• Trang chủ
  • Kiến thức
    • Kinh Sách Phật Pháp
    • Bản Nguyện Niệm Phật
    • Nhân Quả Báo Ứng
    • Phật Pháp & Cuộc Sống
    • Góc Tu Tại Gia
  • Tải PDF
  • Bố thí & Cúng dường
  • Ấn Tống Kinh Tượng Phật
    • Phật Pháp
  • Giới Thiệu & Liên hệ
    • Bảo mật Thông tin
  • 0 - 0 ₫
kinhnghiemhocphat.com

kinhnghiemhocphat.com

Tuệ Tâm - Bản nguyện Niệm Phật Vãng Sanh

Trang chủ » Phật Pháp & Cuộc Sống » Nghi Ngờ là căn bản khổ của kiếp người

Nghi Ngờ là căn bản khổ của kiếp người

22/04/2022 22/04/2022 Tuệ Tâm 21 Bình luận

Nghi ngờ là căn bệnh trầm kha trong cuộc sống hiện tại. Nguyên nhân chính là do thiếu Tri thức và cái tâm đầy loạn động của ta gây nên. Tuy không có hình tướng nhưng “Nghi ngờ” hủy hoại ta một cách rất tinh vi. Về mặt đời: Nó khiến cuộc sống của ta và những người xung quanh chẳng được chút an yên. Về mặt đạo: Nó đoạn hết sạch thiện căn của ta, khiến ta không thể nào đặt được chân vào đường giải thoát. Sanh tử luân hồi thế nào, muôn kiếp vẫn y nguyên như thế!

“Nghi” có nghĩa là không phân biệt được được đúng sai nên chẳng tin nhận, “Ngờ” ở đây nghĩa là ngờ vực. Như thế, nghi ngờ là một trạng thái tiêu cực của tâm thức, do không thể phân biệt được đúng hay sai nên không tin và ngờ vực những điều mình thấy biết. 

Trong Phật Pháp, Nghi ngờ là một trong 10 Kiết Sử, nghĩa là một trong mười thứ trói buộc và sai sử, khiến người ta luôn sống trong khổ đau. Nghi ngờ có ba phương diện:

  1. Nghi mình: Tức là nghi ngờ chính bản thân mình, không thể phân biệt được mình đúng hay sai.
  2. Nghi người: Tức là nghi ngờ hành động, lời nói và việc làm của người khác. Cho dù việc người làm có lợi cho mình đi chăng nữa cũng không chịu tin là đúng.
  3. Nghi pháp: Tức nghi ngờ lời dạy của Thánh nhân, của Phật của Tổ. Dù lời dạy để giúp mình hết khổ đau, được hạnh phúc, nhưng mình cũng chẳng chịu tin nhận, chẳng chịu thực hành. 
*

Những người có tánh đa nghi thì ngoài xã hội chẳng tin đã đành, ngay cả đối với bạn bè và người thân, họ cũng thấy không có ai tin cậy. Sống mà tâm thức bị dày vò như thế chẳng phải là quá đau khổ hay sao?

Điều nguy hại nhất hiện nay là đa phần người ta sống trong nghi ngờ và tôn vinh nó. Việc này khiến niềm tin trong xã hội trở nên vô cùng hiếm hoi. Những thể chế gian dối lường gạt, nơi người ta chẳng biết tin vào điều gì thì chẳng cần nói; nhưng lạ kỳ thay: Chính những nền văn minh đề cao tự do, lại chính là nơi nghi ngờ được ca tụng và cổ xúy như một thứ tà giáo ma mị. Nó khiến lòng tin về những điều tốt đẹp của con người bị xói mòn đến cùng cực. Và đau xót hơn: Nó khiến người ta không biết mình phải tin vào điều gì, sống vì điều gì!

  • Thân người khó được, Phật pháp khó nghe.
  • Cách đi lễ Chùa đúng pháp.
  • Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
  • Khẩu nghiệp họa hại như thế nào.
  • Bị vong nhập, chuyện giờ Thầy mới kể.
  • 33 Tầng trời trong Phật giáo là những gì.
  • Phật giáo Đại Thừa và Tiểu Thừa – Cẩn thận phạm vọng ngữ.
Nghi ngờ là căn bản khổ của kiếp người
Nghi ngờ là căn bản khổ của kiếp người

Luận về nguyên nhân và sự nguy hại của Nghi ngờ

Nghi ngờ còn gọi là “Hoài Nghi.” Người thế gian suốt đời cứ nghi ngờ hết việc này đến việc khác. Ai nói gì cũng không tin, ai làm gì cũng không theo, nên rốt cuộc không làm nên được việc gì cả.  Ðối với người thân trong gia đình, họ không tin cậy giao phó công việc; đối với bạn bè, họ nghi ngờ tất cả mọi thiện chí. Ngay đối với mình, họ cũng không tự tin nữa. Ðã không tự tin, họ còn gây hoang mang cho người chung quanh, làm cho người khác ngã lòng, thối chí. 

Tạng Thư Sống Chết luận: “Tâm chúng ta thường giao động và hoang mang vì hoài nghi. Đôi khi tôi nghĩ “Nghi” quả là một chướng ngại bế tắc tiến hóa nhân loại hơn cả tham lam chấp thủ. Xã hội chúng ta đề cao sự khôn khéo thay vì trí tuệ, và ca tụng những khía cạnh nông cạn, khó chịu và ít lợi ích nhất của trí thông minh. Chúng ta đã trở nên quá tinh khôn và loạn thần kinh đến nỗi ta xem chính hoài nghi là chân lý, và sự hoài nghi – mà chỉ là nỗ lực vô vọng của bản ngã để tự vệ – lại được thần thánh hóa xem như mục tiêu và kết quả hiểu biết.

*

Hình thức hoài nghi nhỏ nhen thấp kém này là chúa tể thảm hại của luân hồi sinh tử, được phụng sự bởi một đám “chuyên gia”, chuyên dạy cho ta không phải thứ hoài nghi rộng mở mà Phật xác nhận là cần thiết để thử nghiệm nền giáo lý, mà một hình thái hoài nghi phá hoại, không chừa lại cho ta một điều gì để tin vào, không có gì để hy vọng, và không có gì để sống theo.

Như thế nền giáo dục hiện đại đã nhồi sọ chúng ta trong sự tôn vinh hoài nghi. Trong đó muốn được xem là thông minh thì ta phải hoài nghi tất cả mọi sự. Phải luôn luôn bới lông tìm vết và ít khi hỏi có cái gì là đúng, tốt lành; phải chế nhạo mọi lý tưởng tâm linh, mọi triết lý ta thừa hưởng; hoặc nhạo báng bất cứ gì được làm với tâm vô tư và thiện chí.”

Có một “Sự Nghi ngờ cao cả”

Đức Phật kêu gọi ta đến một hoài nghi khác: “Như phân tích vàng: Nướng nó lên, cắt, cọ xát để thử tính chất nó có thực sự là vàng ròng hay không.” Để có được thứ hoài nghi thực sự sẽ đưa ta đến chân lý ấy, muốn theo đến cùng, quả thực chúng ta không đủ tri kiến, can đảm, và cũng không được huấn luyện để làm việc ấy. Chúng ta đã được huấn luyện cho quen cái thói mâu thuẫn, vẫn thường xuyên tước đoạt khỏi ta hết mọi sự cởi mở, để đón nhận bất cứ một sự thật nào khoáng đạt và cao quý hơn.

Thay vì hình thái hoài nghi chấp đoạn diệt như hiện nay, tôi sẽ mời bạn đặt một nghi vấn mà tôi gọi là “hoài nghi cao cả.” Một thứ hoài nghi vốn là một thành phần làm nên con đường đưa đến giác ngộ. Chân lý rộng lớn của những giáo lý mật tông được truyền lại cho chúng ta ngày nay, quả không phải là một cái gì mà thế giới đang lâm nguy hiện nay có thể bác bỏ được.

*

Thay vì nghi ngờ những giáo lý ấy, tại sao ta không nghi ngờ chính ta: Sự ngu dốt của ta, sự hợm hĩnh tự cho ta đã hiểu biết tất cả mọi sự; thói chấp thủ và tránh né của ta; lòng say mê đối với những cái gọi là giải thích thực tại…Những giải thích không giống chút nào với trí tuệ bao la khả úy, mà những bậc thầy, những sứ giả của Thực tại, đã cho ta biết? Loại hoài nghi cao cả ấy giục ta tiến lên; gợi cảm hứng cho ta, thử thách ta; làm cho ta càng ngày càng trở nên chân thực; thêm năng lực cho ta và kéo ta lại gần từ trường của chân lý.

Khi gần những bậc thầy, tôi thường hỏi đi hỏi lại những vấn đề tôi cần giải đáp. Đôi khi tôi không được những giải đáp rõ ràng; song tôi không nghi ngờ thầy, hay nghi ngờ nền giáo lý. Đôi khi tôi có thể nghi mình chưa đủ trình độ tâm linh; hoặc nghi khả năng nghe (văn tuệ) của mình chưa đủ để hiểu trọn vẹn.

Và thường khi, tôi cứ tiếp tục hỏi đi hỏi lại cho đến khi có được một giải đáp rõ ràng. Và khi giải đáp ấy đến, vang lên một cách mạnh mẽ trong sáng trong trí tôi; tim tôi nhói lên một niềm tri ân đón nhận. Khi ấy trong tôi phát sinh một lòng tin kiên cố. Cho dù cả thế giới đầy những người nhạo báng cũng không phá hoại nổi.

Bản chất của Nghi ngờ là thiếu Tri Kiến

Tôi nhớ vào một đêm mùa đông trăng sáng. Tôi cùng lái xe với một trong những sinh viên của tôi từ Paris xuống Ý. Bà ta là một nhà chữa tâm bệnh, và đã qua nhiều loại huấn luyện. Bà bảo tôi, điều bà nhận thấy là: Càng biết nhiều, ta càng nghi ngờ nhiều; và càng viện cớ để nghi mỗi khi sự thật bắt đầu động chạm đến mình một cách sâu xa. Bà bảo, bà đã cố nhiều lần để chạy trốn giáo lý này, nhưng cuối cùng bà nhận ra rằng không chạy đâu thoát được; vì thực sự là bà đang chạy trốn chính mình.

Tôi bảo bà rằng hoài nghi không phải là một cái bệnh. Đó chỉ là một triệu chứng của thiếu ‘Tri kiến’, thiếu sự nhận chân về bản tính tự nhiên của tâm. Khi có Tri kiến, thì không thể nào nghi ngờ gì nữa; vì khi ấy ta sẽ nhìn thực tại với chính con mắt của thực tại. Nhưng khi ta chưa đạt giác ngộ, tôi nói, thì đương nhiên phải còn hoài nghi. Vì nghi ngờ là hoạt động căn bản của cái tâm chưa ngộ. Và cách duy nhất để xử lý những hoài nghi là: Không đàn áp chúng, nhưng cũng không say mê theo chúng.

*

Cần có sự khéo léo để xử lý những hoài nghi; nhưng tôi để ý ít ai biết cách theo dõi những hoài nghi hoặc xử dụng chúng. Có phải mỉa mai chăng, trong một nền văn minh sùng thượng thế lực của sự giảm giá và hoài nghi như vậy, lại không có ai can đảm để hạ giá chính những tuyên bố của hoài nghi, để làm như một bậc thầy Ấn Độ đã nói:

“Hoài nghi chính cái sự hoài nghi; lột mặt nạ tính đa nghi và tìm xem nó có nguồn gốc từ nỗi tuyệt vọng nào? Nó tới từ nỗi sợ hãi gì và nó từ đâu tới? Khi ấy hoài nghi không còn là một chướng ngại, mà là một cánh cửa mở đến thực chứng; và mỗi khi hoài nghi xuất hiện trong trí, một người tầm đạo sẽ đón nó như một phương tiện để đi sâu vào sự thật.”

Có một câu chuyện về một thiền sư mà tôi rất thích. Thiền sư này có một đệ tử trung thành nhưng rất ngốc nghếch. Y luôn xem ông như một vị Phật sống.

Một hôm tình cờ ngồi trên một cây kim. Ông la lên “Ối” rồi tung mình lên để tránh. Người đệ tử liền mất hết tin tưởng nơi vị thầy và bỏ đi. Anh bảo rằng anh ta rất thất vọng vì thấy thầy mình chưa chứng đạo. Bởi nếu chứng thì ông đã không nhảy lên mà la lớn như thế.

Vị thầy buồn bã khi nghe người đệ tử đã bỏ đi, và bảo: – Tội nghiệp cho y! Nếu y hiểu được rằng kỳ thực không có ta, không có cây kim, cũng không có tiếng la nào thực hữu!

*

Ta không nên lập lại cái lỗi của người đệ tử nọ. Đừng nên xem những hoài nghi quan trọng quá mức. Đừng để cho chúng lớn quá cỡ, hay trở nên cuồng tín về chúng. Điều ta cần học là: Làm thế nào dần dần chuyển được sự vướng vào hoài nghi, do bối cảnh văn hóa, thành ra một hoài nghi có tính chất hài hước và bi mẫn.

Điều này có nghĩa hãy cho những nghi ngờ có thời gian; và cho chúng ta có thời gian, để tìm giải đáp cho những nghi vấn của mình. Những nghi vấn không phải chỉ có về phương diện tri thức hay triết lý, mà thực, sống, và có thể giải được. Những hoài nghi không thể tự chúng giải quyết ngay; nhưng nếu chúng ta đủ kiên nhẫn thì một khoảng không có thể được sinh ra trong nội tâm ta. Ở đó những hoài nghi có thể được xem xét cẩn thận, khách quan; và do đó được gỡ rối, được giải quyết.

*

Không nên quá hấp tấp để giải quyết tất cả mọi vấn đề và hoài nghi của bạn; vì các bậc thầy nói: “Hãy gấp rút một cách từ từ.” Tôi luôn luôn bảo sinh viên tôi đừng có những mong đợi phi lý, vì sự tiến bộ tâm linh cần thời gian. Muốn học Nhật ngữ thật giỏi, hay trở thành bác sĩ, cũng phải cần nhiều năm. Làm sao chúng ta có thể hy vọng có được tất cả những giải đáp chỉ trong vài tuần, huống gì là đạt giác ngộ?

Cuộc hành trình tâm linh là một cuộc học hỏi và thanh luyện không ngừng. Khi biết như vậy, bạn sẽ trở nên khiêm cung. Có một châm ngôn Tây Tạng rằng: “Đừng lầm hiểu với chứng ngộ, và đừng lầm chứng ngộ với giải thoát.”

Và Milapera nói: “Không nên hy vọng chứng đạo, mà hãy hành đạo suốt đời bạn.”

Một trong những điều tôi thích nhất trong truyền thống tôi, là sự thực tế giản dị, và ý thức mãnh liệt rằng: Những thành tựu lớn nhất cần có sự kiên nhẫn sâu xa và thời gian dài nhất.”

Bóng tối nghi ngờ

Trong Hiểu Về Trái Tim, Ngài Minh Niệm bảo: “Khi không hiểu được sự thật thì ta dễ phát sinh thái độ nghi ngờ. Đây là một loại phản ứng bảo vệ cái tôi ích kỷ của mình. Bởi hầu hết những nghi ngờ của ta đều cho rằng người kia có thể là kẻ xấu, chứ ít khi nào ta nghi ngờ ngược lại. Trong khi bản chất của sự nghi ngờ chỉ là thái độ thắc mắc, suy đoán, hay thử đặt ra những giả thuyết khác có thể xảy ra. Nên đó cũng là cơ hội tốt để ta bắt tay vào công trình khám phá thêm sự thật về đối tượng ấy.

Nhưng thói quen “kinh điển” của ta là: Khi nghi ngờ điều gì thì hầu như ta tin chắc đó là sự thật. Ta không muốn tìm hiểu hay khám phá thêm nữa. Thậm chí, khi được cung cấp những thông tin có cơ sở, chứng minh rõ ràng để giúp ta hiểu đúng đắn hơn về đối tượng ấy, thì ta cũng không dễ dàng mở lòng ra tiếp nhận.

Ta luôn nghĩ:

Dò sông dò biển dễ dò

Nào ai lấy thước mà đo lòng người”.

Ta biến lời nhắc nhở nên cẩn thận, khi đặt niềm tin thành câu thần chú bất di bất dịch, để che đậy sự sợ hãi, yếu đuối và thiếu trách nhiệm của mình. Thế nên, có khi sự thật hiện bày sờ sờ ra đó nhưng ta lại chìm đắm trong những vọng tưởng miên man; rồi rơi vào những nhận thức và phán xét sai lệch.

*

Càng sống trong điều kiện tiện nghi thì nội lực của ta càng yếu kém. Khả năng quan sát tinh tường để quyết đoán đúng sai, hay thật giả của ta, không còn nhạy bén như xưa nữa. Ta đã đặt đời sống của mình ở bên ngoài quá nhiều; đã hy vọng điều kiện hạnh phúc từ những đối tượng khác quá lớn. Cho nên lúc nào ta cũng lo sợ nghịch cảnh sẽ ập tới.

Nếu ta từng bị lừa dối, từng lăn xả trong chốn thương trường hay hoạt động chính trị. Ta rất dễ hình thành thói quen cảnh giác với tất cả mọi đối tượng, dù đó là ai. “Không có lửa thì làm sao có khói.” Ta vẫn thường dùng hình ảnh này để giải mã mọi vấn đề. Trong khi thực tế không có vấn đề nào giống hệt như vấn đề nào. Cũng như khói không nhất thiết phải sinh ra từ lửa; vì ngay cả khí lạnh cũng có thể sinh ra khói kia mà.

Ngay khi người kia không có một tín hiệu nào khả nghi cả, họ rất tốt và dễ thương, ta biết rõ điều ấy nhưng ta vẫn không cưỡng lại nổi cố tật nghi ngờ của mình. Ta nghĩ thà nghi lầm còn hơn là tin lỡ. Đó là một sai sót rất lớn của cơ chế tâm lý. Nếu không chữa trị thì sớm muộn gì nó cũng chuyển sang mức độ nặng hơn, như là phán xét hay vu khống. Trong khi một người có nội lực vững vàng thì không bao giờ nghi ngờ người khác làm điều xấu với mình. Vì họ có đủ sức ứng phó một cách bình thản trước mọi biến động.

*

Lỡ như những nghi ngờ của ta hoàn toàn đúng với sự thật thì sao? Ta mong muốn kết quả nào? Dường như ta đang cố gắng phanh phui những điểm yếu, hay những vụng về lầm lỡ của người kia; để ta tránh xa hoặc cổ vũ người khác tẩy chay họ, chứ không phải để hiểu và thương họ hơn.

Phần lớn những nghi ngờ của ta đều nhắm vào mục đích thỏa mãn bản ngã. Dù có khi ta nhân danh tập thể hay cộng đồng nào đó để lên tiếng. Vậy có khi nào nhân danh đạo đức hay tình nhân ái mà ta chú ý đến những cái hay cái đẹp để ca ngợi; còn những biểu hiện khả nghi kia, ta vẫn im lặng quan sát và tìm cách giúp đỡ không?

Tại sao ta không giữ thái độ tôn trọng người ấy dù ta đang có vài nghi ngờ về họ? Tại sao ta không tự hỏi do người ấy rất đáng để ta nghi ngờ, hay tại ta mắc chứng bệnh nghi ngờ quá nặng? Tại sao ta không dám đứng ra xin lỗi người ấy khi phát hiện ra mình đã nghi oan cho họ? Thế nên, nghi ngờ thường chỉ làm cho ta yếu đuối và hèn nhát hơn mà thôi.

*

Ta không hề biết rằng: Mỗi khi phát sinh ý niệm nghi ngờ kẻ khác. Dù họ có xấu thật hay không, thì trong tâm ta đã tạo ra một nguồn năng lượng rất độc hại. Nó đốt sạch năng lượng an lành trong ta; khiến ta đánh mất cơ hội tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm. Bởi vì lúc nào ta cũng bận tâm tìm kiếm thêm chứng cớ.

Dù ta chưa thốt ra lời nói hay hành động nào để thể hiện sự nghi ngờ. Nhưng một khi ta đã hướng tâm tới người khác để gửi sự nghi ngờ, tức là ta đã gửi đi một năng lượng xấu. Đúng hơn là ta nợ họ một cảm xúc xấu. Theo “quy luật cân bằng cảm xúc” thì họ sẽ tìm cách trả lại ta một cảm xúc xấu khác tương ứng – Nếu họ nhận ra sự nghi ngờ của ta có tính chất xấu. Còn không, vũ trụ cũng sẽ nhờ đối tượng khác trả lại ta một cảm xúc xấu khác.

Tệ hại nhất là ta lỡ nghi oan cho một bậc nhân từ, đức hạnh – Nơi quy tụ vô số năng lượng an lành của vũ trụ – Thì hậu quả sẽ khôn lường. Đó là món nợ cảm xúc khổng lồ, ta và con cháu ta nhiều đời mới trả hết. Cho nên, đừng bao giờ dễ dãi buông ra sự nghi ngờ. Hãy tập tự hối tâm, hoặc bày tỏ sự ăn năn trực tiếp, khi phát hiện ra mình đã lỡ nghi oan cho ai đó, để hóa giải phần nào hậu quả.”

Về sự nghi ngờ trên đường Đạo

Một bạn đọc hỏi: “Tôi có tánh nghi ngờ rất sâu nặng. Đối với pháp môn tịnh độ, mặc dù tôi rất cung kính, không dám kinh nhờn. Nhưng tôi vẫn không thể dứt khỏi hoài nghi. Tôi cũng biết rằng nếu lỡ mất cơ duyên này thì vạn kiếp nan tao ngộ, cũng biết rằng nghi hoặc lời Phật là sai, nhưng không biết làm sao để đoạn nghi ngờ, sanh tín tâm. Xin cho tôi một lời khuyên…”

Tôi bảo: “Cái tánh nghi ngờ sâu nặng ấy của bạn là do chướng nghiệp ngăn che; là tập khí từ nhiều đời nhiều kiếp rồi, không phải bây giờ mới có đâu! Rất có thể trong một kiếp nào đó, do học Phật nhưng hủy báng pháp môn Tịnh Độ mà chiêu cảm lấy. Cho nên nay gặp được Pháp môn Tịnh Độ, nghi mà vẫn cung kính là nhờ sức gia bị của Tam Bảo mà được. Nếu không có sức gia bị ấy, chắc đã sanh tâm hủy báng lâu rồi.

*

Đối trị cái tập khí ấy khó nhưng không phải là không có cách. Cách ấy đơn giản như thế này: Hễ khi tâm mình khởi một niệm nghi ngờ thì ngay đó khởi niệm xin sám hối; rồi niệm Phật lấy ít câu, cầu Phật gia bị cho sớm được tiêu trừ túc nghiệp. Niệm Phật xong thì miệng tự bảo mình thế này: Cảm ơn ông! Nhờ cái tà kiến của ông nên đến hôm nay, không biết bao nhiêu đức Phật đã ra đời rồi mà tôi vẫn đang còn nổi chìm trong cõi Ta Bà đầy trược ác này, khổ không để đâu cho hết! Xin ông từ bi tha cho tôi. Nam mô A Di Đà Phật!

Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Lòng tin là bước đầu vào đạo, là mẹ của tất cả công đức…” Cho nên: Người tin Phật, học Phật thì được lợi ích; còn như chẳng tin thì muôn kiếp trôi lăn theo gió nghiệp, xuống lên trong sáu nẻo, chẳng biết bao giờ ra được khỏi tam giới! Lại ta là phàm phu, nghiệp sâu chướng nặng, bị nó ngăn che nên tâm sanh khởi vô biên các loại tà kiến. Cho nên, để đoạn nghi sanh tín thì phải hiểu được rằng: “Mình là phàm phu đầy ngã chấp, trí huệ không có. Chỉ nên ngửa mặt tin lời Phật, lời Tổ là tốt nhất. Bởi chỉ có ta nói dối, chớ Phật hay Tổ không bao giờ dối gạt chúng sanh.”

Pháp môn Tịnh Độ trọng yếu ở niềm tin, vãng sanh hay không cũng do niềm tin quyết định. Nay gặp rồi mà không đoạn được nghi tâm, ắt sẽ lại lấy địa ngục làm nhà trong muôn kiếp; chẳng phải là đáng kinh sợ lắm hay sao?

*

( Nghi ngờ là căn bản khổ của kiếp người )

Tuệ Tâm 2022.

Đang tải đánh giá...
  • Facebook
  • Twitter (X)
  • LinkedIn
  • Pinterest
  • Tumblr
  • Zalo

Bài viết liên quan

Hướng dẫn cách Cầu siêu tại nhà – Nghi thức Cầu siêu
Hướng dẫn cách Cầu siêu tại nhà – Nghi thức Cầu siêu
Hạnh phúc nào có ở đâu xa
Hạnh phúc nào có ở đâu xa
Hướng dẫn cách đi Chùa lễ Phật đúng pháp.
Hướng dẫn cách đi Chùa lễ Phật đúng pháp.

Chuyên mục: Phật Pháp & Cuộc Sống

Bài viết trước « Những tội chịu quả báo nặng nhất là gì
Bài viết sau Oan nghiệt tới chỉ nên an nhẫn sám hối »

Reader Interactions

Bình luận

    Để lại một bình luận Hủy

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  1. Cung Kính viết

    14/02/2026 lúc 10:17

    Nam mô A Di Đà Phật
    Thưa thầy, hôm nay rảnh rảnh vào bài này đọc lại những bình luận của con ngày ấy mà bản thân cứ cảm thán mãi. Suốt bảy năm trời ròng rã khổ sở vì ám ảnh về vấn đề tín – nghi. Chắc là Phật từ bi, chẳng nỡ nhìn con như vậy nên mới thầm dẫn đường cho con gặp được pháp mạch của Đại sư Thiện Đạo. Phải chắc chắn một điều, nếu không gặp được pháp mạch này, đời này con vô phương thoát khỏi nỗi ám ảnh ấy.
    Con cứ thường thường tự đặt cho mình những tiêu chuẩn về tín, cho rằng “tín” nhất định phải đạt đến một trình độ nào đó, đỉnh điểm là tự đặt ra tiêu chuẩn chỉ một niệm nghi ngờ cũng không được khởi, nếu chẳng may có lúc khởi niệm nghi thì ngay sau đó lại sợ hãi: thôi chết rồi, như vầy là tin chưa sâu rồi, làm sao mà vãng sanh đây. Cố gắng để đạt được “tin sâu”, mà càng cố thì lại càng “nghi sâu”. Ôi nghĩ lại, việc dứt sạch nghi ngờ phàm phu làm sao làm nổi, vì nghi là một thứ phiền não mà, chỉ có thánh nhân mới có thể đoạn được phiền não mà thôi!

    Đến khi gặp được Bản Nguyện Xưng Danh, nỗi nghi trong con đã được xoa dịu gần như hết. Con đã an lạc hơn trước rất nhiều. Nhưng vẫn còn canh cánh trong lòng, vấn đề tín nguyện giải quyết ra sau? Tin sâu là thế nào, nguyện thiết lại là thế nào?

    Mãi đến khi được nghe Pháp sư Huệ Tịnh giảng về nguyện thứ mười tám mới bừng tỉnh, rằng chí tâm không phải là điều kiện của chúng ta, mà là chân tâm của Phật muốn cứu độ chúng ta. Tiếp đến, tin ưa cũng không phải điều kiện của chúng ta, mà là đức Phật A Di Đà khẩn cầu mười phương chúng sanh. Tiếp theo, nguyện sanh cũng không phải là điều kiện của chúng ta mà là sự kêu gọi của Đức Phật A Di Đà. Tiếp nữa, niệm Phật cũng không phải là điều kiện của chúng ta, mà là sự ban tặng, là món quà được Phật trao tặng cho chúng ta, đem tất cả công đức Ngài tích lũy trong triệu tải vĩnh kiếp ban tặng cho chúng ta để chúng ta chỉ cần nhẹ nhàng xưng danh Ngài là được vãng sanh.

    Sau đó, Pháp sư kết luận ý này (tín nguyện hạnh đầy đủ trong sáu chữ danh hiệu) bằng việc dẫn ra một đoạn trong Quán Kinh sớ, đây đúng thật là nhát kiếm bén đoạn sạch mọi nghi tâm. Pháp sư giảng rằng, trong Quán Kinh sớ, khi giải thích sáu chữ, Đại sư Thiện Đạo dạy Nam mô tức là quy mạng, cũng chính là ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Mà, quy mạng tức là tín, phát nguyện hồi hướng tức là nguyện. Do đó khi chúng ta niệm hai chữ Nam mô thì tự nhiên có công năng tin nhận sự cứu độ của Đức Phật A Di Đà và nguyện sinh về tịnh độ của Ngài. Tự nhiên sẽ có công năng như vậy. Không nhất định phải đợi đến khi chúng ta hiểu rõ ràng rồi thật sự tự mình khởi đủ tâm như vậy thì mới có ngông năng này. Bởi vì bản thân hai chữ Nam mô đã có sẵn sức mạnh ấy rồi. Đại sư Thiện Đạo lại nói A Di Đà Phật chính là hạnh của ngài, bốn chữ A Di Đà Phật chính là tư lương để vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Cho nên khi chúng ta niệm Nam mô A Di Đà Phật thì công năng của tín nguyện hạnh tất cả đều hết sức tự nhiên trọn vẹn đầy đủ trong đó rồi. Vì vậy đại sư Thiện Đạo kết luận rằng do nghĩa này nên nhất định được vãng sanh. Chính vì có nội hàm như vậy nên hễ là người niệm Phật thì nhất định được vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
    Pháp sư còn từ bi nhắc nhở: sáu chữ hồng danh vốn tự nhiên có đầy đủ công năng vãng sanh; chúng ta chỉ cần mở miệng niệm Phật hoặc trong tâm nhớ Phật, niệm Phật đều được, chỉ cần như vậy, năng lực của Đức Phật A Di Đà sẽ tự nhiên vận hành, vì vậy sức mạnh vãng sanh cực lạc không nằm ở chúng ta mà nằm nơi danh hiệu, nằm trong sáu chữ hồng danh của Đức Phật A Di Đà.

    Và đến đây thì nỗi ám ảnh mấy năm trời của con tuyệt tích không dấu vết. Vì giờ đây con đã biết rõ ràng, cái “tín” mà con vất vả tìm kiếm nhiều năm, đã viên mãn ở cả hai chữ Nam mô. Nếu mà con tự lực tu cái tín tâm ấy, dù tu cả đời cũng không tu nổi!

    Trong niềm xúc động vô bờ, con cảm thán mà viết mấy dòng:

    Chớ hỏi tín tâm đã đủ sâu
    Chỉ cốt chuyên xưng chẳng tạp hành
    Chớ hỏi thế nào là nguyện thiết
    Không trái nghịch liền tự nhiên sanh.
    Tín nguyện đi đâu tìm cho đủ?
    Thưa: Viên mãn sẵn tại “Nam mô”

    Bình luận
    • Tuệ Tâm viết

      15/02/2026 lúc 06:26

      Nam mô A Di Đà Phật.

      Bình luận
« 1 2

Sidebar chính

Phá mê & Sanh tín

Hiểu Luật Nhân Quả như thế nào là đùn với lời Phật dạy

Hiểu Luật Nhân Quả như thế nào là đúng với lời Phật dạy

25/11/2024 57 Bình luận

Hiểu Luật Nhân Quả như thế nào là đùn với lời Phật dạy

Đức Phật thuyết Pháp bằng ngôn ngữ gì

18/06/2024 15 Bình luận

Cách cúng đầu năm mới, cúng tất niên

Cách Cúng Đầu Năm Mới

01/12/2021 86 Bình luận

Niệm Phật Tông Yếu-Pháp Nhiên Thượng Nhân

Niệm Phật Tông Yếu – Pháp Nhiên Thượng Nhân

24/10/2021 42 Bình luận

Trùng Tang chỉ là trò lừa bịp

Trùng Tang: Là thật hay cú lừa xuyên thế kỷ nhân danh Tâm Linh

27/09/2021 44 Bình luận

Đồng bóng còn gọi là Đồng cốt

Sự thật về Đồng bóng

13/04/2021 20 Bình luận

Lời Phật dạy về Hiếu đạo

Lời Phật dạy về Hiếu đạo

06/04/2021 35 Bình luận

A La Hán

A La Hán và 18 La Hán là ai

16/01/2021 6 Bình luận

Phật tử tại gia

10 điều quan trọng Phật tử tại gia cần biết.

31/12/2020 17 Bình luận

Cách thay đổi vận mệnh

Cách thay đổi vận mệnh

11/03/2020 38 Bình luận

Bài viết nổi bật

Mang thai nen tung kinh dia tang

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

30/10/2020 773 Bình luận

Cách niệm Phật tại nhà

Cách niệm Phật tại nhà

09/04/2020 553 Bình luận

Cách giải nghiệp phá thai

Cách giải nghiệp Phá thai

22/05/2019 394 Bình luận

Nghi thức niệm Phật chuẩn nhất

Nghi thức niệm Phật chuẩn nhất – Pháp sư Huệ Tịnh soạn

12/08/2019 295 Bình luận

Chép hồng danh Phật

Chép Hồng Danh Phật – Công đức lớn, dễ thực hành

24/09/2021 186 Bình luận

Thủ dâm

Thủ dâm tác hại khôn lường

29/08/2019 178 Bình luận

Ấn Tống Kinh Tượng Phật

  • Máy niệm Phật đặt nghĩa trang Máy niệm Phật ngoài trời
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫
  • Ấn Tống Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Địa Tạng
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫
  • Ấn tống Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫
  • Ấn Tống Tượng Phật A Di Đà Thờ Cúng Tại Nhà Tượng Phật A Di Đà Thân Vàng Tịnh Tông - 70 cm
    Được xếp hạng 4.91 5 sao
    0 ₫
  • Ấn Tống Kinh Vô Lượng Thọ Phật Kinh Vô Lượng Thọ
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫

Bản quyền © 2026 · Kinh Nghiệm Học Phật