Chỉ có Nguyện Thứ 18 mới là cội nguồn truyền thừa của Tông Tịnh Độ. Pháp mà hàng Tổ sư của Tông Tịnh Độ y cứ, truyền bá rộng rãi, triển khai, đó chính là Đại Nguyện Thứ 18. Về nguyện này, Bồ Tát Long Thọ, người được hậu thế tôn xưng là Tổ của tám tông, trong Dị Hành Phẩm Bà Sa Luận, Ngài quy nạp vô lượng pháp môn của Phật pháp thành hai môn, cũng chính là hai con đường, chính là Dị Hành Đạo và Nan Hành Đạo.
Dị Hành Đạo là như thế nào? Lấy niềm tin làm phương tiện, đi dễ chóng đến của Dị Hành Đạo, tức là tin vào sự cứu độ của đức Phật A Di Đà, chuyên xưng danh hiệu Phật A Di Đà, dễ dàng thực hành, mau đạt được cảnh giới của Phật. Đây chính là nội hàm của Dị Hành Đạo.
“Bản Nguyện Xưng Danh” – Nội hàm này có y cứ nào trong kinh điển, căn cứ theo bộ kinh nào, câu nói nào của đức Phật? Bồ Tát Long Thọ nêu ra ba thời chư Phật, mười phương chư Phật, đến sau cùng quy kết vào Bản Nguyện của Phật A Di Đà…
Tuệ Tâm 2023.




PD. Diệu Hậu viết
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!
“Chỉ có Nguyện Thứ 18 mới là cội nguồn truyền thừa của Tông Tịnh Độ”
Kính bạch Thầy Tuệ Tâm cùng các Liên Hữu Bạn Sen. Đúng là như vậy!
Về ý nghĩa của Nguyện 18, Tổ Thiện Đạo giải thích rằng: Tín Hạnh Nguyện có nội hàm bất đồng nhưng chúng có mối quan hệ nhất thể (tức là các tiêu chí này nếu đứng độc lập thì ý nghĩa hoàn toàn khác nhau, nhưng khi được liên kết thành một cấu trúc, chúng sẽ phát huy hết tác dụng, và đồng thời bổ sung, hỗ trợ tương quan cho nhau).
Vì chúng là quan hệ nhất thể nên khi chọn 1 thứ làm thể, thì thứ đó giữ vị trí trụ cột, bao hàm tất cả những thứ còn lại. Với 3 tiêu chí Tín Nguyện Hạnh trong pháp môn niệm Phật, thì lấy Hạnh xưng danh làm thể (Tín, Nguyện quy kết bởi Hạnh Xưng Danh). Tận cùng của sự quy kết thì Hạnh Xưng Danh đã bao trùm cả Bổn Nguyện –> Chúng Sinh Xưng Danh thì Nhất Định Vãng Sanh.
Xưng Danh Chắc Chắn Vãng Sanh. Về Lý Chứng: Trong 3 Kinh Tịnh Độ, và trong Tư Tưởng Tịnh Độ của Đại Sư Thiện Đạo, của Pháp Nhiên Thương Nhân, của Đại Sư Ấn Quang… đều nói rất rõ về ý này. CHỨNG CỨ nổi bật quyết định tất cả đó là: Tỳ Kheo Pháp Tạng đã thành tựu quả vì Chánh Giác, nên lời Thệ Nguyện tiếp dẫn của Ngài chắc chắn thành SỰ THẬT.
Chúng ta cũng cần thẩm thấu thêm rằng vì sao Bổn Nguyện lại trú trọng về Hạnh Xưng Danh: “Đó là Hạnh Nguyện cứu độ hết thảy chúng sinh mà Đức Phật A Di Đà khi còn ở nhân địa tu hành đã dành 5 kiếp quán sát tư duy. Tâm nguyện của Ngài là không có bất kỳ một chúng sinh nào phải đọa lại trong luân hồi, vì vậy để cứu độ hết thảy Ngài phải thiết kế một giải pháp tối ưu nhất, dễ nhất, đơn giản nhất, phù hợp nhất, sau đó lại trải qua vô lượng kiếp tu tập tích lũy công đức để thành tựu, nên nó là Bản Thân của Ngài, là Sinh Mạng của Ngài”.
Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật chính là bản thân Ngài, chính là sinh mạng của Ngài. Ngài đã trao cả Sinh Mạng của mình cho chúng sinh, tự nguyện cống hiến cả Thân Tâm mình để cứu vớt tất cả chúng sinh mà không đòi hỏi, không yêu cầu chúng sinh phải làm bất cứ điều gì ngoài việc Xưng Niệm DH của Ngài.
Ở Nguyện thứ 18 có một vế mà ít khi chúng ta quan tâm vì cho rằng đó chỉ dành cho những chúng sinh Thập Ác, Ngũ Nghịch Xiển Đề Phỉ Báng chánh pháp, là những chúng sinh không thể nào được cứu. Chúng ta nên biết đây là Cốt Tủy của Bổn Nguyện Cứu Độ thể hiện đó là “NGUYỆN VƯƠNG”, nó mô tả tâm lượng vô cùng Từ Bi Trí Tuệ Rộng Sâu của Ngài. Không có câu này, thì câu 10 phương Chúng Sinh sẽ không có giá trị.
Câu Kinh đó như sau: “Chỉ trừ những kẻ phạm tội Ngũ Nghịch và Phỉ Báng Chánh Pháp”. Chúng ta phải hiểu Thâm Ý trong câu này như giải thích của Tổ Thiện Đạo trong Pháp Sự Tán rằng (Đức Phật A Di Đà đưa ra lời này: nhằm ngăn cấm mang tính chất “răn đe” để chúng ta không nên phạm phải. Còn những chúng sinh “đã lỡ phạm rồi”, thì Phật Di Đà vẫn sẽ cứu nếu người đó biết HỒI TÂM).
Pháp môn Tịnh Độ Thuần Chánh phụ thuộc tuyệt đối vào Tha Lực Phật, và xưng niệm DHP bằng miệng là phương pháp dễ nhất, đơn giản nhất, từ bi nhất. Căn cứ hạ phẩm hạ sanh trong N18, chúng ta sẽ thấy rất rõ điểm ưu việt này:
“Những chúng sinh thập ác, ngũ nghịch, xiển đề phỉ báng chánh Pháp. Cả cuộc đời chỉ biết tạo nghiệp ác, không có một chút công đức nào, cũng không có một tí sự tu tập nào. Đến lúc lâm chung gặp được thiện tri thức khai thị, mà họ quay đầu thì cũng được cứu”.
Tổ giải thích rằng: “Tội nhân khi lâm chung khổ não bức bách, hoảng sợ vô cùng. Họ bị tấn công bởi lửa địa ngục, khiến cho tinh thần rất bấn loạn. Lúc đó họ đã bị mất đi sức tâm niệm, nên không thể nào niệm = ý, mà chỉ có thể dùng miệng để niệm theo là cũng được vãng sanh”.
Nam Mô A Di Đà Phât.
Diệu Hậu.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.