trì thực hành theo cách này, thì sẽ nhanh chóng phát hiện: Việc thế nhân cho rằng không bao giờ có thể xảy ra sẽ hiển hiện đành rành trước mắt bạn vô cùng kỳ diệu. Bởi Phật pháp vốn là thuốc hay chữa trị tốt cho mọi vấn đề. Chỉ cần bạn có lòng tin và kiên trì thực hành.

Tụng Chú Đại Bi siêu độ Oan gia trái chủ

Ở Bắc Kinh có Lê nữ sĩ, chồng bà họ Tiêu, có con tên Tiêu Tiếu, được mười ba tuổi. Từ khi Tiêu Tiếu sinh ra, thị lực đôi mắt rất kém chỉ được 0.1. Vì vậy lúc học tập hầu như Tiêu Tiếu phải dán mắt sát tập mới thấy chữ. Hơn nữa nhãn cầu loạn động không ngừng. Bác sĩ chẩn đoán do tròng đen bị tổn thương lại mang khuyết tật bẩm sinh, thêm phần nhãn cầu thường rung động nên không thấy rõ.

Tiêu Tiếu tuy thị lực kém, nhưng bản tính rất tự cao, hung hãn. Nếu gặp ai tỏ thái độ khinh khi là nó lập tức tung chưởng, ra đòn thần tốc, nó hay đấm vào mặt bạn học, làm nạn nhân bị thương nơi mắt, cha mẹ nó thường vì chuyện này mà bị trường mời tới mắng vốn hoài. Còn một chuyện khiến mẹ nó rất phiền muộn là, Tiêu Tiếu thường bất hòa hục hặc với cha, phụ thân cũng chẳng ưa con trai. Hai cha con hễ gần nhau là gây chuyện ầm náo không dứt. Nếu con trai ra ngoài đánh đấm gây họa, về nhà tất nhiên sẽ bị cha thịnh nộ quát mắng. Mỗi lần như thế, Tiêu Tiếu thường căm phẫn nói:

– Đợi tôi lớn khôn rồi, sẽ tính sổ với ông!

Bà Lê là người hiền huệ thiện lương, hết dạ kính chồng yêu con, bà đứng ở giữa không biết làm sao, do vậy mà ngày ngày sầu muộn khôn nguôi. Một hôm bà xem cuốn “Báo ứng Hiện đời” trải qua bao kiếm tìm vất vả, cuối cùng cũng điện thoại được cho tôi. Bà thống thiết kể lể bao khổ não của mình, cầu xin giúp đỡ. Tôi bảo:

– Con trai bà ra đòn, toàn đánh vào mặt đối phương, đó là tại “cha nó truyền dạy cho nó”. Hơn nữa chồng và con bà cực kỳ ưa xem phim võ thuật đấm đá. Nghe tôi nói bà lộ vẻ rất ngạc nhiên rồi gật gù xác nhận:

– Dạ đúng! Đúng thế ạ! Sau đó cả nhà bà đi xe hỏa đến gặp tôi, tôi kể cho họ nghe câu chuyện xa xưa: “Vào thời Minh có đôi vợ chồng là võ sư, do không có con, nên họ thu nhận một ái đồ làm con nuôi và cưng yêu như con đẻ. Sư phụ bèn truyền cho con nuôi thế võ tuyệt kỹ gia truyền có tên là “Ưng trảo công”, chuyên móc mắt đối thủ.

Sau này, đệ tử vào làm cho một tổ chức nọ (giống như Cẩm Y Vệ hoàng cung), chuyên thay chủ đi ám sát những kẻ đối nghịch bất đồng chính kiến, anh làm nhiều ngƣười bị mất đi tròng mắt, sống không bằng chết. Vì vậy đã khiến cho giới võ lâm phẫn nộ, họ hợp lại cùng bày mưu và bắt được anh, sau đó dùng cực hình bức cung, ép anh rằng: Nếu đồng ý khai ra tên sư phụ, thì sẽ được tha mạng. Anh đệ tử (cũng là con nuôi) do bị cực hình tàn khốc nên chịu hết nổi, bèn khai tên sư phụ ra, giới võ lâm giữ đúng lời hứa, cho anh lưu lại mạng tàn nhưng họ phế hết võ công và đánh trọng thương hai mắt anh. Riêng sư phụ, sư mẫu anh nhờ võ công cao cường, nên họ trốn thoát được cuộc truy sát của giới võ lâm và phải ẩn cư tận chốn thâm sơn.

Sư phụ biết được do đệ tử đã khai tên mình ra nên căm phẫn ngút trời, mặc dù sư mẫu khuyên can hết lời, song ông khó thể nguôi ngoai. Phần đệ tử sau khi chữa lành vết thương thì hai mắt cực yếu, qua bao cố gắng, anh tìm được sư phụ sư mẫu, nhưng bị sư phụ căm hận báo thù bằng cách: Dùng độc dược hại chết anh. Đệ tử chết rồi thì vào địa ngục chịu vô lượng khổ, thoát khỏi địa ngục thì đầu thai làm rắn mắt kính, mãn kiếp rắn thì sinh vào nhân gian, có thị lực yếu kém, là do phải thọ dư báo của ác nghiệp xa xưa. Riêng sư phụ sư mẫu anh, trải qua bao kiếp luân hồi cũng đầu thai vào nhân gian, do nghiệp lực chiêu dẫn, nghịch duyên xui họ tìm tới nhau! Anh đệ tử quá khứ kiếp này sinh làm con ruột, nhưng oán hận xa xưa vẫn còn, mới khiến cha con đối nghịch nhau như kẻ đại thù ngay trong đời hiện tại. Còn cái thói hễ đánh lộn là cứ nhè mặt người mà đánh, khiến họ bị thương nơi mắt, là tập khí ác mấy kiếp trước anh đệ tử còn mang theo qua đến đời này. Nếu hiện đời không biết ăn năn sám hối, cùng nhau hóa giải oán hận thì kiếp sau hai cha con sẽ gặp lại nhau trong cõi súc sinh và cùng ăn nuốt lẫn nhau, khi đó có muốn mang thân người lại cũng là chuyện “vạn kiếp khó được”.

Tiêu Tiếu nghe xong thì rất tin, không chút nghi ngờ, vội hướng tôi tha thiết hỏi cách làm sao để diệt tội? Tôi đáp:

– Hiện nay con đã là phận con, lại dám cùng phụ thân gây cãi đánh mắng tay đôi, còn phát thệ lớn lên sẽ báo thù, thêm tật bướng lì không nghe lời mẹ khuyên, như vậy là phạm tội bất hiếu ngỗ nghịch với cha mẹ, nếu chẳng mau sám hối, thì ngay trong đời này sẽ thọ khổ vô tận, rồi tương lai sau khi chết đi sẽ đọa vào địa ngục vô gián.

Tiêu Tiếu nói:

– Con đã biết lỗi rồi, giờ phải sám hối như thế nào?

Tôi quay qua chỉ vào phụ thân cháu bảo:

– Đây là phụ thân, người sinh dưỡng ra con hiện đang ở trước mặt, nếu con muốn bày tỏ tâm ý chân thành sám hối, thì hãy tự nghĩ xem mình phải làm sao và nói như thế nào để cầu xin cha tha thứ cho?…

Tiêu Tiếu thưa:

– Con sẽ quỳ xuống xin lỗi… Tôi bảo:

– Thế thì còn đợi gì nữa mà không làm ngay?

Tiêu Tiếu thật ngoan, cháu lập tức quỳ xuống trước mặt cha và thưa:

– Cha ơi, do trước đây con không hiểu chuyện, nên mới đánh cãi với cha, làm cha giận, con biết mình sai rồi, cầu xin cha hãy tha thứ cho con. Từ nay trở đi, con nguyện làm đứa con hiếu thuận vâng lời.

Những người có mặt tại đó đều bị lòng thành của thằng bé làm cho cảm động, thảy đều vỗ tay khích lệ. Nhưng người cha chẳng thèm nói năng chi, mặt lộ vẻ không thoải mái. Rất dễ hiểu, oán hận trong lòng ông chưa thể tiêu tan. Thấy vậy, tôi liền bảo Tiêu Tiếu và mọi người:

– Tiêu Tiếu đã nhận ra lỗi, thành tâm sám hối giữa chúng, nên không tội nào mà không tiêu. Từ nay về sau chỉ cần cháu chân thành sửa lỗi, không ôm lòng hận cha nữa, thì mối oan nợ với cha xem như ngay đây được xóa sạch!

Từ rày phải phụ giúp những gì mẹ làm không kịp, lo chăm chỉ học tập, không được đánh chúng bạn nữa. Nếu bị người đánh mắng, phải biết tự kềm chế không được tung đòn, vì đó là ác nghiệp quen tạo trong kiếp xưa còn mang theo đến giờ. Từ nay về sau, sáng hoặc tối, nên tranh thủ những lúc rảnh, rót một ly nước cúng trước Phật, quỳ tụng từ bảy đến 21 biến Chú Đại Bi. Trước khi đi ngủ hãy dùng nước này rửa mắt, thị lực sẽ dần chuyển tốt. Đương nhiên là phải ăn chay trì tụng Chú Đại Bi mới được gia trì không chướng ngại. Từ nay về sau hằng ngày phải tụng từ 7 đến 21 biến Chú Đại Bi, thì con sẽ ngày càng thông minh, có tương lai tốt. Còn nữa, con phải thường phóng sinh để sau này thân thể khang kiện, chẳng bệnh nặng mà còn được trường thọ. Con chỉ cần tu hành cho tốt, đợi khi tội nghiệp đời này tiêu tan, tương lai sẽ được vãng sinh thế giới Cực Lạc. Ta nói vậy, con có tin chăng?

Tiêu Tiếu thưa:

– Dạ tin ạ! (Lúc này Tiêu Tiếu vẫn còn quỳ trước mặt cha).

Tôi bảo cha hắn:

– Vừa rồi tôi đã kể chuyện nhân duyên kiếp trước cho ông nghe. Do ông truyền dạy võ độc cho đồ đệ nên hắn mới tạo ra lắm tội. Còn chuyện hắn khai ra tên sư phụ, là do bị nhục hình bức cung. Bản thân ông chẳng những không biết sám hối, ngược lại còn ra tay hạ độc giết chết đệ tử. Thù ấy hận này, nếu đổi lại là ông, ông có oán hận hay không? Đời này nhờ vợ ông mộ đạo thành tâm, gieo duyên sâu với Phật, cũng nhờ Phật lực gia trì, mà ông mới có cơ hội biết rõ nhân duyên túc nghiệp ân oán kiếp xưa của mình. Thế mà ông không biết cảm tạ ân Phật và hiền thê, ngược lại còn đối với đứa con đang thành tâm quỳ trước ông tạ lỗi kia, không chút mềm lòng. Hiện tại con ông tội nghiệp đã tiêu. Phần ông nếu không biết sám hối ăn năn những tội lỗi mình đã làm, thì tôi vẫn có thể cho phép con ông đứng dậy. Từ nay về sau, đến lúc nghiệp báo ông trổ, thì đừng có hối! Lúc này người cha đã nghe và hiểu minh bạch, mặc dù không muốn, song ông vẫn ráng nói một câu:

– Ba cũng có chỗ không đúng!

Rồi đưa tay đỡ con đứng dậy. Thấy cảnh này, mọi người đều vỗ tay tán thưởng. Hôm sau, bà Lê gọi điện tới, mừng rỡ kể lể:

– Vừa lên hỏa xa thì hai cha con đã chịu ngồi chung bên nhau, câu chuyện đời trước và tập quán đời này, trở thành đầu đề bàn luận cười vui của cả nhà. Nghe vậy, tôi cũng mừng cho họ. Vừa rồi có vị cư sĩ báo cho tôi: – Tiêu Tiếu đã thi đậu trung học, thành tích đứng hạng nhì toàn trường. Em cũng không còn đánh bạn, quan hệ hai cha con đã chuyển tốt. Tôi nghe xong cảm thấy rất an ủi, thầm tạ ân Phật pháp đã cứu độ vô lượng tín chúng lìa khổ được vui. Trong sám văn nói: “Tập khí xấu đời này không đoạn, kiếp sau sẽ càng tăng” là có thực không dối. Phàm là đệ tử Phật, thì phải nỗ lực hành trì cho thấu đáo, “nghĩa là danh hiệu Phật cần niệm vang vang nơi miệng, thầm thầm nơi tâm”. Như vậy bao nghịch duyên thâm tình, sẽ được ân tăng oán diệt đời sau không còn khổ não ở Ta bà.

Tụng chú Đại Bi như thế nào là đúng chánh pháp.

Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, Tổ Thiền Tâm dạy: Theo trong Hiển Mật Viên Thông, người tu Chân ngôn về sắc trần cần phải rõ rệt, như quán nước phải ra nước, quán lửa phải ra lửa, chớ không thể khác được. Riêng về thinh trần thì dù tiếng tăm đọc tụng có trại với Phạm Âm đôi chút cũng không sao, miễn có lòng tin tưởng chí thành là được công hiệu. Vì thế, từ trước đến nay, hàng Phật tử ở Trung Hoa cho đến Việt Nam ta, khi đọc tụng chú, thật ra đều trại với chánh âm, song vẫn cảm được oai thần công đức không thể nghĩ bàn. Vậy người học Phật, muốn trì chú, đừng lấy điểm này làm nghi, mà mất phần lợi ích. (Ý Tổ: Không nên câu chấp chuyện nên trì chú Đại Bi bằng tiếng việt hay tiếng phạn – Tuệ Tâm).

Lại trong kinh có câu: ‘Nếu tụng trì đúng pháp, tự nhiên sẽ được hiệu quả’. Vậy tụng trì đúng pháp là sao? Trong đây xin chia ra hai phương diện:

  1. Về mặt giữ gìn giới hạnh: Người trì chú cần phải giữ trai giới, trừ sát, đạo, dâm, vọng, kiêng cữ rượu, thịt, hành, hẹ, tỏi cùng các thức ăn hôi hám. Thân thể thường phải năng tắm gội, thay đổi y phục cho sạch sẽ, chớ để trong người có mùi hôi. Khi đại tiểu xong, phải rửa tay đọc chú. Trước khi trì chú phải súc miệng cho sạch. Lại nữa, trong thời gian kiết thất trì chú, người ấy chớ nên nói chuyện hí hước tạp nhạp, không nên khởi tâm hờn giận, hoặc tham tưởng sự ăn uống ngủ nghỉ hay sự dục lạc ngoài đời. Phải giữ lòng thanh tịnh, tin tưởng, thành kính.
  2. Về mặt lập đàn tụng niệm: Theo đúng pháp, người trì chú nào phải thờ vị Bổn Tôn của chú ấy. Như trì chú Đại Bi thì phải thờ tượng Thiên Nhãn, hoặc tượng Quán Âm 24 tay, 18 tay, 8 tay, 4 tay hay ít lắm là tượng Quán Âm thường cũng được. Nên để tượng day mặt về phương Tây. Theo quyển Bách Lục Thỉnh Quán Âm Nghi thì nếu có tượng Bổn Sư nên để tượng Thích Ca hướng về phương Nam, tượng Quán Âm hướng về phương Đông. Đàn tràng nên lựa chỗ vắng lặng sạch sẽ, thường dùng hương, hoa, nước trái cây, cùng các thứ ăn uống cúng dường tôn tượng. Nếu có phương tiện, treo tràng phan, bảo cái lại càng tốt. Thời gian cầu nguyện hoặc 7 ngày, 21 ngày, 49 ngày nên giữ cho đúng. Trước khi vào đàn, phải kiết giới y như kinh đã chỉ dạy. Trong một ngày đêm, chia ra làm 3, 4 hoặc 6 thời, tụng niệm tiếp tục, tiếng tụng cần phải rành rẽ, rõ ràng. Ngoài ra, nghi thức lễ bái, trì niệm cũng cần phải biết và học thuộc trước.

Trên đây là nói về cách lập đàn kiết giới tụng niệm để cầu cho được mau hiệu nghiệm, nếu người thường tụng trì, không bắt buộc phải theo lệ ấy. Nhưng trong 2 phương diện trên, gắng giữ được phần nào lại càng hay.

( Chú Đại Bi nhiệm mầu – Tuệ Tâm 2020)

Xem thêm:

+ Cách thay đổi vận mệnh.

+ Cách tụng kinh tại nhà.

+ Âm đức là gì.

+ Cách niệm Phật tại nhà.

+ 10 chuyện Tâm linh có thật.

+ 10 chuyện nhân quả báo ứng có thật.

+ Niệm Phật A Di Đà được cảm ứng.

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *