NIỆM PHẬT NHƯ THẾ NÀO ĐỂ CHẮC CHẮN ĐƯỢC VÃNG SANH

Người niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh Độ Cực lạc, ai mà không mong muốn mình chắc chắn được vãng sanh! Tuy nhiên, đạo lý để chắc chắn được vãng sanh lại rất ít người biết đến.

Niệm Phật

Hầu hết mọi người đều có tập quán nương vào Tự lực để đạt được mục đích. Dù vậy, kết quả giải pháp này như lên núi tìm cá, nấu cát để được cơm, hay xe chạy về hướng Nam mà đi về hướng Bắc để tìm kiếm vết xe; để rồi, càng tìm cầu càng xa rời sự thật. Pháp sư Tịnh Tông nói: ” Tôi là một kẻ ngu muội đáng thương, tự biết việc lớn bậc nhất trong đời là sanh tử sẽ đến, nên mỗi ngày đều sống trong lo sợ. Dù hằng ngày có niệm Phật, nhưng không biết phải niệm Phật như thế nào; có nghĩ đến việc vãng sanh, nhưng không biết làm thế nào để được vãng sanh. Một câu danh hiệu Phật mà nuốt mãi không chịu vào, thổ mãi không chịu ra. Tự lực thì không có một chút, Phật lực cũng chẳng biết gì. Hai điều đều không thể cậy trông mà việc chết thì đang ở trước mắt, thật vô cùng hãi sợ, ai cùng cảnh ngộ thì sẽ cảm nhận rõ ràng. Đến khi đọc được tác phẩm của Pháp sư Huệ Tịnh, như người đang mộng mới tỉnh giấc, biết rõ Phật là như thế nào, Niệm Phật là như thế nào, biết rõ vấn đề sanh tử Luân hồi từ vô thỉ cho đến bây giờ có thể chấm dứt, vừa buồn vừa vui khó chế ngự…”.

Lại bảo: ” Tôi vốn biết sâu sắc rằng, mình đã tạo tội ác sâu dày, đang đón nhận quả khổ đau nặng nề, nếu không có Bản nguyện của đức Phật A Di Đà cứu độ thì chẳng có một pháp nào khác, khi chết chắc chắn Địa ngục là nhà, là quê hương. Do vậy, tôi đem cả thân mạng quy hướng đức Phật A Di Đà, tinh chuyên xưng niệm Sáu chữ hồng danh; mặc kệ những ai tu tập nổi tiếng, có đại Trí tuệ, có đại Công đức, đối với tôi tuyệt nhiên chẳng có một chút hâm mộ, tuyệt đối không bị ảnh hưởng và chi phối để thay đổi đường hướng mà tu theo Tạp hạnh, Tạp tu. Nên biết rằng, Trí tuệ, Pháp tu và Công đức của những người ấy vốn chẳng phải phận sự và mong cầu của tôi. Thật sự, không có Trí tuệ nào vượt qua Trí tuệ niệm Phật, không có Pháp tu nào vượt qua Pháp xưng danh, không có Công đức nào vượt qua Công đức Sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật…”

Ngài Tịnh Tông là Pháp sư, giới hạnh  tinh nghiêm còn cảm thán đến vậy, chẳng lẽ phàm phu niệm Phật chúng ta không từng trải qua tâm trạng như Ngài đấy ư?

Chuyên tu và chánh hạnh niệm Phật 

Vào tiền kiếp lâu xa, đức Phật A Di Đà vốn là Bồ tát Pháp Tạng. Ngài vì chúng ta và hết thảy chúng sanh đang bị khổ đau trong mười phương mà phát thệ nguyện rộng sâu, kiến lập Tịnh Độ Cực lạc; đồng thời, giúp những hạng người luôn làm các việc ác độc khắp cả mười phương dễ dàng được vãng sanh về Tịnh Độ ấy, thệ nguyện rằng: “Nếu Con được thành Phật, chúng sanh trong mười phương xưng niệm danh hiệu của Con, tối thiểu chỉ mười câu, nếu không được vãng sanh thì Con không giữ ngôi Chánh giác”.

Như vậy, chính Ngài sử dụng lời thệ nguyện rộng sâu siêu thế ấy, vì chúng ta mà khai mở đạo lý, giúp chúng ta chắc chắn được vãng sanh; đồng thời, Ngài phải trải qua rất nhiều đời kiếp gian khổ tu tập, nguyện lực mới viên mãn và hình thành danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật; nghĩa là, nguyện lực vô cùng tận ấy được tóm thâu trong danh hiệu Sáu chữ, và danh hiệu này chính là đức Phật giáo chủ cõi Cực lạc tại phương Tây, cách thế giới chúng ta đang sinh sống mười vạn ức cõi Phật. Ngài phóng hào quang vô ngại (vô ngại quang) soi chiếu và nhiếp thọ chúng ta và chúng sanh khắp các thế giới trong mười phương. Chúng ta nên hiểu rằng: Sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật này, chính là đạo lộ duy nhất cho chúng ta và cho chúng sanh ở thế giới Ta bà vãng sanh về Cực lạc; nghĩa là, đây là đạo lý chắc chắn được vãng sanh, chỉ có đạo lý này là chân thật, ngoài ra không có đạo lý thứ hai hay đạo lý thứ ba nào khác.

Hòa thượng Thiện Đạo gọi sự kiện này là Con đường sáng của nguyện lực (Nguyện lực chi bạch đạo). Câu hỏi được đặt ra là:

– Làm sao thực hiện con đường sáng ấy?

Câu trả lời vô cùng đơn giản:

– Chỉ cần xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà là được hào quang của Ngài nhiếp thọ, không còn bị thối chuyển, tức được nguyện lực Bản nguyện của Ngài “Dẫn dắt một cách tự nhiên”, và “Hẳn nhiên vượt lên trên mọi duyên sự để vãng sanh về thế giới Cực lạc”.

Hòa thượng Thiện Đạo giải thích rằng: “Hiện nay đức Phật ấy đã thành Phật tại thế giới đó rất lâu rồi, cho nên biết rằng, Bổn thệ nguyện rộng sâu của Ngài không thể hư dối, chúng sanh nào xưng niệm hẳn nhiên được vãng sanh.” Qua đấy, chúng ta có thể nhận ra rằng: Đạo lý để hết thảy chúng sanh chắc chắn được vãng sanh do đây mà được thành lập, do đây mà khởi tín tâm, do đây mà xưng niệm danh hiệu, để rồi được vãng sanh Cực lạc, để rồi khẳng định thực hiện con đường sáng của nguyện lực ấy đã hiện hữu, và chẳng cần tốn công gảy móng tay đã đến phương Tây, há chẳng phải dễ dàng lắm sao!

Dù vậy, xưa nay chúng sanh sống trong mê vọng, đối với pháp cứu độ không thể nghĩ bàn của nguyện lực đức Phật A Di Đà rất khó Chánh tín, nghi ngờ đủ kiểu: Họ nghĩ rằng, những kẻ ngu si làm nhiều tội ác, chỉ đơn thuần niệm danh hiệu Phật A Di Đà, không tu tập Giới Định Tuệ, không làm các việc thiện để có công đức hồi hướng, không có công phu chế ngự phiền não, thì chắc chắn khi lâm chung vọng niệm ập đến tràn đầy không thể Chánh niệm; phiền não trùng trùng điệp điệp như thế làm sao được vãng sanh? Do tư duy như thế, họ quay lưng với pháp chuyên tu Niệm Phật của con đường sáng vô ngại, mà tranh nhau thực hiện Tạp tu, Tạp hạnh của con đường gập ghềnh đầy hiểm nguy, đến nỗi đức Bổn Sư Thích ca trong kinh Vô Lượng Thọ cảm thán rằng: “Dễ vãng sanh mà không có người tu!” Hòa thượng Thiện Đạo, chính là hóa thân của đức Phật A Di Đà đã xác minh nhất định rằng:

Chuyên tu chuyên niệm mười người tu vãng sanh cả mười; Tạp tu, Tạp hạnh, ngàn người tu không có một người thoát khỏi sanh tử.

Thời cận đại, Đại sư Ấn Quang tán thán cực độ câu xác minh này. Ngài bảo: “Đây là lời chân thật quý giá hơn vàng ngọc, sẽ hiện hữu hàng ngàn năm không thể đổi thay”. Con người trong thời đại bây giờ, nếu không tuân theo lời răn bảo của Hòa thượng Thiện Đạo, để Thuần nhất nương vào Bổn Nguyện đức Phật A Di Đà, thuần nhất xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, thì vấn đề vãng sanh Cực lạc sẽ giống như bọt nước, ảnh tượng. Tuy nhiên, trên thực tế để nhận xét, đa phần những người tu tập cầu sanh Cực lạc, do không được bậc Thiện tri thức chân chính tận tình hướng dẫn, dạy bảo; không biết về Bổn nguyện Tha lực của Phật A Di Đà; không biết rõ cội nguồn của pháp Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ nên như cây bèo không có gốc tùy theo gió thổi mà phiêu bạt đó đây trên mặt nước; như người mù chẳng thấy đường đi, chân bước loạn xạ. Vì vậy, pháp chuyên tu Niệm Phật thật khó quán triệt, nên thích thú pháp Tạp tu, Tạp hạnh như thủy triều dâng trào; sai lầm chỉ một đời để rồi phải đọa vào khổ đau sanh tử.

Chúng ta đã được làm thân người là điều khó trong những điều khó làm, đã được nghe Phật pháp là điều khó trong những điều khó nghe, đã được phát đạo tâm là điều khó trong những điều khó phát, đã được tin pháp Tịnh Độ là điều khó trong những điều khó tin. Nếu để một lần nữa đọa xuống Tam đồ, đây là điều bi đát vô cùng tận, sầu đau mãi chẳng bao giờ dứt! Sự khổ đau, ô uế của thời Mạt pháp càng ngày càng tăng, nên đức Phật A Di Đà đặt biệt càng hết lòng thương mến và bậc Thiện tri thức thuận duyên mà xuất hiện; đây là Pháp sư Huệ Tịnh, như là đóa Phân-đà-lợi vĩ đại trong cõi người. Hiện nay là thời đại mà sự ô uế và phi đạo đức diễn bày rất thậm tệ. Ngài ra đời với hương đức hạnh tỏa khắp bốn phương, làm thạch trụ cho mọi người nương tựa, là bóng mát cho những ai cần che chở. Ngài nâng cao ngọn đuốc Chánh pháp Bổn nguyện của đức Phật A Di Đà, để đại bố thí ánh sáng vô úy cho những kẻ mê mờ; đồng thời, đi sâu vào pháp chuyên tu bí yếu của Tổ sư Thiện Đạo, để dẫn dắt người tu Tạp hạnh nhất hướng trở về với pháp chuyên tu Niệm Phật.

Ngài là người đầu tiên chính thức căn cứ vào Kinh điển và các bộ Luận của chư Tổ, để chỉnh lý, hệ thống giáo nghĩa tông Tịnh Độ; đồng thời, Ngài còn biên dịch một số tác phẩm liên quan đến Tịnh Độ trên hai mươi quyển, độ vài trăm chương, những tác phẩm này được phổ biến khắp trong nước lẫn nước ngoài. Có thể nói, đây là hành hoạt vực dậy cội nguồn chân thực của pháp môn Tịnh Độ, để truyền bá đúng cốt tủy của Phật và chư Tổ. Qua đây, tông Tịnh Độ hoàn toàn độc lập như các tông khác, và pháp Niệm Phật với tôn chỉ chuyên nương vào Tha lực, hiển nhiên được sáng tỏ. Hơn ngàn năm chân diện mục của Lô sơn đã bị mù sương phủ kín, nay được khai mở tận nguồn chơn: Pháp Niệm Phật là đạo lý căn bản vĩnh trừ chướng nạn, là pháp dễ tu, dễ vãng sanh, vạn người xưng niệm là vạn người sanh Cực lạc. Đây là hành hoạt, trên kế thừa chư Tổ để chuyển tải nguồn mạch Bản nguyện của đức Phật A Di Đà đã bị lãng quên hàng ngàn năm, dưới đem ân huệ của đức Phật trao cho chúng sanh đầy tội lỗi, khổ đau trong thời kỳ Mạt pháp và Pháp diệt. Với Công và Đức như thế, há có ngôn ngữ nào có thể tán thán được sao!

Niệm Phật là pháp môn dễ tu

Phật pháp vốn không có cao thấp, thích ứng căn cơ là diệu pháp; thuốc vốn không có tốt xấu, trị bệnh lành là thuốc hay.

Nhưng, xét hoàn cảnh của thế giới Ta-bà vào thời Mạt pháp hiện nay, căn cơ chúng sanh về trí thức thì rất yếu kém, về tâm lý thì rất ác độc; vì vậy, trong Tám vạn bốn ngàn pháp môn tu tập mà đức Thế Tôn đã dạy, pháp môn mà chúng sanh có thể kham nhẫn tu tập được, duy nhất chỉ có diệu pháp Xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà đúng theo Bổn nguyện của Ngài. Tổ sư bảo: “Niệm Phật là tối thắng tối dị, cực thiện cực thượng”. Danh hiệu đức Phật A Di Đà vốn thâu nhiếp hết thảy mọi công đức, chính thế gọi là Tối thắng; xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà thì căn cơ nào cũng có thể thực hiện, chính thế gọi là Tối dị. Pháp môn Tịnh Độ gọi là Đạo lý dễ tu (Dị hành đạo).

Dễ (Dị) có hai nghĩa: Đơn giản và dễ dàng, cũng có nghĩa đơn thuần hóa và dễ tu hóa. Chính vì đơn giản, dễ tu nên bất cứ người nào cũng có thể tu tập. Nếu muốn hiểu rõ sự cao thâm vi diệu của lý nghĩa Tịnh Độ thì không thể gọi là đơn thuần; hoặc, nếu muốn tìm hiểu sự phức tạp khó khăn của sự tu tập Tịnh Độ thì không thể gọi là dễ dàng. Đã không phải đơn thuần, không phải dễ dàng thì chẳng phải là pháp để bất cứ người nào cũng có thể tu được, cũng chẳng phải là pháp môn Tịnh Độ, đồng thời cũng chẳng phải là Bổn nguyện của đức Phật A Di Đà. Đại sư Thiện Đạo đã nói: “Thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà”, chính là đơn thuần hóa, dễ tu hóa, không nhất định phải thể ngộ Ba Tâm và cũng không nhất thiết công phu hết lòng. Chính vì nguyện sanh về Cực lạc mà tinh chuyên niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, tất nhiên năng lực Bổn nguyện của đức Phật A Di Đà tự nhiên vận hành khiến hành giả niệm Phật, để đời hiện tại hành giả luôn được an ổn lợi lạc, đến khi lâm chung được vãng sanh về Báo độ Cực lạc.

Tóm lại, bất cứ người nào cũng đều có thể vãng sanh và công đức bình đẳng như nhau. Pháp môn Tịnh Độ vốn rất bình dị, con đường tu chứng vừa thẳng tắp vừa quyết định. Tuy nhiên, nếu ai cho rằng, pháp môn Tịnh Độ là pháp tu chỉ dành cho hạng căn cơ hạ liệt, độc ác, quan niệm như thế là đã vùi lấp tâm Đại bi căn bản phi phàm của đức Phật A Di Đà, tâm Ngài cứu độ hết thảy mọi căn cơ, hết thảy mọi duyên nghiệp của mọi chúng sanh. Với quan niệm ấy sẽ đưa đến ngộ nhận, pháp Tịnh Độ chỉ là một pháp cứu độ một loại căn cơ, một loại duyên Nghiệp mà thôi. Qua hiểu biết đầy sai lầm, tà vọng ấy, đã nói lên sự hiểu biết của họ rất hạn chế, họ chỉ hiểu sự cứu độ của đức Phật A Di Đà rất tối thiểu và người vãng sanh cũng rất hy hữu. Với thực trạng này, nên đức Thích Tôn đã từng ta thán rằng: “Pháp rất dễ vãng sanh, nhưng hiếm có người được vãng sanh!”.

Pháp môn Tịnh Độ được gọi là Đạo lý dễ tu, giải thích là Dễ tu mà khó tin, nghĩa là, từ bỏ những pháp Tu khó khăn mà giữ lấy một pháp Tu dễ. Đây chính là đạo lý dễ tu vì dễ dàng. Chính thế, chỉ Thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà và bảo trì đức tin trong quá trình tu niệm. Do vậy, nội dung của kinh Quán Vô Lượng Thọ tuy có trình bày về các pháp tu Định thiện, Tán thiện, với Mười ba pháp quán của Định thiện và tu Ba phước đức, vãng sanh chín phẩm của Tán thiện, là để đáp ứng cho nhiều loại căn cơ có đức tin sai khác, nhưng đến phần kết luận (Lưu thông) để chấm dứt thời pháp, đức Thích Tôn chỉ phú chúc bảo trì Thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà mãi được lưu truyền lâu xa trong tương lai. Chính vì xưng niệm danh hiệu đức Phật là dễ dàng, nên bất cứ người nào cũng có thể thực hiện, lại vì công đức thù thắng thẳng tiến đến quả vị Phật đà.

Hết thảy mọi công đức tu tập của nhiều loại căn cơ có đức tin sai khác về Định thiện, Tán thiện đều được thâu nhiếp trọn vẹn trong pháp Niệm Phật này. Đại sư Từ Mẫn bảo: “Đức Phật ấy vốn lập nguyện rộng, Ai niệm tên Tôi, Tôi đến đón, Không kể bần cùng hay phú quý, Không kể trí hèn hay thông thái, Không kể đa văn giữ tịnh Giới, Không kể phá Giới tội nặng sâu, Chỉ cần hồi tâm chuyên niệm Phật, Sỏi đá có thể hóa thành vàng”.

Bản nguyện niệm Phật – Vạn người tu, vạn người được vãng sanh

Thệ nguyện của đức Phật A Di Đà dù có đến Bốn mươi tám đại nguyện, nhưng chỉ có đại nguyện thứ mười tám là Bản nguyện vua, Bản nguyện vua này Chỉ nói về niệm Phật mà thôi. Đại nguyện mười tám nói: “Chúng sanh trong mười phương, cho đến chỉ niệm mười niệm, nếu không được vãng sanh, thì Con không giữ ngôi Chánh giác”. Bồ tát Thiên Thân giải thích rõ ràng trong Luận Vãng Sanh rằng: “Quán năng lực Bản nguyện Phật ấy, Rộng như hư không chẳng sánh bằng, Năng khiến sớm thành tựu viên mãn, Công đức rộng sâu như biển báu”. Bồ tát Long Thọ căn cứ ý nghĩa đại nguyện thứ mười tám và ý nghĩa bài kệ thành tựu, để nói lên ý kiến của mình trong Phẩm Dễ Tu (Dị Hành Phẩm) rằng: “Bản nguyện Phật A Di Đà, Ý nghĩa như dưới đây: Nếu người nào nhớ nghĩ đến Tôi, xưng danh hiệu là tự quay về, Tức thì ngộ nhập vào Chánh định, Được chứng quả Vô thượng Bồ đề, Thế nên thường nhớ nghĩ xưng niệm”.

Chúng ta nên biết rằng, cho đến mười niệm chính là xưng danh hiệu là tự quay về, Thường nhớ nghĩ xưng niệm cũng chính là suốt đời niệm Phật cho đến niệm mười niệm hay chỉ một niệm. Những người đến khi lâm chung mới gặp được pháp Niệm Phật, thì chỉ niệm mười niệm hay một niệm cũng được vãng sanh; còn, những người có duyên sớm với pháp này, thì niệm Phật suốt đời. Chúng ta nên biết rằng, pháp Niệm Phật chính do đức Phật A Di Đà mời gọi chúng sanh khắp mười phương xưng niệm để cứu độ, dìu dắt. Vì thế, trong quyển Sớ Giải Kinh Quán Vô Lượng Thọ (Quán Kinh Sớ), Đại sư Thiện Đạo nêu lên: “Ví dụ con đường sáng giữa hai con sông” (Nhị hà bạch đạo dụ), hình ảnh cứu độ của đức Phật A Di Đà qua lời mời gọi rằng: “Ông hãy kiên định, Chánh niệm tiến thẳng về phía trước, Tôi sẵn sàng bảo vệ ông”. Lại nữa, phần Quán chơn thân thứ chín thuộc Mười ba tu quán của Định thiện, bảo rằng: “Bốn mươi tám đại nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ, chỉ xác minh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, để được vãng sanh mà thôi”.

Lại nữa, Pháp Sự Tán ghi: “Bốn tám nguyện rộng có nhiều môn, Riêng nêu niệm Phật lắm thiết thân, Ai hay niệm Phật, Phật ghi nhớ, Ai chuyên tưởng Phật, Phật tri tường”. Lại ghi: “Cõi Niết-bàn Cực lạc vô vi, Tu theo Tạp thiện khó sanh về, Nên đức Như Lai chọn pháp chính, Dạy niệm Di Đà chuyên lại chuyên”. Và, phần kết luận quyển Sớ Giải Kinh Quán Vô Lượng Thọ cũng nói: “Hướng về Bổn nguyện Phật Di Đà, Tâm ý chúng sanh cần hiểu rõ, Chỉ thuần nhất tinh chuyên xưng niệm, Danh hiệu đức Phật A Di Đà”. Thế nên, người nguyện sanh về thế giới Cực lạc, chỉ nên Thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, đây là hạnh Bản nguyện chủ yếu của Ngài. Niệm Phật là Bản nguyện độc nhất vô nhị của đức Phật A Di Đà, là hạnh tối cao vô thượng. Đại sư Thiện Đạo gọi là Chánh định nghiệp, cũng chính là Vãng sanh đã định, Hiện đời đã thành tựu nhân vãng sanh.

Thượng nhân Pháp Nhiên nương tựa vào tư tưởng của Đại sư Thiện Đạo, ở phần kết luận của tác phẩm Tuyển Trạch Bản Nguyện Niệm Phật Tập, Ngài nói: “Gọi là Chánh định nghiệp, Chính là xưng danh Phật, Xưng danh ắt vãng sanh, Vì nương Bổn nguyện Phật”. Điểm này, trong phần đầu của tác phẩm ấy, khi giới thiệu về tông Tịnh Độ đã xác minh: “Pháp tu để vãng sanh, chủ yếu là niệm Phật”. Như vậy, trước và sau dù khác miệng nhưng cùng lời, đầu hay cuối đều nhất quán hiển thị chân nghĩa tôn chỉ của Tịnh Độ.

Tại sao đức Phật A Di Đà lấy pháp xưng danh làm Bản nguyện và không chọn các pháp tu khác làm Bản nguyện? Điểm này ở Chương thứ ba trình bày về Bản nguyện của quyển Tuyển Trạch Tập, Thượng nhân pháp Nhiên đã giải rõ điểm chủ yếu ấy ngắn gọn như sau: “Xưa kia, Tỷ Kheo Pháp Tạng – Như Lai Di Đà, với tâm Từ bi bình đẳng thúc đẩy, muốn hóa độ hết thảy chúng sanh, nên Ngài không chọn các pháp khác làm Bản nguyện tu tập vãng sanh, mà chỉ chọn một pháp duy nhất là xưng niệm danh hiệu đức Phật làm Bản nguyện”. Vì Từ bi bình đẳng, vì Muốn hóa độ hết thảy chúng sanh, không phân biệt người xuất gia hay kẻ tại gia, người trí đức hay kẻ ngu si, người hiền thiện hay kẻ ô uế, người nam hay kẻ nữ, người già hay kẻ trẻ, người giàu sang hay kẻ nghèo hèn. Tóm lại, không phân biệt là hạng người nào, chỉ cần Thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, thì hết thảy đều bình đẳng được vãng sanh về Báo độ Cực lạc, đồng chứng vô lượng quang, vô lượng thọ.

Điểm này, Đại sư Thiện Đạo cũng đã nói trong Pháp Sự Tán rằng: “Trời, Người dù thiện ác, Hết thảy được vãng sanh, Đến đấy đều bình đẳng, Tất cả chứng Bất thối”. Lại nữa, trong Chương thứ sáu của quyển Tuyển Trạch Tập cũng ghi: “Trong Bốn mươi tám đại nguyện tuy đều là Bản nguyện, nhưng đặc biệt chỉ chọn pháp Niệm Phật làm tiêu chuẩn vãng sanh”. Lại ghi: “Trong Bốn mươi tám Bản nguyện đã chọn, Bản nguyện Niệm Phật vãng sanh là vua trong các Bản nguyện; chính thế, đức Thích-ca Từ bi đặc cách lưu lại Kinh này một trăm năm”. Ý nghĩa Xưng danh là Bản nguyện, trong Lục Yếu Sao Thượng nhân Tồn Giác đã giải thích điểm chủ yếu rất giản đơn sáng tỏ rằng:  “Xưng danh hiệu Di Đà, Được lợi ích vãng sanh, Là Bản nguyện đức Phật. Tin và hiểu như thế, Được gọi là chí tâm, Vui thích và muốn sanh”.

Có người thưa với Thượng nhân Pháp Nhiên: “Thượng nhân niệm Phật, mỗi niệm đều tương ứng với tâm đức Phật, bởi lẽ, Ngài là bậc Trí tuệ đã hiểu sâu nội dung của Bản nguyện; đồng thời cũng đã minh bạch công đức của danh hiệu đức Phật”. Thượng nhân đáp: “Đức tin của ông về Bản nguyện cũng hệt như thế. Danh hiệu đức Phật A Di Đà chính là Bản nguyện, sẽ khiến hàng ngu si ty tiện như những tiều phu, thợ săn… không biết một chữ, khởi phát đức tin xưng niệm danh hiệu, thì nhất định được vãng sanh, nếu chân thật và hân hoan thường niệm Phật, thì đây là hạng căn cơ tối thượng. Nếu nhờ Trí tuệ để thoát ly sanh tử, thì tại sao Pháp Nhiên lại từ bỏ Thánh Đạo môn để tu tập Tịnh Độ môn? Tu tập theo Thánh Đạo môn, thì phải viên mãn Trí tuệ mới thoát ly sanh tử; còn, tu tập theo Tịnh Độ môn, thì phải trở thành người ngu si mới vãng sanh Cực lạc”.

Một vị Tăng hỏi Thượng nhân Pháp Nhiên: “Con tuy niệm Phật nhưng tâm cứ tán loạn, vậy phải làm sao?” Thượng nhân đáp: “Nên biết rằng: Tâm tuy tán loạn nhưng xưng niệm danh hiệu đức Phật, thì sẽ nhờ vào năng lực đại nguyện của đức Phật mà nhất định được vãng sanh. Đã sanh làm người trong cõi Dục giới tán địa này, thì tâm ai cũng bị tán loạn cả, tương tự như đã sanh làm người thì ai cũng có mắt, mũi… Nếu bảo rằng, phải bỏ tâm tán loạn mới được vãng sanh thì thật vô lý. Người niệm Phật tâm tán loạn mà được vãng sanh mới nói lên sự thù thắng của Bản nguyện. Tâm hạng phàm phu làm sao không tán loạn được! Cũng chính như thế mới gọi là Pháp môn dễ tu. Đức Phật A Di Đà đã lựa chọn pháp Niệm Phật làm Bản nguyện thù thắng; bởi lẽ, có năng lực khiến hết thảy chúng sanh được bình đẳng vãng sanh về Báo độ Cực lạc một cách dễ dàng, không phân biệt dù là hạng ngu si ti tiện không biết một chữ, bất cứ người nào cũng có thể toại nguyện. Chính thế, Niệm Phật Bản nguyện vừa thù thắng vừa giản dị.

Người niệm Phật được Hào quang thâu nhiếp

Ý nghĩa một câu danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật là biểu hiện viên mãn vô lượng hào quang, trong kinh A Di Đà, đức Thích Tôn giải thích ý nghĩa danh hiệu A Di Đà là: “Đức Phật ấy có hào quang vô lượng, chiếu suốt hết thảy các thế giới trong mười phương không bị chướng ngại, vì thế có tên là A-di-đà”. Hào quang này, tự nhiên có thể chiếu soi hộ trì thâu nhiếp (cứu độ) những người niệm Phật. Ở đoạn Quán chơn thân trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, đức Thích Tôn giải thích công năng của hào quang đức Phật A Di Đà là: “Hào quang chiếu khắp tất cả các thế giới trong mười phương, để luôn thâu nhiếp không rời những hành giả niệm Phật”. Trong Vãng Sanh Lễ Tán, Đại sư Thiện Đạo đã tổng hợp hai câu văn trên rồi xiển dương rằng: “Đức Phật ấy có hào quang vô lượng, chiếu suốt hết thảy các thế giới trong mười phương không bị chướng ngại; thường trực quan sát để luôn thâu nhiếp không rời những hành giả niệm Phật, vì thế có tên là A Di Đà”.

Lại nữa, trong Quán Niệm Pháp Môn ghi: “Chỉ có những hành giả chuyên niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, thì hào quang của đức Phật ấy mới luôn chiếu soi, hộ trì, thâu nhiếp hành giả ấy không rời; trái lại, những hành giả tu tập các pháp môn khác, thì không chiếu soi thâu nhiếp”. Ý nghĩa Chiếu khắp ấy, trong Quán Kinh Sớ đã quy kết trong câu: “Hào quang đức Phật chiếu khắp, nhưng chỉ thâu nhiếp những hành giả niệm Phật”.

Hào quang đức Phật chiếu khắp, nhưng tại sao chỉ thâu nhiếp những hành giả niệm Phật, mà không thâu nhiếp những hành giả tu tập các pháp môn khác?

Đại sư Thiện Đạo giải thích: “Hành giả nào khi tu tập: Miệng thường xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, thì Ngài nghe rõ tiếng người ấy đang niệm; thân thường lễ bái đức Phật, thì Ngài thấy rõ người ấy đang lễ bái; tâm thường niệm Phật, thì Ngài biết rõ tâm người ấy đang niệm Phật; hành giả thường nhớ nghĩ đến đức Phật, thì Ngài cũng nhớ nghĩ đến hành giả. Ba nghiệp (Thân- Khẩu-Ý) của hành giả và đức Phật không tách rời nhau, nên được gọi là Thân duyên”. Chúng ta nên biết: Người nào thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, thì hẳn nhiên tâm người ấy với tâm đức Phật A Di Đà hòa quyện lẫn nhau, Căn cơ và Chánh pháp nhất thể không tách rời nhau, điều này được gọi là Thân vậy. Do đó vấn đề vãng sanh Cực lạc hiện tại đã quyết định, chứ không phải chờ đến khi lâm chung. Đạo lý này không kể là hiểu hay không hiểu, tin hay không tin, sự thật Chánh pháp vốn như thế.

Lại nữa, tại sao hào quang đức Phật A Di Đà chiếu khắp, nhưng chỉ thâu nhiếp những hành giả niệm Phật, mà không thâu nhiếp những hành giả tu tập các pháp môn khác? – Bởi lẽ, tu các pháp môn khác không phải là Bổn nguyện của đức Phật, nên hào quang không chiếu soi thâu nhiếp những hành giả đó; trái lại, tu pháp Niệm Phật là Bổn nguyện của đức Phật, nên những hành giả này được hào quang chiếu soi thâu nhiếp. Niệm Phật cũng tức là lời yêu cầu và mệnh lệnh của Bổn nguyện đức Phật A Di Đà, chính đây là sự mời gọi, dìu dắt để cứu độ của đức Phật, thế nên mới nói Cho đến mười niệm. Hơn nữa, do vì bản thân của danh hiệu A Di Đà chính là hào quang của Ngài, thế nên mới nói Danh hiệu Hào Quang; đồng thời, cũng là sanh mạng của đức Phật A Di Đà, thế nên mới nói Danh xưng chính là Bản thể.

Bởi ý nghĩa này, trong Vãng Sanh Lễ Tán, Đại sư Thiện Đạo làm bài kệ tán thán rằng: “Sắc thân Di Đà tợ vàng ròng, Hào quang sáng đẹp chiếu mười phương, Riêng người niệm Phật được soi chiếu, Nên biết Bổn nguyện rất hùng cường”. Thêm nữa, trong Bát Chu Tán cũng nói: “Tướng hảo nhiều đến Tám vạn tư, Mỗi mỗi hào quang chiếu mười phương, Hào quang không chiếu tu duyên khác, Chỉ chiếu niệm Phật cầu vãng sanh”. Nếu luận về hào quang, thì hết thảy chư Phật đều có, nhưng hào quang của đức Phật A Di Đà là tôn quý bậc nhất, hào quang chư Phật không thể so sánh. Bởi hào quang của đức Phật A Di Đà tôn quý bậc nhất như thế, nên đức Thích Tôn đã nói về công đức mười hai loại hào quang của Ngài và tán thán rằng: “Oai thần hào quang, Tôn quý bậc nhất, Hào quang chư Phật, Không thể sánh bằng”. Thêm nữa, đức Thích Tôn muốn xiển dương rốt ráo công đức và oai thần hào quang của đức Phật A Di Đà có một không hai, tối cao vô thượng, như trong Kinh Đại A Di Đà đã hết lời tôn kính và tán thán: “A Di Đà vua chư Phật, Hào quang tôn quý nhất trong hào quang”. Đức Phật A Di Đà là Vua của chư Phật, có Hào quang siêu việt nhất trong các hào quang, Hào quang tôn quý nhất trong các hào quang, không chỉ đức Thích Tôn hết lời tôn kỉnh tán thán mà chư Phật trong mười phương, khác miệng cùng lời đều tán thán đức Phật A Di Đà là Không thể tư duy bàn luận, kinh Vô Lượng Thọ ghi: “Chư Phật trong mười phương, Nhiều như cát sông Hằng, Hết thảy đều tán thán, Đức Phật Vô Lượng Thọ, Có công đức oai thần, Không có thể nghĩ bàn”.

Người niệm Phật được Chư Phật và Bồ Tát hộ trì

Thuần nhất tinh chuyên xưng niệm là hạnh tu tối cao vô thượng, có một không hai của Bổn nguyện đức Phật A Di Đà, Căn cơ đã nhất thể với Giáo pháp đức Phật A Di Đà, và thường được hào quang đức Phật chiếu soi nhiều vòng xung quanh không bao giờ gián đoạn. Điều này có thể nói, cùng hiện hữu với đức Phật, cùng đồng hành với đức Phật, vì vậy cũng được “Hết thảy chư Phật đều hộ niệm” (Kinh A Di Đà). Do điểm này, trong Vãng Sanh Lễ Tán, Đại sư Thiện Đạo nói: “Nếu người nào xưng niệm danh hiệu Phật để cầu nguyện vãng sanh, thì thường được vô lượng vô số hằng hà sa chư Phật trong sáu phương hộ niệm”.

Quán Niệm Pháp Môn ghi: “Người nào nhất tâm chuyên niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà để cầu nguyện vãng sanh, thì người ấy luôn được vô lượng vô số chư Phật đến hộ niệm, chính thế mới gọi là Kinh Hộ Niệm. Ý của Kinh Hộ Niệm cũng có nghĩa là không để các Thần Quỷ ác dữ có cơ hội làm hại, cũng có nghĩa không gặp những bệnh tật bất ngờ, tai nạn bất ngờ, hoặc chết oan, chết yểu. Tất cả mọi tai chướng ấy hẳn nhiên tiêu diệt, trừ trường hợp niệm Phật không chí thành”.

Thêm nữa, người niệm Phật thì đức Thích Tôn hoan hỷ tán thán, như Quán Kinh ghi: “Nếu người nào niệm Phật, nên biết người ấy là hoa Phân đà lợi trong cõi người. Bồ tát Quán Thế Âm, Bồ tát Đại Thế Chí là bạn hữu tối thắng của người ấy. Người ấy đang an trú đạo tràng và sanh vào nhà chư Phật”. Hoa Phân đà lợi là hoa sen trắng ngàn cánh rất hy hữu trong thế gian, đây là loại hoa tôn quý siêu việt tối thượng trong mọi loài hoa. Dùng Hoa Phân đà lợi là để ví dụ sự tôn quý hy hữu của người niệm Phật, là hạng người siêu việt tối thượng trong loài người; đồng thời, để biểu thị người niệm Phật là đệ tử chân chính của đức Phật, dù đang hiện hữu trong loài người nhưng đã siêu thoát khỏi Lục đạo, dù chưa vãng sanh về thế giới Cực lạc, nhưng đã là người của Tịnh Độ.

Do ý nghĩa này, trong Ngũ Hội Niệm Phật Tán, Đại sư Pháp Chiếu đã nói: “Cõi này, một người niệm hiệu Phật, Cực lạc lại thêm một hoa sen, Trợ duyên suốt đời không thối chuyển, Lâm chung hoa ấy đến đón nghinh”. Đồng thời, Bồ tát Quán Thế Âm, Bồ tát Đại Thế Chí hẳn nhiên trở thành bạn hữu tối thắng của người niệm Phật và cũng có thể xem là huynh đệ của nhau; thêm nữa, trong mười hai thời (24 giờ), không mời thỉnh mà hai vị Bồ tát tự đến như bóng theo hình để thường xuyên bảo hộ, không chút phiền hà bỏ quên, vĩnh viễn không tách rời. Chỉ có người niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà là sớm thoát khỏi sự Luân hồi; do đây, đức Thích Tôn ví dụ người niệm Phật như hoa sen trắng, hai vị Bồ tát (nhị Thánh) hẳn nhiên như bóng theo hình để bảo hộ. Vì thế, trong Quán Kinh Sớ, Đại sư Thiện Đạo đã giải thích đoạn văn Phần Lưu Thông, là dùng Năm thứ phước đức tốt đẹp để tán thán người niệm Phật; đồng thời, lại thuyết minh Hai vị Thánh thường xuyên bảo hộ. Đoạn văn giải thích ấy như sau: “Nếu người nào niệm Phật, thì chính người ấy là người hiền thiện trong cõi người, là người hiền thiện tuyệt diệu, là người hiền thiện trên tất cả người hiền thiện, là người hy hữu trong cõi người, là người tối thắng trong cõi người. Người chuyên niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà thì Bồ tát Quán Thế Âm, Bồ tát Đại Thế Chí thường đi theo bảo hộ như thân hữu tri thức vậy”.

Thêm nữa, trong Quán Niệm Pháp Môn Đại sư cũng xác minh rằng, người niệm Phật có thể tiêu trừ tai họa và tăng thêm tuổi thọ, đoạn văn ấy như sau: “Người xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà để cầu nguyện vãng sanh, thì đời này sẽ được tăng thêm tuổi thọ và không gặp phải chín loại chết bất đắc kỳ tử ( Theo Kinh Cửu Hoạnh, có chín loại chết bắt đắc kỳ tử: 1. Đau không có thuốc, 2. Bị phép vua tru diệt, 3. Bị loài phi nhân đoạt tinh khí, 4. Bị chết cháy, 5. Bị chết đuối, 6. Bị ác thú ăn thịt, 7. Ngã từ trên vách núi xuống, 8. Bị đánh thuốc độc, bị bùa chú, 9. Bị đói khát mà chết.)

Để xiển dương và giải thích rốt ráo nghĩa này, Đại sư lại xác minh rằng, người niệm Phật sẽ được Năm loại Tăng thượng duyên hay Năm loại Đại lợi ích; trong này, lợi ích thứ nhất là tội chướng được tiêu diệt, lợi ích thứ hai là được sự hộ niệm.

  1. Lợi ích thứ nhất, tội chướng được tiêu diệt: Như Kinh Quán Vô Lượng Thọ ghi: “Vì nhờ xưng niệm danh hiệu đức Phật, mà các tội chướng tiêu diệt”. Lại ghi: “Chí tâm xưng niệm Nam mô A Di Đà Phật, thì trong mỗi niệm trừ diệt được tội chướng sâu nặng của tám mươi ức kiếp sanh tử”. Trong Kinh này, xác minh người niệm Phật có thể trừ diệt được tội chướng sâu nặng của nhiều đời nhiều kiếp Luân hồi sanh tử. Tương tự, trong luận Đại Trí Độ cũng nói: “Có những vị Bồ-tát tự tư duy hủy báng đại Trí tuệ (đại Bát nhã), bị đọa vào ác đạo trải qua vô lượng kiếp. Dù có tu tập các pháp môn khác cũng không thể tiêu diệt được tội ấy; về sau, gặp được Thiện tri thức bảo hãy niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, thì tội chướng được trừ diệt, siêu sanh về Tịnh Độ”.Thế nên, chúng ta cần biết rằng: Phỉ báng Chánh pháp thì tội rất sâu nặng, còn nặng hơn tội Ngũ nghịch. Tội sâu nặng như thế chỉ có niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà mới có thể trừ diệt được. Niệm danh hiệu A Di Đà tội sâu nặng còn trừ diệt được, huống chi là những tội nhẹ. Nếu không niệm Phật thì tội nhẹ cũng không trừ diệt được, huống chi tội sâu nặng. Một hạt cát dù nhẹ vẫn chìm xuống đáy biển. Tuy nhiên, một khối đá rất nặng, nếu bỏ trên thuyền thì sẽ được chở đến bờ bên kia. Trong Pháp Sự Tán, Đại sư Thiện Đạo nói: “Nhờ nguyện lực Phật A Di Đà: Dù phạm Ngũ nghịch hay Thập ác, tội đều tiêu diệt được vãng sanh, dù phạm báng Pháp hay Xiển đề, hồi tâm chuyển ý vẫn vãng sanh. Không kể tội phước nhiều ít, gần xa, Chí tâm niệm Phật chớ sanh nghi ngờ”.Lại nữa, trong Bát Chu Tán cũng ghi: “Báng Pháp, Xiển đề cùng Thập ác, Hồi tâm niệm Phật tội đều tiêu, A Di Đà chính là kiếm bén, Một tiếng xưng niệm tội đều tiêu. Niệm niệm xưng danh thường sám hối, Người hay niệm Phật, Phật nhớ ghi”.
  2. Lợi ích thứ hai, được sự hộ niệm: Trừ chư Phật và hai Bồ tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí luôn bảo hộ hành giả như đã nói ở trước; ngoài ra, đức Phật còn cắt cử hai mươi lăm vị đại Bồ tát thường xuyên theo dõi ủng hộ; đồng thời, hành giả cũng được chư vị Thiên, Long, Bát bộ ngày đêm bảo vệ để không có những tai chướng ách nạn xảy ra. Trong Quán Niệm Pháp Môn, Đại sư Thiện Đạo nói: “Kinh Thập Vãng Sanh ghi rằng: Đức Phật bảo Bồ tát Sơn Hải Tuệ và A Nan: Nếu người nào chuyên niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà ở phương Tây để nguyện cầu vãng sanh, kể từ đây cho đến vị lai, Ta sẽ cắt cử hai mươi lăm vị Bồ tát thường đi theo bảo hộ hành giả, không để Thần Quỷ ác độc gây phiền não cho hành giả, giúp hành giả ngày đêm thường an ổn. Đây chính là sự hộ niệm Tăng thượng duyên trong đời hiện tại của hành giả vậy”. Lại nữa: “Kinh Bát Chu Tam Muội ghi rằng: Đức Phật dạy: Nếu người nào tinh chuyên thực hành Niệm Phật A Di Đà Tam Muội, thì thường được hết thảy các vị Trời, vua bốn cõi Trời, Tám bộ Long Thần luôn đi theo bảo hộ, ưu ái hoan hỷ cho thấy thân tướng, để giúp hành giả vĩnh viễn không bị các Thần Quỷ ác dữ, tùy tiện gieo rắc những tai chướng ách nạn bất ngờ”. Về câu “Người ấy đang an trú đạo tràng và sanh vào nhà chư Phật”, trong Quán Kinh Sớ Đại sư Thiện Đạo giải thích rằng: “Khi xả bỏ thân mạng liền hội nhập vào nhà chư Phật, tức Tịnh Độ Cực lạc vậy”.

Thế nên, chúng ta cần biết rằng: Người niệm Phật, giả sử họ là những kẻ ngu si ti tiện, bị bệnh nguy hiểm, nhơ nhớp nhưng hiện tại họ là người hiền thiện tuyệt diệu, là người tối thắng trong cõi người, được hào quang đức Phật A Di Đà chiếu soi, chư Phật hộ niệm, Bồ tát thân cận, Trời Thần ủng hộ, tai chướng được tiêu trừ, tuổi thọ được tăng thêm, đến khi thân mạng kết thúc được vãng sanh, chứng đại Niết bàn, vĩnh viễn siêu thoát thế gian. Người nào có được nhân duyên này! Nếu không niệm Phật cầu nguyện vãng sanh Cực lạc, thì dù là người quyền cao chức trọng cũng chỉ là quyến thuộc của Diêm Vương, ngày ngày tiếp cận với Địa ngục. Như trâu bò bị dẫn đến lò thịt, cứ mỗi bước là tiến gần đến cái chết. Một khi thân mạng sắp kết thúc thì hối hận, lo sợ cũng không còn kịp nữa. Quỷ tốt dẫn đường rơi lệ ra đi một mình. Khi đến điện Diêm Vương lại bị quở trách, lẻ loi sầu khổ cũng lại một mình. Chính thế, Đại Kinh dạy: “Ái dục vinh hoa, Không thể giữ lâu, Chúng sẽ biệt ly, Không thể an lạc”. Lại dạy: “Sanh tử một mình, Đến đi một mình, Tự thân gánh chịu, Chẳng ai thay thế”.

Đức Phật A Di Đà có duyên sâu với chúng sanh

Nếu bàn về duyên phận, thì chư Bồ tát, chư Phật trong mười phương chỉ có đức Phật A Di Đà là có duyên với chúng sanh rất thâm sâu, rất thân gần. Kinh Đại Bi dạy: “Các loài chúng sanh trong thế giới Ta bà, chuyên làm việc ác, phiền não nặng sâu. Những chúng sanh như thế, chư Phật các thế giới không thể cứu độ được. Như một ngàn bốn trăm đức Phật đã buông xả, và chư Phật ở các thế giới phương khác cũng bỏ quên, vì nghiệp chướng chúng sanh quá sâu nặng”. Chúng sanh trong cõi Ta bà phiền não quá nặng sâu, chư Phật vẫn không có thể cứu độ được huống chi chư vị Bồ tát! Chỉ có đức Phật A Di Đà là vua trong chư Phật, với hạnh nguyện rộng sâu, chủ động vì hạng chúng sanh ngu si ác độc, phát khởi tâm lớn tuyệt đối không điều kiện, với thệ nguyện sâu dày cứu độ bình đẳng hết thảy chúng sanh. Thệ nguyện ấy là: “Chúng sanh trong mười phương, cho đến niệm mười niệm, nếu không được vãng sanh, không giữ ngôi Chánh giác”.

Nếu không có thể giúp chúng ta vãng sanh, thì đức Phật A Di Đà không thể thành tựu Chánh giác; nếu có thể giúp chúng ta vãng sanh, thì đức Phật A Di Đà có năng lực thành tựu Chánh giác. Đức Phật A Di Đà đã thành tựu Chánh giác, thì căn cứ năng lực ấy để xác định Ngài có thể giúp chúng ta vãng sanh. Chúng ta được vãng sanh, thì căn cứ điều này để xác định đức Phật A Di Đà đã thành tựu Chánh giác. Như thế, hiện tại đức Phật A Di Đà đã thành tựu Chánh giác và chúng ta cũng đang và sẽ được vãng sanh. Điều này cũng có nghĩa, đức Phật A Di Đà chính Ngài đã thành Phật và chúng ta cùng với chúng sanh trong mười phương chính thức được vãng sanh, kết thành nhất thể đồng thời phát thệ. Ngài thành Phật đồng thời là hoàn thành công đức vãng sanh cho chúng ta và chúng sanh. Nếu có một chúng sanh nào không được Ngài hoàn thành công đức vãng sanh, thì đức A Di Đà không có khả năng thành Phật. Chính vì thế, chúng ta nên biết rằng: Đức Phật A Di Đà và chúng ta là nhất thể. Ngài thành Phật là căn cứ vào sự vãng sanh của chúng ta. Chúng ta vãng sanh là căn cứ vào sự thành Phật của Ngài, như bụi lau chúng nương tựa lẫn nhau, thiếu một cây thì chúng sẽ xiêu ngả. Chỉ riêng đức Phật A Di Đà có thệ nguyện này, còn chư Phật trong mười phương không có. Căn cơ và Chánh pháp đồng nhất thể Nam mô A Di Đà Phật, như chim Cộng mạng, hai sanh mạng đồng nhất thể, nương nhau để cùng sinh tồn, sanh mạng này và sanh mạng kia đều cần thiết.

Trong Đại Kinh đã tự thuật Bi nguyện của đức Phật A Di Đà như sau: “ Vì hết thảy mọi loài, Làm người bạn không mời, Gánh vác cả quần sanh, Đây là trách nhiệm lớn. Như người con chí hiếu, Thương kính bậc mẹ cha, xem tất cả chúng sanh như chính bản thân mình. Hoặc tâm không tham thường bố thí, Khắp giúp bần cùng thoát khổ đau, Lợi ích thế gian khiến an lạc, Không thành Pháp Vương – vị cứu thế. Chúng sanh Luân hồi trong mọi nẻo, Sớm sanh nước Con hưởng an lạc, Thường chuyển tâm Từ cứu hữu tình, Độ hết chúng sanh khổ A tỳ. Vì chúng sanh mở bày tạng Pháp, Bố thí rộng công đức quý báu, Tiêu trừ Ba độc đầy tăm tối, Cứu giúp mọi hoạn nạn tai ách, Bít lấp các con đường ác độc, Thấu suốt những nẻo về thiện xứ. Chuyên cầu Chánh pháp thanh tịnh, Để tặng lợi lạc quần sanh, Khiến cho hết thảy sanh linh, Thành tựu công đức viên mãn. Thệ nguyện của Con khi thành Phật, Thực hiện rộng khắp đại nguyện này, Hết thảy đối tượng đầy lo sợ, Biến thành toàn bộ sự an vui”.

Chính thế, chúng ta nên biết rằng: Đức Phật A Di Đà không chỉ xem chúng ta là bản thân của Ngài, mà thậm chí còn xem chúng ta là cha mẹ của Ngài, vì chúng ta mà Ngài gánh vác tất cả những oan trái, nghiệp chướng của chúng ta từ vô thỉ kiếp đến bây giờ. Ngài vì chúng ta mà mở bày tạng Pháp, giúp chúng ta thành tựu mọi công đức, đời sống hiện tại thoát khỏi sự nghèo khổ, các ách nạn được tiêu trừ, hết thảy mọi việc lo sợ biến thành toàn bộ an vui, tương lai sẽ vãng sanh về Tịnh Độ Cực lạc, vĩnh viễn thoát khỏi Luân hồi trong Lục đạo. Bi nguyện như trên, chư Phật đều có, nhưng chỉ duy nhất Bi nguyện của đức Phật A Di Đà là siêu việt đặc thù. Chính thế, trong hàng chư Bồ-tát, chư Phật, chỉ đức Phật A Di Đà là có duyên phận với chúng sanh rất thâm sâu, rất thân và gần mà thôi.

Hết thảy mọi phước báo thế gian, người niệm Phật không cầu mà tự được

Chuyên niệm chỉ một danh hiệu đức Phật Nam mô A Di Đà Phật, thì chư Phật trong mười phương hẳn nhiên hộ niệm. Hộ niệm tức là thường nhớ nghĩ để bảo hộ, khiến hành giả luôn được an lạc không gặp phải các chướng nạn. Chính thế, chúng ta nên biết rằng: Niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà chính là niệm danh hiệu hết thảy chư Phật trong mười phương, vãng sanh Tịnh Độ Cực lạc chính là vãng sanh hết thảy Tịnh Độ trong mười phương, có thể đem sự tự lợi này để làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh.

Thế nên, không cần phải niệm một danh hiệu đức Phật nào nữa trong chư Phật mười phương. Chuyên niệm chỉ một danh hiệu đức Phật Nam mô A Di Đà Phật, thì hai vị Bồ tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí hẳn nhiên thường đi theo hành giả; đồng thời, cũng có hai mươi lăm vị đại Bồ tát của đức Phật A Di Đà không mời mà tự đến, suốt trọn hai mươi bốn giờ trong ngày, đều hoan hỷ ủng hộ giúp người niệm Phật xa lìa mọi phiền não, thường được an lạc. Chính thế, chúng ta nên biết rằng: Chỉ niệm danh hiệu đức PhậtA Di Đà tức đã niệm hết thảy danh hiệu chư đại Bồ tát, kể cả danh hiệu của Bồ tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí cũng ở trong đó; thế nên, không cần phải niệm thêm một danh hiệu vị Bồ tát nào nữa. Chuyên niệm chỉ một danh hiệu Nam mô A Di Đà, tức được lợi ích lớn, tròn đầy công đức vô thượng, hẳn nhiên siêu việt đối với bất cứ một loại mật chú nào; hơn nữa, một câu A Di Đà Phật là vua của chư Phật, là hào quang tôn quý nhất trong các hào quang. Thế nên, ngoài niệm Phật không cần phải niệm thêm bất cứ một mật chú nào nữa.

Ở Phần Lưu Thông của Đại Kinh, đức Phật bảo Bồ tát Di Lặc rằng: “Nếu ai được nghe, Danh hiệu Phật ấy, Vui mừng hớn hở, Cho đến một niệm, Nên biết người ấy, Được đại lợi ích, Chính là tròn đầy, Công đức vô thượng”. Chính thế, chúng ta nên biết rằng: Niệm Phật là được đại lợi công đức vô thượng, còn trì niệm tất cả mật chú và tu các pháp môn khác, thì chỉ được tiểu lợi công đức hữu thượng. Thế nên, nếu là người trí thì nên buông bỏ tu tập các pháp tiểu lợi hữu thượng, mà chuyên tâm tu trì niệm Sáu chữ hồng danh để đạt được đại lợi vô thượng.

Thêm nữa, Kinh Phật Thuyết A Di Đà Phật Căn Bản Bí Mật Thần Chú ghi: “Danh hiệu đức Phật A Di Đà, đầy đủ vô lượng vô biên công đức vô thượng, không thể nghĩ bàn, cực kỳ bí mật, thù thắng vi diệu. Tại sao như thế? – Vì trong ba chữ A Di Đà hàm chứa vô lượng pháp tu của toàn bộ Kinh điển, toàn bộ Đà la ni thần chú mà hết thảy ba đời chư Phật trong mười phương, hết thảy chư Bồ tát, Thanh văn, A la hán đã tu tập và giảng thuyết. Thế nên, danh hiệu của đức Phật ấy, chính là pháp Đại thừa cực kỳ chân thật vô thượng, chính là diệu hạnh liễu nghĩa thù thắng, thanh tịnh vô thượng, chính là Đà la ni tối thắng vi diệu vô thượng. Nên thuyết kệ rằng:

Chữ A là ba đời chư Phật trong mười phương, Chữ Di là hết thảy chư Bồ-tát, Chữ Đà là Tám vạn các Thánh giáo, Trong ba chữ là đầy đủ tất cả.

Này Xá Lợi Phất! Nếu chúng sanh nào nghe nói về đức Phật A-di-đà có công đức không thể nghĩ bàn, vui mừng hớn hở, chí tâm xưng niệm danh hiệu, tin sâu không giải đãi, thì trong đời này gặp được sự an lạc không thể so sánh: Hoặc chuyển nghèo hèn trở thành phú quý, hoặc chứng đắc quả vị giác ngộ, thoát khỏi sự khổ đau do bệnh hoạn bức bách của Nghiệp quá khứ, hoặc chuyển yểu mạng trở thành sống lâu, hoặc kẻ thù oán hận trở thành con cháu đông đúc vinh hiển, thân tâm an lạc, ý nguyện trọn vẹn như ý. Những công đức như thế không có thể tính đếm được”.

Chính thế, chúng ta nên biết rằng: Một câu A Di Đà là vua Phật, vua Pháp, vua Thần chú, vua mọi công đức. Chuyên niệm chỉ một danh hiệu đức Phật Nam mô A Di Đà Phật chính là tổng trì, tổng niệm hết thảy chư Bồ tát, hết thảy các Kinh chú, hết thảy các pháp môn tu tập. Nghĩa là Tám vạn bốn ngàn pháp môn, Sáu chữ thâu trọn. Cũng có nghĩa Tóm thâu cả Tám giáo, Nhiếp trọn cả Năm tông và đã xác định khi lâm chung vãng sanh Tịnh Độ Cực lạc, và đời hiện tại thân tâm thường được an lạc.

– Kinh Đại Bi dạy: “Một lần xưng danh Phật, Chính đấy là căn lành, Hội nhập cảnh Niết bàn, Không có thể cùng tận”.

– Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy: “Khi tâm nghĩ đến Phật, Thì tâm chính là ba mươi hai tướng tốt, Tám mươi vẻ đẹp”.

– Khế Kinh dạy: “Nếu có người lấy bảy thứ châu báu trong bốn châu thiên hạ đem cúng dường chư Phật, chư Bồ-tát, chư Duyên giác, chư Thanh văn thì được phước đức rất nhiều, nhưng không bằng khuyến khích người khác niệm một câu danh hiệu Phật, phước đức này lớn hơn phước đức trước”.

– Kinh Niết Bàn dạy: “Đức Phật bảo Đại Vương: Giả sử mở kho báu lớn đem bố thí cho hết thảy chúng sanh trong một tháng, công đức này không bằng có người niệm một câu danh hiệu Phật, công đức niệm Phật này vượt quá công đức trước, không thể so sánh được”.

– Kinh Tăng Nhất A-Hàm dạy: “Đem Tứ sự cúng dường cho tất cả chúng sanh trong Diêm-phù-đề, nếu có người xưng niệm danh hiệu Phật một câu, thì công đức này vượt hẳn công đức trước, không thể suy nghĩ được”.

– Luận Đại Trí Độ ghi: “Ví như có người vừa mới chào đời, mỗi ngày đi một dặm, trải qua một ngàn năm, với đầy đủ bảy thứ châu báu trong số dặm đường ấy đem cúng dường chư Phật, thì phước đức này không bằng có người ở trong đời ác trước, xưng niệm một câu Nam mô A Di Đà Phật, phước đức này thắng vượt phước đức trước”.

– Đại sư Thiện Đạo bảo: “Các hạnh tu khác dù gọi là thiện hạnh, nhưng so với pháp tu Niệm Phật thì hoàn toàn không thể so sánh được”.

– Đại sư Khánh Văn bảo: “Chuyên xưng niệm một danh hiệu đức Phật A Di Đà, tức là xưng niệm đầy đủ danh hiệu chư Phật, sẽ có công đức vô lượng để diệt trừ các tội chướng, để vãng sanh Tịnh Độ Cực lạc, sao lại sanh tâm nghi ngờ!”

– Luật sư Nguyên Chiếu bảo: “Đề xướng tột cùng pháp Nhất thừa, Rốt cuộc quy về cõi Cực lạc, Tu tập tròn đầy vạn pháp môn, Tối thắng duy nhất quả niệm Phật”.
Lại nói: “Huống nữa, đức Phật A-di-đà dùng danh hiệu của mình để cứu độ chúng sanh; đó là, chúng sanh miệng niệm tai nghe để được vô biên Thánh đức, quy tụ hội nhập vào tâm thức, vĩnh viễn trở thành hạt giống Phật, sớm đoạn trừ tội nặng hàng ức kiếp, dẫn đến chứng đạt Vô thượng Bồ-đề. Tin hiểu điều này chẳng phải được căn lành nhỏ, mà là công đức rất lớn vậy”.

– Pháp sư Dụng Khâm bảo: “Giờ đây, nếu chúng ta đem tâm chân thành xưng niệm danh hiệu đầy phước đức của đức Phật A Di Đà, thì hẳn nhiên từ Nhân đến Quả không thể là không tròn đầy vô lượng công đức”.

– Đại sư Gia Tường bảo: “Đức Phật vốn có vô lượng công đức, nên niệm Phật cũng có vô lượng công đức; vì thế, niệm Phật diệt được vô lượng tội chướng”.

– Đại sư Pháp Vị bảo: “Chư Phật đều có công đức bố thí qua danh hiệu, nên xưng niệm danh hiệu chính là xưng niệm công đức, công đức có thể diệt tội sanh phước, thì danh hiệu cũng giống hệt như thế. Nếu tin tưởng danh hiệu đức Phật thì có thể sanh thiện căn, diệt tội ác, nhất định là như thế không thể nghi ngờ; xưng niệm danh hiệu thì được vãng sanh, điều này có thể nghi hoặc được sao!”

– Thiền sư Tông Hiểu bảo: “Một viên thuốc linh đơn có thể biến sắt thành vàng, một câu chân lý có thể chuyển Nghiệp ác thành Nghiệp thiện”.

– Đại sư Liên Trì bảo: “Y-Chánh báo Cực lạc, Một câu niệm Phật được tròn đầy. Biển công đức của Phật, Một câu niệm Phật được tròn đầy. Hết thảy mọi công đức, Một câu niệm Phật được tròn đầy. Danh hiệu vạn đức của đức Phật A Di Đà: Không có nguyện nào không tròn đủ, không có hạnh nào không gồm thâu, không có Phật nào không thấu triệt. Danh hiệu vạn đức của đức Phật A Di Đà: Vừa niệm một lần danh hiệu thì vạn đức đều tròn đủ, không cầu mong phước đức, phước đức đã viên mãn. Trì danh hiệu là điều thiện bậc nhất trong các điều thiện, điều phước bậc nhất trong các điều phước. Cất tiếng xưng niệm danh hiệu là thâu nhiếp mọi công đức tròn đủ; tinh chuyên trì niệm danh hiệu là tóm thâu mọi hạnh tu không thiếu sót. Một niệm là vượt qua Ba A-tăng-kỳ, chỉ một câu là ngang bằng chư Thánh”.

– Đại sư Ngẫu Ích bảo: “Phật A Di Đà là hồng danh vạn đức, dùng danh hiệu để quy kết phước đức, trọn vẹn một cách cùng tận. Một pháp trì danh hiệu trọn đủ cả ba căn cơ, thâu nhiếp hết thảy sự-lý không bỏ sót, nắm giữ toàn bộ tông phái chẳng còn thừa. Đức Phật dùng đại nguyện của mình giúp chúng sanh tạo Nhân nhiều thiện căn, dùng đại hạnh giúp chúng sanh tạo Duyên nhiều phước đức. Người trì danh hiệu đức Phật, xét về thiện căn và phước đức thì hoàn toàn như Phật, chỉ niệm một niệm cũng trọn đủ nhiều thiện căn phước đức vậy. Pháp môn Tịnh Độ nhiếp trọn ba căn cơ, viên dung tuyệt diệu, không thể nghĩ bàn, vừa thâu nhiếp hết thảy pháp môn, vừa siêu việt hết thảy pháp môn; đây là pháp cao xa rất khó tin. Đức Như Lai Thích-ca dạy pháp Tịnh Độ không phải dựa vào đây để nỗ lực tu chứng, mà chỉ dạy xưng niệm danh hiệu để đi theo lối tắt chứng được Bất thối; chính đây là pháp cực kỳ tuyệt diệu thù thắng, vượt ngoài mọi tư duy, là phương tiện bậc nhất, cũng là điều rất khó tin trong những điều rất khó tin. Một tiếng xưng niệm A Di Đà Phật, chính là pháp Vô thượng Bồ-đề mà đức Bổn sư Thích-ca đã chứng đạt trong cõi đầy Năm thứ ô trược ác độc này. Giờ đây, đức Phật đem toàn bộ kết quả giác ngộ ấy, trao lại cho tất cả chúng sanh ô trược, ác độc. Viên ngọc sáng ném vào nước bẩn, nước bẩn không thể không trong sạch. Hiệu Phật đi vào tâm loạn động, tâm động không thể không có Phật. Một niệm khế hợp một niệm Phật, nhiều niệm khế hợp nhiều niệm Phật”.

– Thiền sư Bách Trượng bảo: “Tu hành mà chọn pháp Niệm Phật là ổn định nhất”. – Thiền sư Vĩnh Minh bảo: “Không Thiền có Tịnh Độ, Vạn người tu vạn người chứng; Chỉ được thấy Di Đà, Lo gì không khai ngộ! Có Thiền không Tịnh Độ, Mười người tu, chín sai đường; Địa ngục hiện trước mắt, Vừa thấy liền vào đấy”.

– Đại sư Tỉnh Am bảo: “Một câu Di Đà, Là kiếm báu dứt tuyệt chúng tà. Một câu Di Đà, Là mãnh tướng phá tan Địa ngục. Một câu Di Đà, Là đèn sáng chiếu soi tăm tối. Một câu Di Đà, Là thuyền Từ cứu vớt biển khổ. Một câu Di Đà, Là đường tắt ra khỏi Luân hồi. Một câu Di Đà, Là hướng tốt giải thoát sanh tử Một câu Di Đà, Là bí quyết thành tựu Tiên, Phật. Một câu Di Đà, Là thần dược hoán chuyển xương tủy. Tám vạn bốn ngàn pháp môn, Sáu chữ thâu trọn, Một ngàn bảy trăm dây sắn, Một dao đứt tuyệt”.

– Thiền sư Triệt Ngộ bảo: “Một câu Nam mô A Di Đà Phật: Là thuốc A – già – đà, không bệnh gì không chữa khỏi; Là vua ngọc như ý, không nguyện gì không viên mãn. Là thuyền Từ của bể khổ sanh tử, không khổ nào không cứu thoát; Là đèn Tuệ của đêm dài vô minh, không tối nào không phá tan. Khi niệm Phật, thời điểm ấy thấy Phật; khi cầu vãng sanh, thời điểm ấy vãng sanh; ba thời gian đồng nhất chẳng có trước sau”.

– Cổ Đức bảo: “Một câu Di Đà, không niệm gì khác, chẳng nhọc gảy móng tay, đến phương Tây, Không cần Ba tăng – kỳ tu phước tuệ, chỉ nhờ Sáu chữ ra khỏi càn khôn, Chớ lạ chỉ một câu vượt Thập địa, nên biết chỉ Sáu chữ gồm Tam thừa. Nếu người nào chỉ niệm A Di Đà, hiệu ấy là Thiền tuyệt diệu vô thượng, Tam tạng gồm Mười hai bộ Kinh, dành cho những người khác ngộ chứng, Tám vạn bốn ngàn các pháp môn, để cho người xung quanh tu tập”.

Lợi ích của niệm Phật

Người niệm Phật dù không hiểu hay không cầu mong, nhưng vẫn được Hai lợi ích trong hiện tại và tương lai. Hiện tại chính là cuộc sống đời hiện tại, như đã trình bày tóm lược, rõ ràng ở trước. Người niệm Phật, hiện tại sẽ được Năm thứ Tăng thượng duyên hay Năm thứ phước đức tốt đẹp; đó là, Chúng sanh và Phật đà là nhất thể; được hào quang đức Phật A Di Đà chiếu soi, chư Phật hộ niệm, Bồ-tát thân cận, Trời Thần ủng hộ; tội chướng tiêu trừ; phước đức tăng trưởng; tuổi thọ dài lâu.

Tương lai chính là cuộc sống về sau trong đời tương lai, cũng là ý nghĩa mà Đại sư Thiện Đạo đã giải thích: “Khi xả bỏ thân mạng liền hội nhập nhà chư Phật, tức hội nhập Tịnh Độ Cực lạc”. Cũng có nghĩa, khi lâm chung sẽ vãng sanh về Cực lạc, cùng đức Phật A Di Đà đồng chứng vô lượng quang, vô lượng thọ. Lợi ích trong hiện tại gọi là Hoa báo, lợi ích trong tương lai gọi là Quả báo. Đã gieo hạt giống xuống thì hẳn nhiên sẽ khai hoa kết quả – khai hoa trong hiện tại và kết quả trong mai sau. Nếu niệm Phật mà cầu nguyện vãng sanh thì Hoa Quả đồng thời. Hiện tại đã có lợi ích thì hẳn nhiên tương lai cũng sẽ có lợi ích, một mà hai, hai mà một. Hiện tại sinh hoạt được an ổn, tương lai được vãng sanh chứng quả, đều do Thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà không thay đổi danh hiệu, không xen tạp tu các pháp khác, nhất tâm đến tận đáy lòng, lấy thời gian trọn đời làm giới hạn.

Đa phần mọi người chủ trương niệm Phật A Di Đà là để cầu nguyện khi lâm chung được vãng sanh, còn trong cuộc sống bình thường: Để trị bệnh tật thì niệm danh hiệu đức Phật Dược Sư; để cứu khổ nạn thì niệm danh hiệu Bồ tát Quán Âm; để được Trí tuệ thì niệm danh hiệu Bồ tát Văn Thù; để tiêu trừ nghiệp chướng thì niệm Diệt định nghiệp chơn ngôn; cho đến, giải oan bạt độ cho vong linh, khử trừ tà ma quỷ mị thì dùng khoa nghi bài sám để cầu nguyện. Vì cho rằng, niệm Phật A Di Đà chỉ lợi ích khi lâm chung, ít có lợi ích trong cuộc sống hằng ngày, thậm chí còn hiểu sai lầm rằng, đức Bồ tát Quán Âm có duyên sâu dày, còn đức Phật A Di Đà lại có duyên cạn mỏng với chúng sanh, nên nhiều người niệm danh hiệu Bồ tát Quán Âm mà ít người niệm Phật A Di Đà. Do đây mà, hoặc có người sáng sớm niệm Bồ tát Quán Âm, chiều tối niệm Phật A Di Đà; hoặc có người khi cần việc thì niệm Bồ tát Quán Âm, khi vô sự thì niệm Phật A Di Đà. Với sự hiểu biết sai lầm, tà vọng như thế, đều xuất phát từ sự không tri nhận rõ: Người niệm Phật được hào quang đức Phật soi chiếu, chúng Thánh bảo hộ; tội chướng trừ diệt, phước đức sinh trưởng, xa lìa mọi ách nạn, hiện tại được an ổn, lâm chung được vãng sanh, như ở trước đã trình bày về hai sự lợi ích của đời hiện tại và đời tương lai.

Chính thế, chúng ta nên biết rằng: Không kể đời hiện tại được an ổn lợi lạc, hoặc khi lâm chung được vãng sanh để thành Phật, mà tất cả mọi lợi lạc khác cũng đều do một câu Nam mô A Di Đà Phật là tròn đầy viên mãn, không có một tơ tóc khiếm khuyết. Vì thế, phải từ sớm đến tối, từ tối đến sáng, nếu chúng ta có niệm thì chỉ thuần nhất chuyên niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, lấy thời gian trọn đời làm giới hạn, không niệm thêm một danh hiệu nào khác, không tu thêm một pháp môn nào khác. Như thế, là chân chánh khế hợp với Bổn nguyện đức Phật A Di Đà, Thậm chí chỉ niệm được mười niệm, như đức Thích Tôn đã khuyến khích cũng là Thuần nhất chuyên niệm, và đây là cơ sở để chư Tổ truyền bá tôn chỉ Tịnh Độ là Thuần nhất chuyên niệm vậy.

Luận về một đời người, thì phải gánh lấy những điều bất như ý, chẳng hạn như sự bần cùng, bệnh tật, chết yểu, tai nạn, nghịch cảnh, chướng duyên, thậm chí còn đối diện với tất cả sự khổ đau của đúng sai thành bại, ân oán cừu địch… Xét căn nguyên của các hiện tượng đó, chỉ gói trọn trong ý nghĩa là bị che phủ: Tức Nghiệp nặng chướng sâu, phước mỏng tuệ cạn. Tuy nhiên, một câu A Di Đà chính là vô lượng thọ, cũng là vô lượng quang. Bởi vì vô lượng thọ, nên người niệm Phật có được quả báo phước đức tăng trưởng, tuổi thọ dài lâu; bởi vì vô lượng quang, nên người niệm Phật có được lợi ích Nghiệp chướng tiêu trừ, Trí tuệ phát khởi. Nghĩa là: Niệm Phật một tiếng thì tội chướng được diệt trừ vô số, lạy Phật một lạy thì phước đức được tăng trưởng vô lượng. Thế nên, người niệm Phật thì được Nghiệp tiêu tuệ sáng, chướng diệt phước lớn, gặp dữ hóa lành, gặp nạn thành an. Qua đây, người bần cùng niệm Phật thì gặp quý nhân giúp đỡ để được cơm no áo ấm. Người bệnh tật niệm Phật thì được giúp đỡ thuốc thang để sớm được lành bệnh. Nếu gặp bệnh tật do Nhân quả Nghiệp chướng thì thuốc thang tuyệt đối không có hiệu quả, chỉ nhờ niệm Phật mà thôi.

Niệm Phật thì Nghiệp chướng tiêu diệt, Nghiệp chướng tiêu diệt thì bệnh lành; niệm Phật thì Quỷ lánh xa, Quỷ lánh xa thì thoát khỏi tai họa. Hơn nữa, niệm Phật có thể hóa giải sự oán thù của Quỷ và độ thoát cho những kẻ thù địch. Nếu người nào thường niệm Phật thì hết thảy mọi tai họa lớn sẽ trở thành nhỏ, những tai họa nhỏ sẽ tiêu mất, người niệm Phật sẽ thoát khỏi tai họa của cộng nghiệp ấy. Những tai họa khác như nạn lửa, nạn nước, nạn hạn hán, nạn ở không trung, nạn ở biển cả, nạn xe cộ, nạn trộm cướp, nạn chiến tranh, nạn dịch bệnh, nạn do Trời, nạn do Người… nếu người nào thường niệm Phật, cũng thoát khỏi mọi tai họa này. Cho đến việc Cưỡi ngựa, đi thuyền đến chỗ xa xôi có nhiều tai nạn nguy hiểm, những việc ấy cần phải niệm Phật thì thoát khỏi nguy hiểm, bình an vô sự. Hơn nữa, Trời Đất bão tố bất ngờ, sớm tối họa phước của con người khó lường, muốn chuyển họa thành phước, tránh xấu gặp tốt thì chỉ có niệm Phật mà thôi. Cổ Đức bảo: “Muốn diệt trừ Bảy tai nạn trong thế gian, thì cần phải niệm Nam mô A Di Đà Phật”. (Bảy tai nạn gồm: 1. Mặt trời, mặt trăng sinh hoạt bất thường, 2. Tinh tú sinh hoạt bất thường, 3. Nạn lửa, 4. Nạn nước, 5. Nạn bão, 6. Nạn thời tiết thất thường, 7. Nạn trộm cướp.)

Công đức niệm Phật là vô biên, phàm những mong ước như: Cầu con nối dòng, cầu sống lâu, cầu bệnh lành, cầu thoát nạn, cầu bảo vệ công danh, cầu gia đạo bình an, mưu cầu sự nghiệp, cầu tài lộc, thậm chí giải trừ oán kết, cầu siêu thoát cho Tổ tiên thân thuộc, đều có thể niệm Phật để nguyện cầu, bởi lẽ:

  • Niệm Phật: Giản dị, Viên đốn.
  • Niệm Phật: Phương pháp rất dễ dàng, hiệu quả rất nhanh, công đức rất cao.
  • Niệm Phật: Thực hành dễ, thành tựu cao, dùng sức ít mà được kết quả nhanh.
  • Niệm Phật: Đời hiện tại đã được an ổn, khi lâm chung lại được vãng sanh, không những tự thân được phước mà gia đình cũng được thừa hưởng công đức.
  • Niệm Phật: Là phương tiện tối ưu trong tất cả những phương tiện tu tập, là pháp tu trực tiếp nhất trong tất cả pháp tu, là pháp tu giản đơn nhất trong tất cả pháp tu, là pháp tu rất dễ trong tất cả pháp tu dễ. Mọi người đều có thể tu, mọi người đều có thể chứng.
  • Người niệm Phật: Quỷ Thần không thể làm hại, Thập điện Minh Vương không dám gọi về.
  • Người niệm Phật: Có bốn mươi dặm hào quang soi chiếu quanh thân, Ma không thể xâm phạm.
  • Người niệm Phật: Được đức Phật A Di Đà thường hiện diện trên đỉnh đầu ngày đêm bảo hộ, không để những kẻ oán thù có dịp thuận tiện làm hại, đời sống hiện tại luôn được an ổn, khi lâm chung theo duyên mà vãng sanh.

Tổ Ấn Quang bảo: “Chúng ta nên biết rằng, người niệm Phật chân chánh, dù không nguyện cầu phước báo thế gian, nhưng phước báo ấy hẳn nhiên hiện hữu, như: Vô bệnh trường thọ, gia đình an vui, con cháu phát đạt, mọi sự như ý, vạn sự an lành… Nếu người niệm Phật vì cầu phước báo thế gian, không vui thích hồi hướng cầu vãng sanh, thì phước báo thế gian có được, sẽ trở thành thấp kém; hơn nữa, tâm không thuần nhất tinh chuyên niệm Phật, thì kết quả vãng sanh khó được chắc chắn vậy!”

( Niệm Phật là gì – Tuệ Tâm 2020Theo Bản nguyện niệm Phật)

Xem thêm:

+ Cách thay đổi vận mệnh

+ Cách tụng kinh tại nhà

+ Âm đức là gì.

+ Cách niệm Phật tại nhà.

+ 10 chuyện Tâm linh có thật.

+ 10 chuyện nhân quả báo ứng có thật.

+ Niệm Phật A Di Đà được cảm ứng.

+ Chú Đại Bi linh cảm ứng.

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *