Đại Nguyện thứ 18 của Đức Phật A Di Đà được Ngài phát nguyện khi còn tu Bồ Tát Đạo, Ngài nguyện rằng: “Nếu ta thành Phật, mười phương chúng sanh, chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi nước ta, xưng danh hiệu ta cho đến mười niệm, nếu chẳng vãng sanh, ta thề không ở ngôi Chánh giác…”
Điều kiện để được vãng sanh chỉ đơn giản như thế mà thôi. Ngài chẳng yêu cầu bạn phải tụng bao nhiêu bộ kinh, chẳng yêu cầu bạn phải tu vạn hạnh công đức hồi hướng, cũng chẳng yêu cầu bạn phải nhất tâm, phải đắc tam muội, phải đoạn trừ vọng niệm, hay thức ngủ nhất như gì cả! Và quan trọng hơn: Ngài đã thành Phật nên Nguyện Lực đã thành tựu. Chúng sanh mười phương chỉ cần xưng danh của Ngài thì gọi là thuận theo bản nguyện, chắc chắn được vãng sanh!
ĐẠI NGUYỆN THỨ 18 CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ GIẢNG GIẢI – PHÁP SƯ HUỆ TỊNH
Chúng ta học Phật cần y cứ theo lời Phật dạy trong kinh văn. Người niệm Phật cầu vãng sanh, nếu chẳng hiểu rõ đại nguyện thứ 18 này thì không thể biết được tiêu chuẩn vãng sanh là gì, mình phải làm như thế nào, cần những công hạnh gì để được vãng sanh. Do đó sanh khởi vô số nghi nan, kế đến liền khởi tạp tu tạp hạnh; niệm Phật mà chẳng cầu vãng sanh lại chỉ cầu nhất tâm bất loạn, cầu đoạn trừ vọng niệm, cầu tam muội hiện tiền…Tu hành mờ trước mịt sau, rốt cuộc chỉ gieo được cái nhân đắc độ về sau, chớ vãng sanh thật rất khó có phần.
Hết thảy đều là bởi vì ta không chịu tin kinh văn, không chịu tin lời Phật, pháp dễ thế chẳng chịu thực hành, lại vọng cầu trăm thứ khó khăn nên tự mình chướng ngại mình vãng sanh, chớ chẳng phải đức A Di Đà chẳng từ bi không tiếp dẫn! Bởi vậy nên cuốn sách “Giảng Nguyện Thứ mười tám của đức Phật A Di Đà” này, thực sự là thanh kiếm báu mà Pháp sư Huệ Tịnh dành cho chúng ta để phá tan mê mờ, bỏ đường đèo dốc chông gai mà chọn lối rộng bằng, một mạch thẳng tắt về Tây Phương Tịnh Độ.
Tuệ Tâm 2023.




Cung Kính viết
Nam mô A Di Đà Phật
Trong bài có ít lỗi chính tả ạ.
1. muốn sanh vê cõi nước ta ->muốn sanh về cõi nước ta
2. Người niệm Phật cầu vãn sanh -> Người niệm Phật cầu vãng sanh
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.
Tuệ Tâm đã sửa, cảm ơn bạn!
PD. Diệu Hậu viết
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật!
Kính bạch Thầy Tuệ Tâm cùng các chư vị đồng tu.
Người tu pháp môn niệm Phật rất nhiều, nhưng người thực sự thâm nhập được Nội Hàm của Bổn Nguyện Phật A Di Đà lại không phải là nhiều.
Trong vấn đề Niềm Tin, Tổ Thiện Đạo có giải thích “Tâm tin sâu” có 2 ý:
“Tựu nhân lập tín và Tựu hạnh lập tín”.
1/Tựu nhân lập tín. Trong Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ Cương Yếu nói: “Chúng sinh phải nương vào người có thể tin, nương theo hạnh có thể tin. Nghĩa là người đó không những chẳng phải hàng phàm phu, cũng chẳng phải là bậc Thánh của hàng Nhị thừa và Tam thừa, mà chính là Đức Phật, bậc có lòng đại bi đầy đủ, giác hạnh viên mãn, Phật là bậc nói chân chính, nói đúng sự thật, nói không hai lời, nói không hư dối. Vì thế, lời Phật nói thì đáng tin nhất, đây là nương theo PHẬT để xây dựng tín tâm”.
Với người niệm Phật cầu Vãng Sanh Tây Phương ngay trong đời này, thì Niềm Tin phải đặt Duy Nhất vào một mình Đức Phật A Di Đà, vì sao thế: “Đức Phật kia hiện nay đã thành Phật”. Đức Phật kia là chỉ cho đức Phật A-di-đà. Từ tì-kheo Pháp Tạng ban đầu phát nguyện tu tập, nay đã thành đức Phật A-di-đà, hiện tại Ngài đang ở thế giới Tây phương Cực Lạc (Tư tưởng tịnh độ của ĐS Thiện Đạo – Chương 8).
Tổ dạy tiếp: Chúng sin nên TIN PHÁP CHẲNG TIN CƠ. Pháp ở đây ý nói về Thệ Nguyện cứu độ của Phật A Di Đà. Cơ là căn cơ, là khả năng của chúng sinh.
Nghĩa là: “Chúng sinh trong cõi Ta Bà sinh ra trong cõi ác trược ngũ thế, là hàng hạ căn hạ chí tạo nhiều nghiệp xấu ác, nên bị chìm đắm trong sinh tử, dù có cố gắng tu tập bằng cách nào cũng không thể TỰ TU mà giải thoát. Vì thế phải nương hoàn toàn vào Thệ Nguyện Cứu Độ của Đức Phật A Di Đà”.
2/ Tựu hạnh lập tín. Tổ Thiện Đạo dạy tiếp: “Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, đi đứng nằm ngồi, bất luận thời gian lâu hay gần, mỗi niệm không bỏ, đây gọi là chánh định nghiệp, vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà”.
Nghĩa là nương theo LỜI PHẬT để xây dựng tín tâm. “Nương vào Nguyện Lực của Phật A-di-đà thì nhất định vãng sanh”.
Nguyện lực: Là sức của NGUYỆN THỨ 18. Là Đại Nguyện, Đại Hạnh và Đại Lực Vĩ Đại của Ngài.
Trong Kinh Vô Lượng Thọ nói Tỳ Kheo Pháp Tạng đã lựa chọn từ 210 ức Cõi nước Phật, rồi tìm ra những đặc điểm tốt đẹp nhất, viên mãn nhất, thù thắng nhất để kiến lập nên Cõi Nước Cực Lạc.
Đại Nguyện của Ngài là quá trình trải qua 5 kiếp quán sát, tư duy căn cơ của hết thảy chúng sinh, rồi phát khởi 48 Thệ nguyện cứu độ.
Đại Hạnh của Ngài là công cuộc tu hành trong vô lượng kiếp để thành tựu Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật đầy đủ, viên mãn công đức cứu độ chúng sịnh.
Từ Đại Nguyện, Đại Hạnh đó đã tạo nên Đại Lực Vĩ Đại của Ngài là có khả năng nhiếp thọ hết thảy khắp pháp giới chúng sinh. Có khả năng cứu độ cả những chúng sinh mà 10 phương Chư Phật đều không cứu được.
Thế nên chỉ có Ng thứ 18 mới đầy đủ hàm nghĩa đích thực của câu “Vô Duyên Đại Từ Đồng Thể Đại Bi” trong Phật Giáo. Ở nguyện lực này Đức Phật A Di Đà đã lột tả tấm lòng cứu độ hết thảy chúng sinh một cách viên mãn đến mức sâu không có đáy, rộng không có bờ. Thế hiện lòng bi mẫn tột cùng của Ngài, vì thế Nguyện N18 mới được gọi là NGUYỆN VƯƠNG. Nguyện này Ngài cũng thể hiện (thệ nguyện với ý riêng) nên gọi là: Biệt Ý Hoằng Nguyện.
Tổ TĐ dạy: Chúng sinh phải tự thấy mình là tội nhân ở hàng hạ căn hạ chí để tận dụng được toàn bộ sự ưu ái của Đức Phật A Di Đà (đây cũng thể hiện là chúng sinh đó đã hoàn toàn nương tựa vào Ngài). Tại sao những chúng sinh Thập Ác Ngũ Nghịch Xiển Đề Phỉ Báng Chánh Pháp – căn cơ hạ liệt hạ chí như vậy lại là tiền đề để Tổ Soạn Quán Kinh Sớ? Chỉ có sự cứu độ những chúng sinh này mới Tôn Vinh Ngài là Vua trong tất cả 10 phương Chư Phật. Và Yếu Chỉ trong Quán Kinh Sớ mới được gọi là Tổng Chỉ của Tông Tịnh Độ.
Trong Mạch Thuần Chánh có các Mốc Niềm Tin mà bản thân người tu phải xác lập chắc chắn không khởi bất kỳ một ý niệm gì: Đọc là tin ngay, thấy là tin ngay, nghe là tin ngay thì người đó thực sự thiện căn đời này đã chín muồi:
1- Bình Sanh Nghiệp Thành: Ngay hiện tại khi chúng ta niệm DH Nam Mô A Di Đà Phật thì công đức vãng sanh đã được ghi nhận, đến lúc lâm chung là nghiệp vãng sanh hoàn tất nên tự nhiên được Phật A Di Đà và Thánh Chúng tới đón -> Đây là Đạo Lý “Tự Nhiên được dẫn dắt”.
2- Cả Đời Niệm hay khi Lâm Chung chỉ niệm được 1 Niệm cũng đều được cứu (cả đời là người gặp và tin ngay từ khi còn sống, 1 niệm là người đến giây phút lâm chung mới gặp và chỉ có thể niệm được 1 niệm)-> Đây là câu “cho đến 10 niệm” trong Ng18.
3- Hiện tại đã Niệm thì chắn chắn được vãng sanh, nhất định được vãng sanh nên khi lâm chung dù chúng ta có chết ở bất kỳ tình trạng nào, hoàn cảnh nào, cách thức nào đều không hề gì, khi đó tự nhiên Đức Phật A Di Đà sẽ đến đón -> Đó là Thệ Nguyện Tiếp Dẫn Vãng Sanh của Ngài.
4- Thánh Nhân hay phàm phu được vãng sanh về Cực Lạc thì công đức Vãng Sanh là như nhau, vì đều phải nương tựa 100% vào Thệ Nguyện cứu độ của Phật A Di Đà -> Đây là Bình Đẳng cứu độ không phân biệt.
5- Ánh Sáng Quang Minh của Đức Phật A Di Đà ngày đêm chỉ đi tìm chúng sinh niệm Phật, nhiếp thủ mãi không bỏ -> Đây là Ý Nguyên Riêng Biệt của Phật A Di Đà, là Nội Hàm của Bổn nguyện 18: XƯNG DANH NHẤT ĐỊNH VÃNG SANH.
Chúng ta phải tu tập theo đúng Pháp Mạch Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo, vì đó là Mạch GỐC được TRUYỀN THỪA THUẦN TÚY, NGUYÊN VẸN, KHÔNG PHA TẠP, KHÔNG SỬA ĐỔI từ giáo nghĩa của Đức Bổn Sư Thích Ca. Pháp mạch hoàn toàn phù hợp với Bổn Nguyện của Đức Từ Phụ, và phù hợp với sự đồng tình tán thán của 10 phương Chư Phật. Đó là Pháp Dị Hành Đạo, Dễ Tu, Dễ Hành, Dễ Chứng. Kết quả vãng sanh NGAY MỘT ĐỜI.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
Diệu Hậu!
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.