Phép thuật có thật hay không

Phép thuật có thật hay không? Nhân buổi trà dư bạn hỏi, tôi trả lời: Có thật! Người bình thường nghe có vẻ lạ và khó tin, nhưng với người am hiểu Phật pháp thì phép thuật có thật và cũng chẳng có gì là kỳ đặc cả, đây vốn chỉ là một phương tiện dùng để độ sanh không hơn không kém.

Phép thuật có thật hay không
Phép thuật có thật hay không

Lại Đức Phật nghiêm cấm việc thi triển Phép thuật, nên từ cổ chí kim, người đắc Thần thông rất nhiều, nhưng cực ít người thị hiện. Nếu bắt buộc thị hiện, thì phải tuân thủ theo nguyên tắc bất di bất dịch: Làm phương tiện giúp đời, độ sanh, khiến người quy hướng Chánh pháp, để tìm đường lìa xa tam giới. Phật tử tu hành, hoặc Niệm Phật, hoặc trì Chú, hoặc tụng Kinh tham Thiền, nếu giữ giới tinh nghiêm thì khả năng thần thông tự khai mở, nhưng phải xem thần thông như đôi dép rách thì mới mong có ngày giải thoát. Bằng không, thần thông như con dao hai lưỡi, nhập ma dễ như chơi!

*

Thần thông là một thuật ngữ của Phật pháp, dân gian hay gọi là phép thuật. Mặc dù khá khiên cưỡng, nhưng để gần gũi với người đọc, Tuệ Tâm tôi xin sử dụng từ theo lối dân gian trong bài viết này. Xin trích đăng những câu chuyện có thật về Phép thuật của ba bậc Chân tu trong thế giới cận đại, cho người hữu duyên. Mục đích không phải truyền bá ham muốn về phép thuật, mà đơn thuần chỉ là một góc nhìn về các cảnh giới và giúp người vững tin nơi chánh pháp của Như Lai.

Nguyện những ai có nhân duyên đọc bài này đều hiểu rằng: Nhân quả không hư dối, vô lượng kiếp đến nay chúng ta trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi, không khổ nào, không cõi giới nào, không thân nào chưa từng trải qua, từ đó phát tâm trì niệm danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật, cùng nương vào Bản nguyện của Phật A Di Đà, vãng sinh Tây Phương Tịnh Độ, vĩnh viễn lìa xa Tam giới!

Phép thuật

Tổ Thiền Tâm là một ” Hóa thân của Bồ Tát”, vì bi tâm độ sanh khẩn thiết, nên thị hiện nhục thân để độ sanh nơi mảnh đất Việt Nam bé nhỏ này. Công đức phiên dịch Kinh và độ sanh của Ngài không bút mực nào có thể tả hết được. Cuộc đời và đạo hạnh của Ngài được đệ tử ghi lại, có vô số những điều thần dị, kỳ bí. Ngài đúng là vị Hoà Thượng có nhiều huyền thoại lạ lùng nhất, trong các vị cao tăng Việt Nam cận đại. Sách ” Vô Nhất Đại Sư Kim Xà Thánh Giả” ghi:

” Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, sinh năm 1924, tại làng Bình Xuân, quận Hoà Đồng, Gò Công. Xuất gia từ năm 13 tuổi. Năm 1964, Hoà Thượng là Viện Trường Sáng Lập Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm. Hoà Thượng Thích Thanh Từ, vị thiền sư nổi danh tại VN hiện nay, và Hoà Thượng Thích Bửu Huệ, lúc đó là hai vị phụ tá của Hoà Thượng Thiền Tâm.

“Hương Quang tịnh thất” là nơi của cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm ẩn tu. Nơi này không nằm sát ngoài quốc lộ như đa số nhà của các người kinh khác, mà lại nằm sâu bên trong, sát với khu vực của người Thượng. Cho nên muốn vào đến chỗ trụ xứ của ngài thì phải đi bộ một khoảng đường rất xa mới tới. Vùng Phú An này (vào thời gian 1968) là nơi rừng núi, ít người lai vãng. Lại ở gần sông suối nên có rất nhiều loại rắn khác nhau.

*

Theo lời ngài kể lại, thì trong gần nửa năm đầu tiên về ẩn tu nơi đây, ngài gặp nhiều thứ rắn độc khác nhau, to có, trung bình có, nhỏ có. To thì cỡ bằng cột nhà, trung trung thì bằng bắp vế, nhỏ thì bằng bắp chân, cườm tay trở xuống v.v… Có đôi lúc sau khi làm vườn xong. Khi Ngài trở vào thất thì thấy rắn nó quấn đuôi trên ngạch cửa. Nó thòng mình xuống, hả miệng, le lưỡi thở khè khè. Ban đầu ngài cũng có ý sợ, chần chờ không dám bước qua.

Nhưng rồi nghĩ không lẽ đứng ở ngoài sân hoài, dùng cây đập đuổi thì gây thù oán khó lòng. Thôi thì cứ niệm Phật mà bước ngang qua đại. Rủi có bị nó cắn chết thì mình cũng quy Tây, càng tốt chớ sao! Rồi ngài nhiếp tâm niệm Phật và nghĩ đến phép “từ bi quán”, đoạn nhắm mắt đi ngang qua cửa. Con rắn “đánh đu” mình qua bên này, bên kia, chạm vào mặt vào cổ lạnh ngắt mà ngài vẫn làm thinh bước đi. Khi vào trong thất mở mắt nhìn lại thì nó cũng vừa buông mình ra, rớt xuống đất nghe một cái đụi rồi bò ra ngoài rừng đi mất.

Đụng ổ rắn thần

Lại có lần khác, sáng sớm thức dậy. Vừa bước chân xuống “đơn” thì ngài đạp trúng phải vật gì tròn tròn và mềm mềm. Ngó xuống thì thấy một con rắn hổ đen thui, to bằng bắp chân, đang nằm khoanh một đống ở dưới chân giường! Ngài nghĩ: Cha chả, mình đạp trúng nó một cái mạnh như vậy, chắc nó cắn mình quá. Liền niệm Nam mô A Di Đà Phật năm bảy câu rồi đứng chết trân tại chỗ chớ không dám nhúc nhích.

Còn con rắn kia dù bị ngài đạp trúng nhưng không có phản ứng gì hung hăng hết. Nó cất đầu lên nhìn ngài một hồi, rồi le cái lưỡi đỏ lòm ra khè khè mấy cái, đoạn nằm im trở lại. Lúc đó ngài mới dám bước đi, vừa mở cửa ra vừa niệm Phật mà bảo với y ta rằng:

“Thôi sáng rồi, đạo hữu cũng nên về đi để cho thầy còn niệm Phật nữa.”

Tưởng đâu nói khơi khơi vậy rồi thôi, không dè y ta dường như biết nghe nên chầm chậm bò ra ngoài rừng mất dạng.

Một lần khác, đêm đó ngài niệm Phật và trì chú Đại bi đến khuya mới xong. Vừa bước chân xuống cầu thang thì đạp phải một đống đen thui, to tướng. Ngài biết chắc là rắn nên niệm A Di Đà Phật một hồi, đoạn bước đến bàn viết. Vặn đèn cho tỏ để xem thì thấy một con rắn quá to đang cuộn tròn một đống bên cạnh đôi dép của mình. Nó nhìn ngài, ngài nhìn nó.

*

Hai bên làm thinh ngó nhau một chặp, ngài vừa niệm Phật vừa hỏi y ta rằng:

– Phải đạo hữu vào đây để nghe kinh, nghe niệm Phật không? Nếu phải vậy thì gật đầu ba cái cho thầy biết đi.

Rắn ta liền gật đầu 3 cái. Ngài biết đây là loại rắn linh cũng ưa tu niệm chớ không có ý gì muốn làm hại mình. Cũng như các lần trước, ngài mở cửa ra bảo thôi đạo hữu hãy về đi. Y ta nhìn ngài với ánh mắt hiền lành rồi từ từ bò ra ngoài đi mất. Từ đó trở đi, mỗi lần làm vườn hay tình cờ gặp phải các “người bạn dài thoòng, thấy dễ sợ” này, thì ngài niệm Phật cho nó nghe một hồi. Rồi mạnh đường ai nấy đi, việc ai nấy làm chớ không có xảy ra chuyện gì khác lạ cả.

Biết vùng này có nhiều loại rắn linh mến mộ tu hành nên ngài làm pháp “Du già thí thực”. Hồi hướng công đức tu niệm của mình để bố thí đến cho loài rắn và nói rằng:

– Từ nay nếu như quý vị muốn nghe kinh chú và niệm Phật  để tu theo thì cứ ở ngoài sân, đừng có vào trong thất của thầy nữa.

*

Sau vài lần “truyền lịnh” như thế thì từ đó về sau, tuyệt nhiên không còn có một con rắn nào vào trong cốc nữa. Nơi miền rừng núi cao nguyên này, có rất nhiều gò mối lớn. Chính cái thất mà ngài đang ở (Phương Liên thất) cũng nằm trên một gò mối lớn. Hầu hết gò mối đều là ổ hang của rắn cả. Gò mối càng lớn bao nhiêu thì rắn ở trong đó càng nhiều và càng to bấy nhiêu.

Như vừa lược qua, căn tịnh thất của ngài ở được xây cất trên một gò mối lớn (đã được san bằng). Vì vậy trên mặt đất thì Ngài ở, còn dưới mặt đất là rắn ở. Hòa Thượng đã vô tình “sống chung hòa bình” với cả đống rắn độc mà không hay biết.

Mỗi tối, khi ngài niệm Phật, trì chú, hoặc lễ bái, sám hối, tụng kinh thì các “y ta” nằm im ở dưới nền nhà. hoặc là bò lên mặt đất, rồi ẩn hình nằm tại chỗ để nghe và tu theo. Đây là lý do vì sao mà khi ngài mới dọn về, dưới chân giường, cầu thang…có rắn xuất hiện. Con nào con nấy dài đến cả mấy thước, to bằng bắp vế. Nằm một đống đen thui trong cốc mà ngài không hiểu vì sao nó lại vào thất được, trong khi ngài đã đóng cửa nẻo kỹ lưỡng hết rồi.

Linh thông biến hóa

Nhờ tu theo bằng cách dựa hơi hòa thượng, các “ông dài” này dần dần trở nên linh thông, có phép thuật biến hóa. Do vì cái ơn trọng đại đó, cho nên các “y ta” kính lễ Ngài như bậc cha, thầy. Còn các “y ta” thì giữ bổn phận của con, cháu hay đệ tử. Vì thế nên từ đó về sau các loài rắn này trở nên hiền hòa. Chúng không làm phiền gì mà còn âm thầm theo bảo vệ cho “Sư Phụ” nữa. 

Có lần, cố Hòa Thượng đang ngồi làm cỏ tranh và xới đất bên cạnh một gò mối lớn ở phía sau thất. Lúc quơ tay ra sau lưng để cầm cuốc thì ngài lấy làm lạ rằng: Ủa, sao bữa nay cái cán cuốc có vẻ là lạ và bự quá vậy?

Ngài quay đầu ngó lại thì té ra là mình đang nắm nhằm cổ của một con rắn to bằng bắp chân người lớn, màu đen có sọc vàng. Rắn ta vì bị nắm cổ nên hả miệng, le lưỡi ra khè khè năm sáu tiếng làm cho ngài hết hồn . Ngài buông tay và lùi lại phía sau, niệm Phật cả mấy chục câu mới định thần được. Xong ngài đứng ngó y ta một lúc và nói rằng: Ủa nhà ngươi ở đâu mà ra đây, nằm sau lưng ta hồi nào vậy? Thôi hãy đi đi. Ngài lấy tay xua, khởi ý đuổi đi. Rắn ta cũng ngó ngài, gật đầu mấy cái rồi bò ra phía sau gò mối.

Gặp rắn chúa ngàn tuổi

Ngài đứng ngó theo xem nó bò đi đâu nhưng chờ hoài mà vẫn không thấy tăm hơi gì hết, mới nghĩ: Ủa, bộ nó còn nằm gần đây sao mà không thấy bò đi đâu hết vậy kìa? Ngài đi vòng quanh gò mối, tìm kiếm mấy lần mà cũng không thấy y ta đâu hết.

Khuya lại, sau thời khóa trì niệm (gần 4 giờ sáng). Ngài đang ngồi trên ghế bên cạnh bàn viết, định bụng chút nữa sẽ pha cà phê uống thì nghe bên ngoài có tiếng gõ cửa. Ngài lấy làm lạ, trong bụng nghĩ rằng: Ủa, giờ này còn sớm quá mà sao Thượng lại tới gõ cửa vậy kìa? 

Ngài mới đứng lên, đi ra mở cửa thì thấy: Bên ngoài là hai người Thượng, một nam một nữ, tuổi chừng 50, dung mạo rất đơn sơ. Mặt mũi sần sùi, da dẻ đen đúa, cả hai đều mặc quần áo màu chàm trông cũng rất sơ sài, đầu hơi nhọn, đi chơn đất. Bàn tay nhám nhúa giống như có vảy, chắp tay, cúi đầu chào ngài, miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật. Ngài nghĩ bụng: Ủa, hai người Thượng này ở đâu đến mà thấy lạ mặt. Mình ở đây cũng đã lâu rồi mà chưa quen với hai vợ chồng này. Ngài hỏi:

– Phải hai vị đến xin việc làm hôn?

Hai người ấy đáp:

– Mô phật, kính bạch Hòa Thượng không.

– Ủa, vậy chớ có chuyện gì cần không mà gọi cửa tôi sớm quá vậy?

*

Người đàn ông đáp:

– Bạch Hòa Thượng, hai vợ chồng con đến đây để xin lỗi Hòa Thượng về chuyện đáng tiếc ban trưa. Có đứa cháu nội đã làm cho ngài giật mình. Xin Hòa Thượng từ bi tha lỗi và cho vợ chồng con sám hối.

Cố Hòa Thượng lấy làm kỳ, nên ngài mới hỏi:

– Cháu nội của hai vị hả, hồi nào, nó bao nhiêu tuổi? Tôi nhớ suốt cả ngày hôm qua có gặp đứa cháu nào đâu!

Người đàn bà đáp:

– Kính bạch Hòa Thượng. Cháu trai của con là đứa bé hôm qua mặc áo quần đen có sọc vàng. Nó nằm hầu phía sau lưng lúc ngài làm vườn đó.

Ngài mới hỏi

– Vậy hả, cháu bé bao nhiêu tuổi?

Người đàn bà đáp:

– Kính bạch Hòa Thượng, cháu được 95 tuổi!!!

Cố Hòa Thượng của chúng ta giật mình, thảng thốt hỏi tiếp:

– Ủa, cháu nội mà được 95 tuổi thì hai vị đây bao nhiêu tuổi?

Người đàn ông đáp:

– Dạ con được 842 tuổi và vợ của con 760 tuổi!

Đến đây thì Hòa Thượng đã biết rõ họ là ai rồi, nên ngài mới hỏi tiếp:

– Hai vị ở đâu tới đây?

Người đàn ông thưa:

– Bạch Hòa Thượng, chúng con ở Huỳnh Xà Thôn nằm về phía Đông của thôn Phú An này cách nơi đây khoảng 9 cây số, gia đình con có khoảng một ngàn người.

*

Vừa nói tới đây thì người đàn bà nắm lấy tay của ông chồng dặt dặt mấy cái như ra hiệu đừng nên nói nữa (chắc sợ bị lộ tông tích). Làm cho người chồng mới nói đến câu: khoảng một ngàn người… thì làm thinh luôn. Cố Hòa Thượng gật đầu nói:

– Thôi hai vị yên lòng về đi, không sao đâu.

Nghe ngài bảo như vậy thì hai vợ chồng người này đồng chắp tay cúi chào rồi quay lưng đi vòng ra sau thất của ngài. Hòa Thượng mới nom theo xem họ đi đâu và làm thế nào cho biết, thì ngài thấy khi họ ra đến phía sau rồi, cả hai người đồng hóa ra hai luồng ánh sáng màu vàng nhạt lớn bằng cườm tay, bay bổng lên không về hướng Đông đi mất (giống như ông đi, bà xẹt vậy).

Do đó nên ngài biết rằng: Đứa bé 95 tuổi mặc áo đen, sọc vàng là con rắn đen có vằn vàng, ngày hôm qua đã làm cho mình hết hồn! Hai vợ chồng này là rắn chúa. Hang ổ chánh của họ nằm về hướng Đông của ấp Phú An, cách đây 9 cây số có tên là “Huỳnh Xà Động”. Chắc có lẽ họ mới biết phép thuật biến hình, nên dung mạo còn thô sơ chớ chưa đẹp người. Và hơn nữa chắc mỗi đêm họ ít nhiều đến đây nghe kinh và tu theo mình nên mới có vẻ kính trọng mình và biết chắp tay niệm Phật như vậy.

*

 Nguyên gần 10 năm về trước, lúc cố Hòa Thượng còn nhập thất ở Bến Tre, ngài có quen với một vị tu sĩ tên là “Ông sư Mỏ Cày”. Sở dĩ gọi là ông sư Mõ Cày vì vị này tuy có hình tướng một nhà sư Phật giáo, nhưng thật ra là một người đạo sĩ tu tiên luyện phép thuật theo phương pháp xuất hồn. Địa danh nơi ông sư này ở tu tên Mõ Cày, không ai biết được tên thật của ổng là chi hết.

Ông sư này rất kính quý cố Hòa Thượng qua phong cách và đạo hạnh của ngài, nên thỉnh thoảng cũng có đến viếng thăm. Hòa Thượng cũng có chỉ dẫn thêm cho sư một vài pháp tu bổ túc, vì vậy mà sư có một sự mang ơn ở nơi cố Hòa Thượng.

Lúc ngài về Sài Gòn và làm Đốc giáo ở Phật Học Viện Huệ Nghiêm rồi thì sư cũng có đến thăm một lần. Đến khi cố Hòa Thượng lìa Huệ Nghiêm để ẩn tu thì hai đàng biệt nhau.

Mấy năm sau, sư mới tìm được lên Đại Ninh để thăm cố Hòa Thượng. Lần đầu tiên sư lên thăm cố Hòa Thượng vào năm 1970. Qua đêm đầu tiên, sáng lại sư có thưa với cố Hòa Thượng rằng thất của ngài đang ở tu nằm trên miệng hang của một động rắn “Kim Xà” rất lớn. Ông nói Hòa Thượng cẩn thận vì đây là các loại rắn thần con nào con nấy cũng sống trên mấy trăm năm. Ngài nói với sư là ngài đã biết việc đó từ lâu và cũng kể lại cho sư nghe về vài ba chuyện của các Kim Xà này.

Xuống động Huỳnh Xà

Qua ngày kế, sư nằm ngủ và dùng phép thuật xuất hồn ra đi “thăm” xà động này. Khi thức dậy sư có thưa cùng ngài như sau: Nguyên từ mặt đất của nền thất Phương Liên đi thẳng xuống dưới sâu 800 thước có một động rắn lớn. Trong đó có khoảng 200 “ông dài” đều sống từ hơn 100 cho đến gần 1000 tuổi hết. Động này có đường (hầm) thông qua 3, 4 động khác nữa. Chúa tể của tất cả các động rắn này là một đôi Xà Vương (rắn chúa) màu nửa đen, nửa vàng và đều đã được trên một ngàn tuổi.

Cặp Xà Vương này hiện đang ở ngay dưới nền thất của cố Hòa Thượng cùng với các con cháu. Mỗi đêm có đều nghe ngài niệm Phật, trì chú và tu theo, cho nên biết phép thuật biến hóa. Chúng thờ cố Hòa Thượng làm thầy để nương theo tu tập. Sư kể tiếp rằng, khi sư xuất hồn ra gặp hai vị Xà Vương động chúa này thì mấy vị đó có nhờ sư về thưa lại với ngài là họ muốn được quy y Tam Bảo cho được sớm thoát khỏi kiếp rắn.

Họ nói rằng trước kia họ chỉ có sống lâu thôi, chớ không biết phương cách tu hành (vì rắn lột da cho nên sống lâu lắm). Cứ ban ngày thì ngó mặt trời, ban đêm thì ngó theo trăng, sao. (Tu theo phép thuật luyện âm dương nhị khí). Nên mặc dù sống hơn cả ngàn năm rồi mà vẫn không sao luyện được phép thuật biến hóa.

*

Từ khi cố Hòa Thượng về ở đây tu, mấy năm trôi qua cũng nhờ nương theo oai lực chú ấn và câu niệm Phật của Hòa Thượng mỗi đêm, cho nên nay đã bắt đầu biến hóa được rồi và thân mình cũng đã đổi từ màu đen ra màu hơi vàng (tức là từ Hắc Xà vương chuyển dần sang Kim Xà vương). Hiện thời thì hai vị đó đang cùng với các quyến thuộc đều ẩn hình ở tại đây để tu và ngầm bảo vệ cho ngài là bậc đại sư của họ.

Hòa Thượng gật đầu và nhờ chuyển lời lại là hôm sau Hòa Thượng sẽ truyền phép Tam Quy, để cho họ được dự vào hàng Phật Tử. Hôm sau, Hòa Thượng đắp y hậu, ngồi trên pháp tòa bày sẵn giữa tịnh thất, trì chú và bắt ấn triệu thỉnh, chỉ đích danh 2 vị Xà Vương chúa động Huỳnh Xà thôn gọi về…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *