Tứ nhiếp pháp là gì

Tứ nhiếp pháp là bốn pháp, bao gồm:  Bố thí – Ái ngữ – Lợi hành và Đồng sự, đây gọi là bốn loại Nhiếp pháp. Kinh Bồ Tát Tạng nói: “Nếu biết rằng Bồ tát ma ha tát đầy đủ pháp Tứ nhiếp như vậy. Nhờ vào pháp này cho nên Bồ tát  luôn ở trong đêm dài tăm tối tiếp nhận các chúng sanh.

Người thực hành Tứ nhiếp pháp trước thỏa mong cầu cho người, sau dẫn vào biển trí tuệ Phật. Đối với người nghèo thường hành bố thí. Đối với người cần an ủi thì ban cho lời dịu dàng. Đối với người cần hỗ trợ thì giúp đỡ làm lợi. Đối người hữu duyên gặp gỡ thì làm đồng sự. Đây là áp dụng “Tứ nhiếp pháp” tùy duyên mà hóa độ. Rồi dẫn người vào chánh đạo, giúp chúng sinh quy hướng Phật đạo.

Tứ nhiếp pháp là gì
Tứ nhiếp pháp là gì

Đại lược về Tứ nhiếp pháp 

Kinh dạy: “Để nhiếp chúng sanh giới, người hành Bồ Tát đạo cần phải lấy Tứ Vô lượng làm tâm. Lấy Tứ nhiếp pháp làm hạnh.” Bốn vô lượng gọi là Từ Bi Hỷ Xả, trong đó:

  • Từ có năng lực mang lại niềm vui tràn đầy.
  • Bi có năng lực diệt trừ tất cả khổ đau
  • Hỷ là chúc mừng chúng sanh xa lìa tận cùng khổ đau cảm được pháp an lạc tràn đầy.
  • Xả là làm cho chúng sanh thực hành ở trong công hạnh của Phật, đạt đến cảnh giới của Phật mới phát sanh tâm niệm xa rời.

Lấy Tứ nhiếp pháp làm hạnh thì Bồ Tát mong muốn thâu nhiếp mọi loài: Trước hết dùng tài sản cứu giúp tránh khỏi sự khổ đau về cuộc sống. Sau dùng lời nói yêu thương chỉ bày thức tỉnh tâm tư, khiến cho họ tin hiểu đối với lời nói và việc làm. Lợi hành là dựa vào sự tin hiểu trước đây tiếp theo làm cho phát khởi công hạnh. Hạnh nghĩa là giới định tuệ, khiến cho tất cả tôn trọng tu tập, chính là công hạnh thâu nhiếp bằng lợi ích. Đồng sự là tu hành đã đầy đủ, chuyển sang dựa vào cuối cùng thành tựu 3 thân, giống như sự chứng đạt của bậc Thánh.

Vì vậy trong luận Địa trì nói: “Bố thí ái ngữ thì người chưa phát tâm khiến cho phát tâm. Lợi hành thì người chưa thành thục khiến cho thành thục. Đồng sự thì người chưa giải thoát khiến cho giải thoát.”

*

Nhiếp chúng sanh giới, nghĩa là cứu độ mọi chúng sanh, phát khởi hạnh không trú vào đạo, là nhân của Ân đức, cuối cùng thành tựu Ứng thân.

Trong An sĩ toàn thư, Chu Tiên sinh bảo hành Tứ nhiếp pháp đơn giản như: “Giúp người già không chỗ nương hoặc kẻ tù tội mất đi quyền thuộc nương tựa. Gặp người không tiền trị bệnh thì phát tâm cứu tế, khiến họ được an vui. Thấy người xâm hại lợi ích tha nhân và quốc gia, thì phải dũng mãnh ngăn cản cho họ không phạm tội. Nếu gặp kẻ giả thần lộng quỷ, mạo danh đệ tử Phật để lường gạt tiền tài. Ta phải giảng cho họ hiểu. Phải dùng tiếng sư tử uy dũng để nhiếp phục, khiến họ cải tà quy chính…”

Bố thí là gì

Bố thí gồm có ba loại: 1-Tài thí; 2- Pháp thí. 3- Vô úy thí. Về Tài thí nghĩa là mang tiền của vật dụng ra giúp người lúc khốn khó. Pháp thí, thì như pháp đã được nghe nói rộng ra cho người hoặc ấn tống kinh sách cho tặng. Vô ý thí là giúp người không sợ hãi.

Ái ngữ là gì

Ái ngữ nghĩa là đối với tất cả những người đến cầu pháp thì Bồ tát đều thường xuyên dùng ái ngữ hỏi han chỉ bày. Nói là Ái ngữ, thì dùng tâm vô nhiễm phân biệt chỉ bày rõ ràng.

Lợi hành là gì

Lợi hành nghĩa là luôn luôn đầy đủ tất cả ý niệm vui vẻ của mình hoặc là người. Đối với người thì giảng dạy đọc tụng kinh điển, cho đến thuyết pháp không có gì chán nản mệt mỏi.

Đồng sự là gì

Nói là Đồng sự, tùy theo trí tuệ và công đức vốn có của mình mà diễn giảng giải thích cho người. Hoặc tiếp nhận xây dựng tất cả chúng sanh, làm cho họ được an trú như trí như pháp. Nói là Đồng sự, thì dùng tâm Nhất thiết trí không rời bỏ, an trí hàm sinh vào nơi Chánh pháp.

Trong tứ nhiếp pháp thì bố thí đứng đầu. Vì vậy Bồ tát ở trong tất cả mọi lúc luôn luôn thực hành pháp thí. Nếu tự mình không có tiền của thì tùy hỷ hạnh thí của người khác. Nếu tự mình có tiền của thì cúng dường người trí, vẫn có được quả báo thông minh”.

Phước báu bố thí trong Tứ nhiếp pháp

Kinh Hiền Ngu nói: “Lúc ấy các Tỳ kheo đều nảy sinh nghi ngờ: Hiền giả A nan vốn tạo ra hạnh gì mà được đa văn tổng trì như vậy? Nghe Đức Phật thuyết giảng không quên mất một lời? Họ bèn cùng hướng về nơi Đức Phật mà thưa với Đức Phật rằng: “Hiền giả A nan, vốn tạo ra phước thiện gì mà có được vô lượng tổng trì như vậy? Nguyện Đức Thế Tôn, khai thị cho biết điều ấy!”

Đức Phật bảo với các Tỳ kheo: “A tăng kỳ kiếp quá khứ trước đây, có một Tỳ kheo độ cho một Sa di. Tuy vậy ông ta luôn luôn dùng sự chỉ bày nghiêm khắc. Phàm dạy cho tụng kinh, hạn định thời khóa hằng ngày: Nếu tụng kinh đầy đủ thì rất hoan hỷ, nếu không đủ số thì quở trách hết sức khắc khe. Bởi thế nên Sa di thường mang lòng buồn phiền, đọc kinh tuy đầy đủ mà ăn uống lại không điều độ được.

Nếu đi khất thực, lúc có được thức ăn sớm, thì đọc đủ số. Nếu khất thực được thức ăn muộn hơn, thì đọc kinh không đủ. Nếu đọc kinh không đủ thì sẽ bị quở trách khắt khe. Lòng dạ buồn rầu khóc tấm tức mà đi.

*

Lúc ấy có Trưởng giả trông thấy Sa di như thế, tiến đến gọi mà hỏi nguyên do? Sa di trả lời rằng: Trưởng giả nên biết. Thầy tôi rất nghiêm khắc, dạy tôi đọc kinh thường hạn định thời khóa hằng ngày. Nếu đủ số ấy thì rất hoan hỷ, nếu không đủ số ấy thì bị quở trách hết sức khắt khe. Tôi đi khất thực nếu sớm có được thì đọc kinh đủ số, nếu khất thực có muộn hơn thì đọc kinh không đủ số. Nếu kinh không đủ số tất bị quở trách khắt khe, bởi điều này cho nên tôi sanh phiền não.

Trưởng giả liền nói với Sa di: Hàng ngày hãy đến nhà tôi, tôi sẽ cúng dường thức ăn khiến ông không còn lo lắng. Ăn rồi dốc lòng chịu khó tinh tấn đọc kinh hơn nữa. Từ đó Sa di dốc hết tâm ý chịu khó đọc kinh, hạn định thời khóa hằng ngày luôn luôn đầy đủ. Thầy trò từ đó trở đi luôn luôn được hoan hỷ.

Đức Phật bảo với các Tỳ kheo: Vị Thầy lúc bấy giờ chính là Định Quang Phật. Sa di lúc ấy nay chính là thân Ta. Đại Trưởng giả cúng dường thức ăn lúc ấy nay chính là A nan. Chính là nhờ quá khứ tạo ra công hạnh này, cho nên nay đạt được tổng trì không có gì quên mất sai sót”.

(Tứ nhiếp pháp là gì)

Tuệ Tâm 2021.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *