CHÚ ĐẠI BI LINH CẢM ỨNG

Chú Đại Bi, nơi Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát dạy: Nếu chúng sanh nào, trong một ngày đêm tụng năm biến sẽ trừ được trọng tội trong trăm ngàn muôn ức kiếp sanh tử. Nếu chúng sanh nào tụng thần chú Đại Bi mà còn bị đọa trong ba ác đạo thì con thề chẳng thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi mà chẳng sanh về các cõi nước Phật thì con thề chẳng thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi mà trong đời này hết thảy điều mong cầu chẳng được toại nguyện thì chẳng được gọi là Đại Bi Tâm Đà La Ni.

PHẦN 1: CHÚ ĐẠI BI LINH CẢM ỨNG

Chú Đại Bi

CHÚ ĐẠI BI CẢM ỨNG – CỨU KHỔ CỨU NẠN

1. Theo Tín Tâm Lục, ông Thái Tư Tương được cử giữ chức Thôi Tào Vận (kiểm soát vận chuyển đường thủy), thuê nhà dân để làm công sở, bốn phía không có tường, ở sát với nhà dân. Chợt hàng xóm bốc lửa, mọi nhà đều lo cứu đồ đạc, ông Thái ngồi yên không động đậy. Kẻ hầu nhiều lần van nài ông Thái hãy lánh nạn, nhưng ông ta chẳng đoái hoài. Lửa cháy lan tới, vượt qua công sở của ông Thái, còn cháy thêm mấy nhà nữa rồi mới tắt. Người ta hỏi ông có thuật gì, ông đáp: “Tôi kiền thành tụng chú Đại Bi”. Người ta bảo: “Thần chú cố nhiên linh nghiệm, lỡ vạn nhất không ứng nghiệm, thì há chẳng phải là chết uổng một mạng ư?” Ông Thái nói: “Nhà tôi nhiều đời trì tụng, những sự tích thoát khỏi những ách nạn đao binh, nước lửa, nạn gấp v.v… chẳng thể kể xiết. Còn như tôi trì chú Đại Bi đã hai mươi năm, phàm gặp phải nạn gấp, hễ cảm đều thông. Trong thời Càn Long, khi tôi sống ở kinh đô, nhà hàng xóm ở phía Nam bốc lửa, lại gặp trận gió nồm, lửa càng cháy mạnh, dọn chạy đồ đạc không kịp. Tôi tụng chưa xong một biến chú này, gió đã đổi chiều, lửa cháy ngược lại phía Nam, riêng nhà tôi không sao. Vì thế, biết sâu xa chú này được chư thần ủng hộ, gìn giữ, có thể chuyển biến ách nạn. Nếu lòng tin không chân thành, làm sao dám coi thường hiểm nạn cho được? Nhưng phải sám hối tội trước, tận lực làm chuyện lành. Mỗi ngày sáng tối kiền thành tụng chú năm bảy lượt thì sở cầu không chi chẳng được toại ý!”.

2. Theo Thương Túc Am Tùy Bút, vào đời Thanh, Thái Thú quận Phổ Nhĩ là Trần Đình Dục thờ Đại Sĩ hết sức kiền thành, hằng ngày tụng chú Đại Bi. Trong niên hiệu Đạo Quang, ông Trần theo ngả Giang Hán về kinh, sảy chân té xuống sông. Khi ấy, gặp cơn gió mạnh, trong chớp mắt đã cách thuyền cả dặm, nhưng nước chỉ ngập tới gối, hai chân như có vật gì nâng đỡ không bị chìm, chỉ có áo bào bay phần phật trên mặt sóng mà thôi. Ông bèn vội tụng chú Đại Bi, chưa được ba lượt, đã có người đến cứu, phần trên thân trọn chẳng bị ngấm ướt.

3. Theo Tịnh Độ Thánh Hiền Tục Lục, vào đời Thanh, Ngô Doãn Thăng ở Hổ Khâu, lúc bé, gặp một vị Tăng bảo: “Ngươi có thiện căn, tiếc là năm hai mươi chín tuổi sẽ gặp thủy tai. Chỉ có cách từ nay trở đi hãy kiêng giết, phóng sanh, mỗi ngày kiền thành niệm Phật, trì chú Đại Bi, may ra sẽ thoát được!” Ông Thăng tin nhận, phụng hành; lại còn đem chuyện này khuyên người khác. Đến năm hai mươi chín tuổi, từ đất Hàng ngồi thuyền về thăm nhà, sông nổi sóng rất nguy hiểm, vội chắp tay niệm Phật. Thuyền lật, rơi xuống nước, trong lúc mơ màng nghe có tiếng nói: “Ngô Doãn Thăng có công khuyên người niệm Phật, được thoát khỏi nạn này”. Mở mắt ra nhìn quanh thì thân đã ở trên bờ, đã được dân chài cứu lên rồi!

4. Theo Báo Ứng Lục, vị tăng đời Nguyên là Huệ Cung bị bệnh bao tử, không ăn uống được. Đêm mộng thấy một con mèo chui vào bụng, bệnh ngày càng nặng, thèm ăn cá. Tự biết là nghiệp báo, phát tâm niệm thánh hiệu Đại Sĩ trăm vạn câu, hằng ngày trì chú Đại Bi 108 biến. Về sau, mộng thấy đồng tử áo xanh xách giỏ đựng một con gà tới, con mèo bèn từ miệng sư Huệ Cung vọt ra. Sư kinh hãi tỉnh giấc thì đã lành bệnh.

5. Theo Nhất Hạnh Cư Tập, vào đời Thanh, vợ Bành Hy Tăng là Diêu Thị bụng nổi báng bèn phát tâm trì chú Đại Bi. Một đêm nọ, mộng thấy một bà lão trao cho một cành hoa bèn vui vẻ nhận lấy, chợt cảm thấy thân nhẹ như chiếc lá, bệnh liền khỏi. Diêu Thị làm thơ như sau: “Toan hướng Không Vương sám túc khiên, tâm hương sớm kết Lạc Ca duyên”.

6. Theo Báo Ứng Lục, đời Đường, Ngô X… làm lính đi đánh dân thiểu số, nấu con rùa trắng ăn, bị mọc ghẻ lở loét, rụng lông mày, ngón chân, ngón tay đều rụng, đi ăn xin ở chợ An Nam. Có vị Tăng bảo: “Nếu ngươi niệm Quán Âm Đại Bi Chân Ngôn ắt sẽ được thiện báo” rồi truyền dạy chú Đại Bi. Người lính ấy nhất tâm niệm tụng, vết thương dần dần lành, ngón chân, ngón tay lại mọc ra, bèn [xuất gia] làm tăng, hiệu là Trí Ích. A Già Đà (Agada) là tên một món thuốc ở phương Tây có thể trị hết thảy bệnh.

7. Theo sách Đồ Thuyết, Tăng Xử Thao người Thai Châu, mắc bệnh mắt, thường tụng chú Đại Bi, mộng thấy Đại Sĩ truyền dạy bài kệ, mỗi sáng lấy một chén nước sạch, niệm bảy biến rồi dùng nước ấy để rửa mắt, không ai chẳng được lành. Kệ rằng: “Cứu khổ Quán Thế Âm, cho con đại an lạc, và ban đại phương tiện, diệt trừ ngu si ám, Hiền kiếp các chướng ngại, các tội ác vô minh, ra khỏi nhà tăm tối, khiến con thấy ánh sáng. Tôi nay nói cách rửa, sám hối, gỡ tội mắt, khắp phóng quang minh sạch, nguyện thấy tướng vi diệu”. Bài kệ này được truyền tụng, những người làm theo phần nhiều đều linh nghiệm.

LINH ỨNG CHÚ ĐẠI BI – TRỪ TÀ QUÁI

1. Theo Linh Nghiệm Ký, trong niên hiệu Thiệu Hưng đời Tống, vợ người họ Châu ở Dư Can đi đường gặp ba con rắn chắn lối, bà ta bèn nhảy qua. Rắn đuổi theo, chợt biến thành ba gã trai, nhằm đúng lúc người làng là Cung Lê Thần đi tới, thấy con rắn to vờn quanh người đàn bà mấy vòng khiến cô ta ngã nằm sõng xoài trên đất. Ông Cung bèn lớn tiếng niệm chú Đại Bi, dũng mãnh quát rắn, rắn bèn tháo lui.

2. Theo Ngọc Đường Nhàn Thoại, đời Đường, Âu Dương Xán chuyên trì chú Đại Bi. Ngẫu nhiên đi đêm gặp mưa, từ trong hang thẳm giữa rừng rậm xông ra một vật dài hơn cả trượng chặn đằng trước. Ông Xán hoảng sợ, muốn trì chú Đại Bi, nhưng cứng miệng chẳng thể thốt ra tiếng, bèn niệm thầm mấy biến rồi mới có thể tụng rõ ra tiếng, quái vật bèn ẩn trốn.

3. Theo Quảng Dị Ký, đời Đường, Lý Hân trì chú Đại Bi. Có người bị bệnh sốt rét, ông Hân trì chú, quỷ nói: “Vốn muốn làm khó ngươi, nay sợ Lý Thập Tứ Lang, chẳng dám đến nữa!” Ông Hân sang sống trọ ở Hà Nam, em gái ông ta chết vì bệnh dịch, mấy bữa sau sống lại, nói: “Thoạt đầu bị mấy người dẫn tới gò mả, muốn làm nhục. Một người nói: ‘Đây là em gái của Lý Thập Tứ Lang. Hắn trở về sẽ dùng thần chú làm khó bọn ta’, chúng bèn đưa về”.

4. Đời Tống, con nhà họ Uông ở Kỳ Môn đi đường, bị mấy người trói lại đem đi, buộc vào cột của ngôi miếu cổ, thưa rằng: “Xin mời đại vương tự nhận lấy”. Uông biết là bọn họ giết người tế quỷ, bèn niệm tụng chú Đại Bi. Ban đêm, có tiếng gió rít như tiếng sấm, một con mãng xà to mắt sáng như đuốc bò tới, ba lượt tiến lại lùi. Sáng ra, cậu Uông được người khác cởi trói, liền thoát nạn.

5. Theo Linh Nghiệm Ký, Trương Thành ở Cát Thủy, trong niên hiệu Càn Đạo đời Tống, nghỉ đêm ở vùng ranh giới Lễ Lăng. Chủ quán tiếp đón trọng thể, rượu nồng, cỗ đầy, tâm kinh ngạc, lấy làm lạ, thoái thác không thể uống rượu rồi bỏ đi ngủ. Hồi lâu, thấy đuốc trong gian nhà chính thắp sáng, bèn nhìn trộm, thấy chủ quán lạy lục, khấn trước một bức tranh vẽ, nhiều lần nhắc tới ông khách họ Trương, biết là hắn sẽ đem mình tế quỷ. Nhìn sang bức tranh vẽ, thấy hai tròng mắt như cái chén, ông Trương vội trì chú Đại Bi. Vừa được mấy biến, thấy yêu quái từ trong bức vẽ tụt xuống, hình dạng đanh ác, bèn đóng cửa, càng dốc sức tụng chú, nghe ngoài cửa có tiếng đập phá. Trời vừa sáng, ông Trương chạy ra, nghe thấy người nhà chủ quán kêu khóc, đi hai dặm mới tạm nghỉ, nghe người ta nói: “Chủ quán chết bất ngờ”. Cật vấn sự tình thì ra nhà ấy ba đời thờ yêu quái, mỗi năm tế một người. Nếu không có người ngoài thì sẽ giáng họa xuống chủ nhà.

6. Theo Linh Cảm Phú, hai vị Tăng ở Lô Sơn, một vị trì chú Vãng Sanh, vị kia trì chú Đại Bi cầu sanh Tịnh Độ. Người trì Vãng Sanh mất trước, đảnh đầu ấm. Vị trì chú Đại Bi mất sau, thoạt đầu thân lạnh, bàn chân nóng như lửa; hồi lâu sau, đảnh đầu bèn nóng, bàn chân lạnh như băng, ấy là điềm ứng nghiệm diệt nghiệp địa ngục, vãng sanh Tây Phương vậy.

7. Theo Cảm Ứng Thiên Tăng Chú, đời Tống, Lý Quận Quân đã sẵn có đức hạnh tốt đẹp, thường trì chú Đại Bi. Do bị bệnh, họ Lý đi vào cõi âm, thấy hai người quyền cao chức trọng ngồi trên tòa cao ngất ngưởng, liền thầm niệm chú Đại Bi, điện đường lay động, bên trái, bên phải đều muốn đổ nhào. Người quyền quý bảo: “Đừng tụng nữa, sẽ thả cho ngươi về. Do lúc còn sống từng nhặt được hạt châu đánh rơi, trả lại cho người ta, nên tăng thọ hai mươi năm”. Tỉnh dậy bèn lành bệnh.

8. Theo Hiện Quả Tùy Lục, trong thời Khang Hy nhà Thanh, Hiếu Liêm Đới Ngô Duyệt ở Tô Châu hành vi rất phóng đãng, người bị hại rất nhiều, bị bộ Công bắt giữ, chết trong ngục. Đúng lúc ấy, trong thành có người tên X… bị chết bất ngờ, sống lại, kể: “Vua cõi âm sai bỏ họ Đới vào vạc dầu. Từ chỗ đất bằng bỗng trồi lên một vạc dầu. Quỷ lấy chĩa xiên họ Đới bỏ vào vạc. Ông Đới hô lên: ‘Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da’, vạc dầu vỡ nát, trên mặt đất hoa sen trồi lên. Vua cõi âm phán: “Hắn đã có thể tụng chú Đại Bi cho nên không phạt được, hãy cho hắn đầu thai vào nhà xấu ác”. Bầy tôi tâu: “Gã X… ở Gia Hưng làm ác, lập đàn cầu con”. Vua liền cho ông ta đầu thai vào nơi ấy. Sang Gia Hưng hỏi thăm, mọi chuyện đều chẳng sai!

9. Đời Tống, thần rừng hộ sơn chùa Năng Nhân tại Phước Châu trước kia vốn là một con khỉ bị dân chúng bắt sống, trói lại, đắp bùn lên thành tượng thờ gọi là Hầu Vương (vua khỉ). Lâu ngày nó tác quái, nhiều người bị hại. Trưởng lão Tông Diễn thương xót con khỉ oan nghiệt nặng nề bèn tụng chú Đại Bi độ nó. Ban đêm mộng thấy có người đàn bà chân khỉ lấm lem máu, dẫn con khỉ nhỏ buộc bằng xích sắt, đến bái tạ nói: “Đệ tử là Hầu Vương, nay nhờ pháp lực giải thoát sanh lên trời. Xin hãy cởi trói cho con khỉ nhỏ”. Đến sáng mở khám thờ ra xem, thấy xác khỉ bị xiềng ba vòng, từng bị bọn đồng cốt bắn trúng nách trái, bèn phá sạch hết đi, những chuyện tà quái tuyệt tích.

10. Đời Tống, một vị tăng ở Hổ Khâu là Pháp Đạo do bị bệnh liền biến hình thành ngạ quỷ, bụng to, họng nhỏ. Người ta cho ăn bèn kêu là viên sắt. Đạo pháp sư tụng chú Đại Bi, đem nước đã tụng chú rưới lên, Pháp Đạo bèn đòi ăn cháo, dần dần khỏi bệnh.

CHÚ ĐẠI BI LINH CẢM ỨNG – CỨU KHỔ BAN VUI

Linh ứng Quán Thế Âm Bồ Tát

1. Theo Quán Hà Tập, năm Ất Tỵ (1785) đời Càn Long nhà Thanh, Tô Châu hạn hán, cư sĩ Bành Nhị Lâm (Bành Tế Thanh) kết giới hai mươi mốt ngày tụng tâm chú Đại Bi, trì thêm thánh hiệu của Tây Phương Phật (A Di Đà Phật), bỏ ăn trưa. Mãn kỳ hạn, mưa ngập nửa thước. Có thơ rằng: “Hung niên bất đáo liên hoa quốc, từ tế trường hoài tử trúc lâm, phần đắc tư nhân cơ bán nhật, chi đầu điểm trích dã thành lâm” (Cõi hoa sen chẳng bị mất mùa, rừng trúc biếc lòng Từ sẵn giúp, kẻ mọn nhịn ăn chừng nửa buổi, giọt sương ngọn trúc hóa mưa dầm).

2. Theo Cảm Ứng Thiên Đồ Thuyết, vào đời Thanh, Tào Thành Tú gặp một vị Tăng bảo: “Nếu ngươi có thể kiêng thịt bò, thịt chó, sẽ có thể hiển đạt”. Ông Tú nói: “Tôi là hạng bắn cung, cỡi ngựa tầm thường, sao dám mong cầu công danh?” Vị Tăng bảo: “Nếu có thể sáng tối tụng chú Đại Bi, lo gì chẳng đạt được phước báo ấy?” Thành Tú bèn giữ giới, tụng chú không gián đoạn. Vào chốn quan trường, dường như có thần giúp, không đầy mấy năm, làm quan đến chức Thiên Tổng. Tự ghi vào năm Càn Long 12 (1747).

3. Theo Tân Tề Hài, Tưởng Tâm Dư lúc làm quan Trung Hàn, mộng thấy lính lệ cầm thiếp đến mời, bèn theo đến một tòa miếu, cỡi ngựa đất bay lên không trung. Không lâu sau, ngựa hạ vó dưới thềm một nơi trông rộng lớn như chỗ vua ngự. Tấm biển bên trái ngôi điện ghi là “Thiên Đường”, từng gian sáng ngời. Tấm biển bên phải ngôi điện đề “Địa Ngục”, sâu tối khó lường. Địa ngục có giếng, người ta tự nhảy xuống đó. Vua truyền mời ông Tưởng vào điện, bảo: “Ta hết nhiệm kỳ sẽ ra đi, ông hãy thay ta”. Ông Tưởng thưa: “Tôi còn mẹ già con thơ, việc chưa xong làm sao có thể đến nhậm chức được?” Vua nói: “Ông có tài đức, tiếng tăm, sao lại chẳng thông đạt đến mức ấy? Chuyện trên đời muốn xong bèn xong. Ta đã tâu lên Thượng Đế, không thể nào vãn hồi được đâu!” Ông Tưởng uất quá, tỉnh giấc, mồ hôi thấm ướt mền. Ngồi dậy, lại mộng thấy vào cõi âm. Trên điện bày năm cái tòa, án từ chất như núi. Nha lại chỉ tòa thứ năm bảo: “Đây là chỗ của ngài”. Ông Tưởng trông thấy thầy dạy là Phùng Tĩnh Sơn, bèn trình bày tình cảnh mẹ già, con thơ. Ông Phùng buồn bã nói: “Tôi vợ dại, con thơ, cũng là kẻ không thể đến nhậm chức. Việc đã đến mức này, đừng nói nhiều nữa! Hãy mau lo liệu hậu sự mà thôi!” Tỉnh giấc, ông bèn qua nhà vị quan đứng đầu địa phương là Vương Hưng Ngô chào vĩnh biệt. Ông Vương kinh hãi bảo: “Mặt ông xám như trét than, quỷ khí đầy người”. Ông kể lại giấc mộng, họ Vương khuyên nên tụng chú Đại Bi. Cả nhà bèn trai giới tụng niệm. Đến nửa đêm, ông Tưởng thấy một chiếc kiệu từ trên không trung hạ xuống, có mấy người khiêng kiệu, rõ ràng là kẻ đến đón, bèn tụng chú gấp hơn, họ liền như sương khói tan mất. Ba năm sau, được thăng chức Từ Lâm.

4. Theo Phụ Trì Nghiệm Ký, trong thời Đạo Quang nhà Thanh, Lưu Dực Đình ở Kim Lăng tự nói: “Tôi mỗi sáng thức dậy ắt đối trước tượng Đại Sĩ tụng bảy biến chú Đại Bi, suốt hai mươi năm không lười nhác. Một bữa trời xẩm tối, có một bà cụ bước vào, bảo: ‘Đến ngày nọ sẽ bị tai nạn, nên cẩn thận’ rồi đi ra. Gọi người nhà dâng trà thì ai nấy kinh ngạc, chẳng thấy bà cụ đâu nữa! Tới hôm ấy, đêm ngủ, thức dậy đi tiểu, ngã lăn ra đất, chân phải mắc vào trong ghế, đau không thể chịu nổi, thầm trì chú Đại Bi, mấy ngày mới lành. Ấy là vì thờ Đại Sĩ đã lâu, nên được Ngài linh thiêng che chở. Nay tuổi đã sáu mươi tám, quắc thước dị thường, đều là nhờ sức của Đại Sĩ”.

5. Theo Tứ Hương Thảo Đường Bút Ký, Mao Sĩ Ngọc ở Trường Châu do buôn bán vải thua lỗ, lại trúng sương gió, bị ho rất nặng, bèn phát nguyện tụng chú Đại Bi, liền lành bệnh. Về sau, con là Đỉnh Hanh đón về phụng dưỡng tại kinh đô, thọ tám mươi tư tuổi, không bệnh tật mà mất.

6. Theo Thánh Kinh Hội Toản, Vạn Văn Ngọc ở Kinh Sơn tự nói: “Tôi trì chú Đại Bi, Tâm Kinh, linh dị khôn ngăn thuật trọn. Gặp hung hóa cát, khởi tử hồi sanh, quả thật chính thân tôi đã từng chứng nghiệm. Nhớ khi mẹ tôi bị bệnh nguy ngập sắp mất, tôi đau lòng khóc lóc chảy cả máu, quỳ trước tượng Đại Sĩ, tụng một biến chú Đại Bi, mẹ liền cảm thấy có người dẫn trở lại dương gian, dần dần thở thong thả, nói năng, cử động được, mấy hôm sau là khỏe hẳn. Phật pháp vô biên, quả chẳng phải là lời nói dối”.

7. Theo Minh Du Xác Ký, vào đời Thanh, Châu Triệu Canh ở Trường Châu, vợ là Trình Thị, vào năm Đạo Quang 12 (1832), bệnh gan bộc phát, liền nói giọng quỷ, khẩn cầu Triệu Canh hãy tụng chú Đại Bi để giúp siêu độ. Do vậy, hỏi quỷ có oán thù đời trước với người bệnh hay không? Đáp: “Không có!” Hỏi: “Bệnh không sao ư?” Đáp: “Chí tâm niệm Phật ắt sẽ được lành”. Tháng Tám năm sau, bệnh lại phát ra, hai mươi mấy ngày chẳng ăn uống gì được, bèn niệm Phật không ngớt. Sau đó, bà vợ hôn mê chẳng biết gì, hồn đi vào cõi âm, thấy Diêm Vương thẩm tra tù nhân, thiện ác đều rất rõ rệt. Do Trình Thị ăn chay niệm Phật, niệm Kim Cang Kinh, chú Đại Bi, nên vua bèn thả về. Bà ta bèn kể tỉ mỉ những điều đã thấy, Triệu Canh ghi lại thành bộ Minh Du Xác Ký để khuyên đời.

8. Theo Khuyến Giới Loại Sao, họ Phùng ở Đồng Hương đời đời tích đức. Phùng Cẩm làm quan ở Sơn Hữu, không có con, vợ trì chú Đại Bi hết sức kiền thành. Vợ người hàng xóm mộng thấy một bà lão bế hai đứa bé một gầy một béo đến, đỡ lấy đứa béo thì nó rớt xuống đất chết, lại đỡ lấy đứa gầy thì bà lão bảo: “Đứa này sẽ trao cho nhà họ Phùng”. Vợ người hàng xóm sanh con không nuôi được; còn Phùng phu nhân sanh ra Hạo, thuở bé gầy còm, yếu đuối. Đến lớn, Hạo dần dần trở thành khôi ngô, cao lớn, từ chức quan Hàn Lâm chuyển lên Ngự Sử, không chuyện tốt lành nào chẳng tận lực thực hiện. Nay đã bảy mươi lăm tuổi, hai vợ chồng hạnh phúc, khỏe mạnh, có ba con trai đều đỗ đạt làm quan.

9. Theo Trì Nghiệm Ký, Lương Nguyên Chinh ở Hoài An không con, lắm bệnh. Do vậy, phát tâm ăn chay trường, hằng ngày tụng chú Đại Bi, Bạch Y Kinh. Vợ cũng trì Chuẩn Đề Trai, sáng sớm quỳ tụng kinh. Không lâu sau, ông Chinh khỏi hẳn bệnh, vợ sanh được ba con. Đứa con thứ hai đỗ khoa thi Hương.

10. Theo Cao Tăng Truyện, tập Ba, đời Đường, ngài Tri Huyền là người đất Thục (Tứ Xuyên), phô diễn kinh luận, Tăng, tục đều kính ngưỡng, nhưng buồn vì ngữ âm không chỉnh, bèn tụng chú Đại Bi nơi núi Tượng Nhĩ. Sư mộng thấy thần tăng cắt lưỡi trao đổi. Hôm sau bèn nói đúng giọng xứ Tần, được vua ban hiệu là Ngộ Đạt quốc sư

11. Theo Cao Tăng Truyện, tập Bốn, vào đời Thanh, sư Diễn Nghĩa tự là Trạm Tu, thường trì chú Đại Bi, nói là có thể trừ nạn hổ. Khi ấy, người đất Tương (Hồ Nam) khổ sở vì bị hổ làm hại, tự bắt chước làm theo, tiếng tụng chú Đại Bi vang khắp các hẻm núi, cuối cùng hổ tuyệt tích.

Lại nữa, sư Trinh Biện trích máu vẽ tượng Quán Âm. Có hai thiên nữ đến quấy rối, Trinh Biện thề rằng: “Tâm ta không phải là đá, ta dùng thần chú bắt ngươi, sao còn chẳng đi?” Từ đấy ma trọn không còn tung tích.

12. Theo Phật Tổ Thống Kỷ, đời Tống, sư Huệ Tài tự hận tối tăm, chậm lụt, thường trì chú Đại Bi, chợt mộng thấy một vị Phạn tăng cao mấy trượng, cởi ca-sa đắp cho. Những gì đã nghe được trước kia và sau này đều hiểu thông suốt hết.

13. Theo Cao Tăng Truyện, tập Bốn, đời Nguyên, ngài Hoằng Tế thường tu Pháp Hoa Sám, cảm ứng linh dị. Năm Thái Định thứ hai (1325), bờ biển ở Diêm Quan (tỉnh Chiết Giang) bị hủy hoại, cư dân sợ bị nước biển vùi lấp sẽ biến thành cá, ba ba. Thừa Tướng Thoát Hoan xin ngài Hoằng Tế cầu đảo trước tượng Đại Sĩ ở chùa Thượng Thiên Trúc, lập trai hội Thủy Lục. Ngài Hoằng Tế nhập Từ Tâm tam-muội, lấy cát biển tụng thần chú Đại Bi, rải khắp nơi ấy. Dấu chân Sư đi đến đâu, bờ biển lại kiên cố như cũ, mọi người đều khâm kính Sư như thần.

14. Theo Giác Hổ Tập, thiền sư Quảng Ân bế môn, tuyệt thực, tụng chú Đại Bi. Khi ấy nhằm lúc tiết Đông rét dữ, đứa con nhà họ Hoắc tìm được hai quả đào trong đám cây hoang, tươi sạch đáng yêu, dâng cho Sư ăn. Từ đấy, Sư trì chú Đại Bi càng ứng nghiệm, lửa chẳng thể đốt, nước không thể chìm, kẻ tàn bạo chẳng thể hại được, đến mức gà mổ hương đem thắp, trâu thọ giới thuần phục, suối ngọt lại dâng đầy giếng cạn, một đấu gạo có thể cấp cho vạn người ăn. Có người phát tâm bố thí, nửa chừng đổi ý, trở về thấy bồ, sọt đầy ắp hoa sen, linh dị phi thường. Người ta gọi Sư là Bồ Tát.

15. Theo Cao Tăng Truyện, tập Bốn, đời Thanh, Chú Am là người Dương Châu, lúc bé tánh tình thô lỗ, cục cằn, không giữ giới, bị vị Tăng chủ trì quở trách, phẫn hận muốn báo cừu, tính muốn tiềm tu để rửa thẹn, tụng chú Đại Bi nơi Tàng Kinh Các của ngôi chùa Sư đang trụ. Sư bế quan ba năm mới ra, thần thái khác hẳn, nhún mình, nhũn nhặn, chẳng thể suy lường Sư đã chứng đắc đến mức nào. Ngẫu nhiên, trong quán trà nghe khách mổ xẻ ý nghĩa kinh, vặn hỏi hết sức khó khăn, Sư cười bảo những lời bàn luận ấy đều có chỗ sai sót, rồi đọc ngay cuốn sách vừa được khách bàn luận. Vừa đọc, vừa giảng, lũ khách kinh hãi kiếp phục. Do vậy, Sư vang danh học rộng, hiểu sâu. Nếu có ai đem những cuốn tiểu thuyết hoa mỹ đến thử, Sư cũng ứng tiếng đọc ngay ra, mới biết là kinh điển nhà Phật hay sách vở thế tục, cửu lưu, bách gia, thậm chí tiểu thuyết, hết thảy văn tự không gì chẳng từng đọc qua, không gì chẳng thuộc lòng. Do vậy, sự thần dị được lưu truyền, Sư được gọi là “thánh tăng”. Khi ấy, Văn Đạt Công Nguyễn Nguyên nghe danh Sư, thử tài, Sư đối đáp lưu loát, Văn Đạt phải kinh ngạc, than thở, bảo: “Sở chứng vượt trỗi mức độ của một bậc thầy trời người”. Sư thấy tăng nhân vui chơi bèn than thở: “Tai hại sắp xảy đến rồi, lão tăng chẳng đành thấy. Các ngươi làm sao thoát được”. Sư thị tịch hơn một năm thì bọn giặc từ Quảng Đông vây hãm Dương Châu.

16. Lại nữa, vào đời Đường, sư Thần Trí trì chú Đại Bi. Sư tụng chú vào nước để cứu trăm loại bệnh tật. Người uống nước ấy phần nhiều lành bệnh. Hằng ngày Sư ban nước Đại Bi không đếm xuể, mọi người gọi Ngài là Đại Bi Hòa Thượng. Con gái của Tướng Quốc Bùi Hưu bị quỷ thần dựa, ngài Thần Trí trì chú bảy ngày liền bình phục. Tướng Quốc bèn tâu vua, xin ban biển đề “Đại Trung Thánh Thọ” cho ngôi chùa Sư đang ở.

CHÚ ĐẠI BI LINH CẢM ỨNG – VÃNG SANH TÂY PHƯƠNG TỊNH ĐỘ

Thần chú của Quan Thế Âm Bồ Tát

1. Theo Giang Tây Thông Chí, vào đời Thanh, vị Tăng tên Hằng Tú tham học với ngài Vân Cư Hiển được khế nhập. Tuổi mới mười sáu mà đã ngồi lặng lẽ như cây khô, đi, dừng, ngồi, đứng, trong tâm chẳng quên trì chú Đại Bi và phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện. Một ngày nọ, Sư thấy hai đứa bé cầm tràng phan, cúi lạy nói: “Thượng sĩ trì Phật chú không ngừng, đáng chứng quả La Hán”. Sư bèn từ biệt đại chúng, niệm Phật viên tịch.

2. Lại nữa, vào đời Thanh, vợ ông Trương Quý Tư là Lục Thị, tuổi vừa mười bảy liền ăn chay trường niệm Phật, tụng chú Đại Bi hồi hướng Tây Phương. Thấy kẻ sát hại mạng loài vật, bà liền phát nguyện cứu độ. Trong niên hiệu Khang Hy, thấy trên không trung có xe và thuyền đi về phương Tây, những người điều khiển, chèo chống đều là Tăng, chưa đầy ba ngày sau, bà niệm Phật qua đời

3. Theo Thánh Hiền Lục, vào đời Thanh, Lăng Thị chăm làm lành, hành Đại Bi Sám, lễ Hoa Nghiêm Kinh suốt năm. Buổi tối tụng chú Đại Bi, niệm Di Đà Phật hiệu, cầu sanh Tây Phương. Một hôm Quán Âm Đại Sĩ hiện hình tượng, bà liền thị hiện mắc bệnh, bảo con gái: “Phật quang đầy nhà, ta đi đây”.

4. Theo Nhất Hạnh Cư Tập, người xứ Trần An tên là Mộng Nghiêm, thờ Quán Âm Đại Sĩ suốt ba mươi năm. Thoạt đầu nguyện đời sau làm Tăng để làm cơ sở sanh Tây. Bành Nhị Lâm khuyên ông ta hãy sanh thẳng về Tây Phương, do vậy tỉnh ngộ. Về sau, ông ta lễ tượng Đại Sĩ ở cầu Thái Thông quay về, mộng thấy một bà cụ mặc áo lam bảo: “Năm sau, ông chẳng qua được hai ngày này”. Đến kỳ hạn, ngã bệnh, trì chú Đại Bi, chợt liên tục niệm Phật rồi qua đời.

5. Theo Cao Tăng Truyện, tập Bốn, đời Thanh, sư Cơ Phổ tự là Chí Tây. Mẹ ngài mộng thấy người áo trắng trao cho đứa con bèn có thai. Sư chuyên tu Tịnh nghiệp, trì chú Đại Bi, linh ứng rất rõ rệt. Năm Dân Quốc thứ 4 (1915), trong Định, Sư thấy Bạch Y Đại Sĩ khắp thân đeo anh lạc, ngồi thuyền trăm thứ báu to như quả núi, lướt trên hư không đến đón. Sư bèn hướng về Tây niệm Phật qua đời.

6. Theo Thánh Hiền Lục, đời Thanh, Trầm Thiện Nguyệt là vợ ông Trần, tu Niệm Phật tam-muội, ăn chay, phóng sanh, hằng ngày tụng một quyển Phổ Hiền Hạnh Nguyện, mười lăm biến chú Đại Bi, niệm Phật ba vạn tiếng, mấy chục năm giống như một ngày. Bà mất rồi, trên ghế hiện hoa sen, hiện bóng chẳng diệt.

7. Theo Thánh Hiền Lục, đời Thanh, Dương Phất Trai, vợ là Từ Thị ăn chay niệm Phật và chú Đại Bi cầu sanh An Dưỡng. Một hôm bà ta niệm chú, người nhà cảm thấy tiếng vang ra ngoài cửa, nhìn lại thì bà ta đã mỉm cười, ngồi qua đời. Trời đang lúc nắng gắt, quàn xác ba ngày mà mặt vẫn như còn sống. Đem thiêu áo xống, ngọn lửa hiện thành hình hoa sen ngũ sắc.

8. Vào đời Thanh, vợ ông Vương Mai là Nhữ Quý Uyển dốc lòng niệm Phật. Bị bệnh nguy ngập, bảo mọi người: “Quán Âm Đại Sĩ đến rồi, ta đi đây”. Chắp tay, tụng chú Đại Bi, mọi người liền ngửi thấy hương chiên-đàn tràn ngập trong phòng, bà mỉm cười qua đời.

(Chú Đại Bi Linh Cảm Ứng – Trích từ Quán Thế Âm Bồ Tát Cảm Ứng Tụng)

PHẦN 2: CÁCH TRÌ TỤNG CHÚ ĐẠI BI

Chu Dai Bi

NGHI THỨC TRÌ TỤNG CHÚ ĐẠI BI  

Theo kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, để được lợi ích nhanh nhất khi trì chú Đại Bi, người tụng chú phải:” Phát Bồ Đề Tâm, thề cứu độ muôn loài, giữ dìn trai giới và kiêng cử ngũ vị tân”. Người trì chú Đại Bi phải giữ dìn trai giới, trừ sát, đạo, dâm , vọng. Kiêng cữ rượu, thịt,hành, hẹ, tỏi, cùng các thứ thức ăn hôi hám. Thân thể phải siêng tắm gội, thay đổi y phục cho sạch sẽ, chớ để trong người có mùi hôi. Khi đại tiểu tiện xong, phải rửa tay sạch sẽ. Trước khi tụng chú phải súc miệng sạch. Đứng chắp tay, quỳ, hoặc ngồi xếp bằng tụng cũng được, miễn là tâm trang nghiêm thanh tịnh.

  • Nếu nhà chưa có bàn thờ Phật thì quay mặt sang hướng Tây mà trì tụng.
  • Nếu có bàn thờ Phật thì quỳ hoặc ngồi xếp bằng trước bàn thờ trì tụng.

1. PHÁT NGUYỆN

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con mau biết tất cả pháp,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con sớm được mắt trí huệ,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con mau độ các chúng sanh,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con sớm được phương tiện khéo,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con mau lên thuyền Bát Nhã,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con sớm được qua biển khổ,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con mau được Đạo Giới Định,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con sớm lên non Niết Bàn,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con mau về nhà vô vi,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con sớm đồng thân pháp tánh,

Nếu con hướng về nơi non đao,

Non đao tức thời liền sụp đổ,

Nếu con hướng về lửa nước sôi,

Nước sôi, lửa cháy tự khô tắt,

Nếu con hướng về cõi  địa ngục,

Địa ngục liền mau tự tiêu diệt,

Nếu con hướng về loài ngạ quỷ,

Ngạ quỷ liền được tự no đủ,

Nếu con hướng về chúng Tu La,

Tu la tâm ác tự điều phục,

Nếu con hướng về các súc sanh,

Súc sanh liền được trí huệ lớn,

 2. NIỆM DANH HIỆU QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

Chí tâm xưng niệm danh hiệu: Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát – ít nhất là 15 biến, nhiều hơn càng tốt.

3. NIỆM DANH HIỆU PHẬT A DI ĐÀ

Chí tâm xưng niệm danh hiệu: Nam mô A Di Đà Phật – ít nhất là 15 biến, nhiều hơn càng tốt, sau đó niệm: Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (03 lần).

4. TỤNG CHÚ

Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da.

Ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.
Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế.

Di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế.

Đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da.

Hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra cẩn trì địa rị sắc ni na.

Ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha.

Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha.

Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha.

Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ ta bà ha.

5. HỒI HƯỚNG

Sau khi đã tụng chú(Bao nhiêu biến tùy sức tùy thời của bạn), người tụng chú hồi hướng như sau:

Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát(03 lần). Toàn bộ công đức tụng chú Đại Bi Tâm Đà La Ni này con xin hồi hướng cho Pháp giới chúng sanh, nguyện Tam Bảo gia bị cho tất cả cùng lìa khổ được vui, mọi mong cầu thành hiện thực và cùng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc Quốc. Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Lạy 01 lạy rồi lui ra.

(Chú Đại Bi Linh Cảm Ứng- Tuệ Tâm 2019)

Xem thêm:

+ Cách thay đổi vận mệnh

+ Cách tụng kinh tại nhà

+ Âm đức là gì.

+ Cách niệm Phật tại nhà.

+ 10 chuyện Tâm linh có thật.

+ 10 chuyện nhân quả báo ứng có thật.

+ Niệm Phật A Di Đà được cảm ứng.

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *