Vì sao chúng ta trôi lăn trong nhân quả luân hồi

Nhân quả luân hồi là gì? Con người từ đâu sanh ra? Chết rồi đi về đâu? Tại sao giữa đời lại có những kẻ giàu, nghèo, sang, hèn, đẹp, xấu, trí, ngu sai biệt? Tại sao có người hiền lành mà thường gặp việc khổ sở không may, kẻ hung ác lại được an vui phát đạt? Mối nghi nan này nếu không có lý thuyết về nhân quả luân hồi thì vô phương giải đáp.

Nhân quả luân hồi
Nhân quả luân hồi

Chúng ta sanh ra rồi chết đi, hết kiếp này qua kiếp khác luân chuyển trong vòng lục đạo luân hồi. Điểm chính yếu của thuyết nhân quả luân hồi là chỉ rõ nguyên nhân xoay vần của chúng sanh trong sáu nẻo và phương cách để thoát khỏi sự chi phối của luân hồi, ra khỏi vòng sanh tử. 

Nhân quả luân hồi là gì

Nhân quả và luân hồi là hai sự kiện tương quan. Chúng ta có nghiệp trái của nhân quả thiện ác nên mới bị luân hồi. Nếu không có nghiệp tất đã chứng quả Thánh, không còn bị chi phối bởi sanh tử. Và sự luân hồi khổ vui trong sáu nẻo, đều do ảnh hưởng tốt xấu của nhân quả thiện ác.

  • Về nhân quả, có thể gồm chung trong ba nghiệp, chung một nơi phát sanh từ: Thân, khẩu, ý. Nhân nào quả ấy, trạng thái vô cùng!
  • Còn luân hồi là sự xoay vần quanh sáu nẻo: Trời, Người, A Tu La, Ngạ quỷ, Súc sanh và Địa ngục. Tóm tắt lại thì không ra ngoài hai lối khổ, vui.

Từ xưa đến nay, cảnh đời trải biết bao cuộc bể dâu diễn biến. Người đời mãi tranh đua ganh ghét tàn hại nhau vì mối danh, lợi, sắc, tài. Chúng sanh có bao nỗi khổ là bởi gây nhiều tác nghiệp. Mà sở duyên của nghiệp, lại từ nơi vọng tâm mê hoặc chấp lấy cái ta. Nếu biết trở lại nguồn chân, chặt dứt cội gốc Vô minh ngã chấp. Thì cành lá của nghiệp và bông trái của khổ phải điêu tàn.

Thời mạt pháp, muốn đi đến cảnh chân lạc bên miền bỉ ngạn nầy, cần phải triệt để nương vào Bản nguyện niệm Phật của đức từ phụ A Di Đà. Bền chí niệm sáu chữ hồng danh Nam mô A Di Đà Phật, vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc Quốc. Ngoài lối này để thoát khổ ra, tuyệt không còn lối nào khác để thoát khỏi nhân quả luân hồi!

Đại cương về Nhân quả luân hồi

Chúng sanh tùy nơi nghiệp thiện ác mà trầm luân trong nhân quả luân hồi. Chúng sanh sở dĩ bị sống chết xoay vần, là bởi còn có tâm chấp ngã. Nếu dứt trừ ngã chấp, sẽ trở về tánh bản chân thanh tịnh, thoát khỏi luân hồi.

Vĩnh Gia đại sư đã bảo: “Quả báo vui khổ đều do tâm tạo ra.

  • Tâm nóng giận, tà dâm, độc ác là nghiệp Ðịa ngục.
  • Tâm tham lam, bỏn sẻn là nghiệp Ngạ quỷ.
  • Tâm ngu si, hôn ám là nghiệp Bàng sanh.
  • Tâm ngã mạn, cống cao là nghiệp A Tu la.
  • Giữ tròn năm giới là nghiệp Người.
  • Tinh tu mười điều lành là nghiệp Trời.
  • Chứng ngộ nhơn không là nghiệp Thanh Văn.
  • Rõ pháp nhân duyên là nghiệp Duyên Giác.
  • Tu hành sáu độ là nghiệp Bồ Tát.
  • Lòng chân từ bình đẳng là nghiệp Phật.

Nếu tâm trong sạch thì hóa sanh về  Tịnh độ, ở nơi bảo các, hương đài. Tâm dơ nhiễm thì gởi chất nơi uế bang, ở cõi núi gò hầm hố. Muôn cảnh đều do tâm tạo, lìa nguồn tâm ra không có hình thể chi. Vậy muốn hưởng quả lành, phải tu nhân tịnh!”

Lời của Vĩnh Gia đại sư trên, tuy vắn tắt, nhưng đã tổng quát nguyên lý luân hồi trong sáu nẻo, và nhân quả của mười pháp giới. Cho nên nhân quả và luân hồi là hai mặt của một vấn đề, không thể tách rời nhau. Bởi luân hồi là nhân quả liên tục biến hiện, chi phối lẫn nhau từ kiếp nầy sang kiếp khác. Duy những bậc đã chứng quả thánh mới thoát khỏi vòng chi phối đó mà thôi.

Kinh nhân quả luân hồi 

Đức Phật bảo: Nầy A Nan! Muôn vật giữa đời đều có túc duyên. Người được quả báo hào quý làm bậc quốc vương, trưởng giả: Từ nơi nhân lễ kính, phụng sự Tam bảo mà đến. Người được quả báo giàu có, của cải vô hạn: Từ nơi nhân bố thí mà đến. Người được quả báo sống lâu, không đau bịnh, thân thể mạnh khoẻ cao lớn: Từ nơi nhân giữ giới mà đến. Người được quả báo đoan trang xinh đẹp, nước da trắng tươi sáng rỡ, ai thấy cũng đều ưa thích mến chuộng: Từ nơi nhân nhẫn nhục mà đến.

Người tánh nết siêng năng mau mắn, ưa làm việc phước thiện: Từ nơi nhân tinh tấn mà đến. Người dáng điệu an nhàn, lời và hạnh đều có suy nghĩ, chừng mực, chắc chắn: Từ nơi nhân thiền định mà đến. Người thông minh tài trí, hiểu suốt thâm pháp: Từ nơi nhân tu huệ mà đến. Người được tiếng nói thanh thao rõ suốt, ai cũng ưa nghe: Từ nơi nhân tụng kinh, ca ngợi Tam bảo mà đến. Người dáng vẻ sáng sạch hiền hòa, không đau yếu, ai thấy cũng mến: Từ nơi nhân từ tâm mà đến.

Thế nào là Từ Tâm

Ngài A Nan thưa:  Bạch Thế Tôn! Sao gọi là “từ tâm”? Ðức Phật bảo: “Từ tâm có bốn điều:

1- Thương tất cả chúng sanh như mẹ thương con. 2- Thấy chúng-sanh khổ, xót xa muốn cứu độ. 3- Thấy chúng sanh hiểu đạo, biết làm lành, hướng về nẻo giải thoát, sanh lòng vui mừng. 4- Thường ái hộ chúng sanh, chẳng những săn sóc giữ gìn thân mạng, mà còn không có lời vô ý làm cho người bất mãn, buồn rầu. Ấy là những tướng trạng của từ tâm.

Lại nầy A-Nan! Kẻ nào thân thể cao lớn: Là do nhân ưa lễ bái, khiêm nhường, cung kính tất cả mọi người. Kẻ nào lùn thấp, là do nhân khinh mạn, tự cao. Kẻ nào dung mạo thô xấu, là do nhân giận hờn, nóng nảy. Kẻ nào sanh ra ngây ngô kém hiểu biết, là do nhân không thích học hỏi. Kẻ nào ngu si, là do nhân không chịu dạy dỗ người. Kẻ nào câm ngọng, là do nhân khinh ngạo, chê bai người. Kẻ nào đui điếc là do nhân hủy báng Tam bảo, không chịu nghe chánh-pháp.

*

Kẻ nào làm thân tôi đòi là do nhân mắc nợ không trả, hoặc không kính lễ Tam bảo. Kẻ nào thân hình đen xấu, là do nhân che ánh sáng của Phật. Kẻ nào sanh ra ở nước Lõa hình: Là do nhân ăn mặc hở hang vào tinh xá, hay đến trước chỗ Phật. Kẻ nào sanh vào nước Mã đề (thân người, bàn chân ngựa): Là do nhân mang giày dép đi trước chỗ Phật. Kẻ nào sanh ở nước Xuyên hung (mọi người đều xoi hông): Là do nhân bố thí làm phước mà sanh lòng hối tiếc.

 A-Nan! Chúng sanh nào làm loài hươu nai: Là do kiếp trước ưa làm cho người sợ hãi. Chúng sanh nào sanh làm loài rồng: Là do kiếp trước ưa bỡn cợt và giận hờn, làm cho người phiền muộn. Kẻ nào nơi thân bị bịnh lác, ghẻ độc làm cho đau nhức khó chịu, chữa trị không lành: Là do kiếp trước ưa đánh đập chúng sanh.

Kẻ nào mọi người trông thấy đều vui mừng cảm mến: Là do kiếp trước khi thấy người, niềm nở vui mừng cảm mến. Kẻ nào mọi người trông thấy đều chán ghét: Là do kiếp trước khi thấy người, rẻ rúng chán ghét. Kẻ nào thường bị gông cùm tù ngục: Là do kiếp trước hay trói buộc hoặc giam nhốt chúng sanh trong lồng chậu, khiến cho nó không được tự do. Kẻ nào bị rách miệng sứt môi, là do kiếp trước ưa câu cá.

*

– A-Nan! Kẻ nào trong hội thuyết pháp không để ý lắng nghe, lại nói trái ngược làm loạn ý người khác: Kiếp sau sanh làm con lừa tai dài, hoặc loài chó xụ tai. Kẻ nào kiêu căng bỏn sẻn tham lam, thích lén ăn uống, chỉ hưởng thụ riêng một mình không đoái hoài đến người thân sơ, hạng nghèo khổ. Lúc chết rồi bị đọa vào Địa ngục, kế làm loại Ngạ quỷ. Khi được sanh làm người thì nghèo hèn đói khát, mặc chẳng kín thân, ăn không no bụng. Kẻ nào thường ăn riêng thức ngon, cho người món dở, kiếp sau bị đọa làm loài chó, lợn, bọ hung.

Kẻ nào thường tách mai, đánh vảy, lột da loài vật: Đời sau làm sanh vật bị quả báo y như hành động của mình kiếp trước. Kẻ nào ưa giết hại, kiếp sau sẽ bị đọa vào Tam đồ, cho đến làm con phù du trên mặt nước, sớm sanh chiều chết. Kẻ nào trộm cướp, kiếp sau sẽ làm thân tôi tớ, hoặc trâu bò, lừa, ngựa để trả nợ người.

Kẻ nào hay nói dối, nói đâm thọc, mắng chửi, nói lời cay độc, bêu rêu việc xấu của người, khi chết sẽ sa xuống Địa ngục. Bị rót nước đồng sôi vào miệng, hoặc bị cắt lưỡi, cày lưỡi. Sau lại làm thân ác điểu, người nghe tiếng kêu đều kinh sợ bảo là điềm quái gở, nguyền rủa muốn cho nó chết. Kẻ nào quyến rũ dâm loạn vợ chồng con cái người, khi chết đọa vào Địa ngục. Nam ôm cột đồng lửa, nữ nằm giường sắt nóng. Sau lại làm loài thú đa dâm, hoặc làm loài ngỗng, vịt.

*

Kẻ nào ưa uống rượu, phạm nhiều tội ác, lúc chết bị đọa vào Địa ngục. Sau sanh làm loài dã nhơn, khi được thân người lại ngu si khờ dại. Kẻ nào vợ chồng không biết nhường nhịn hòa thuận, thường hay tranh cãi, nặng lời xua đuổi nhau: Kiếp sau đọa làm thân chim cưu (tu hú), chim bồ câu. Kẻ nào ưa lạm dụng sức người, kiếp sau sanh làm loài voi, bị người dùng sức lại.

Nầy A-Nan! Trừ những vị làm quan, y theo pháp luật, hạch hỏi xử phạt một cách công minh, thì không tội. Nếu hạng quan liêu ỷ quyền thế xâm đoạt tài sản của dân. Hoặc ăn hối lộ dung túng kẻ ác, tra tấn, gông cùm, xử hiếp người vô tội hay không đáng tội. Khi chết sẽ bị đọa vào Địa ngục chịu thống khổ ngàn muôn kiếp. Sau lại sanh vào loài trâu bò bị xỏ mũi, đánh đập, mang kéo nặng nề để đền tội trước.

Lại nữa, A-Nan! Người nào từ thân thể đến cách ăn ở, lôi thôi không sạch sẽ, do từ loài lợn mà đến. Người nào tham lam bỏn sẻn không ưa bố thí, do từ loài chó mà đến. Người nào ngược ngạo, tự tung tự tác không chịu nghe lời ai, do từ loài dê mà đến. Người nào tánh lao chao, gặp việc không nhẫn nại, do từ loài khỉ vượn mà đến.

Người nào có tâm độc ác ngầm, do từ loài rắn rết mà đến. Người nào thích ăn ngon, hung dữ, ưa khủng hại chúng sanh, không có tâm lành, do từ loài cọp, sói, mèo, chồn mà đến…”( Kinh Chuyển Luân Ngũ Đạo)

Chuyện nhân quả luân hồi

Cách đây mấy mươi năm, ở Thủ Ðức có một nữ Phật tử tu tại gia. Vì vợ chồng cô là tín đồ thuần thành, trọng Phật kính Tăng. Các sư thường đến ghé thăm, có khi được mời nghỉ đêm tại nhà. Thời đó, ảnh hưởng chánh pháp chưa được lan rộng. Tuy cô đã thọ quy giới nhưng chưa hiểu rõ về đạo, nên trong nhà cũng có nuôi heo để thêm rộng rãi cho cuộc sống.

Đọa làm Heo để trả nợ

Khi nọ, có một vị Hòa thượng đến nghỉ đêm tại nhà cô. Nửa đêm Hòa thượng chợt thức giấc khi nghe tiếng động dưới bộ ván mình nằm. Có giọng nói nho nhỏ rằng: “Tụi bây không biết, chớ tao tên là Nguyễn Thị Hòa. Bởi có thiếu bà chủ nhà nầy một số tiền, nên phải đầu thai ra thân súc vật để trả nợ”.

Hòa thượng nghe xong lấy làm lạ, lén nhẹ nhàng cúi xuống rình xem. Ông thấy một heo nái nói chuyện với mười hai heo con đang bú. Sáng ra, Hòa thượng hỏi người tín nữ:

– Lúc trước có cô Nguyễn Thị Hòa thiếu cô một số tiền như thế, có phải không?

– Dạ thưa đúng như vậy. Nhưng cô ấy nghèo và bây giờ đã qua đời, nên con kể như bỏ luôn.

Ủa! Mà chuyện nầy chỉ riêng mình con với cô ấy biết, ở nhà con cũng không hay. Tại sao thầy lại hiểu rõ ràng như vậy?

*

Hòa thượng đem chuyện đêm hôm thuật lại. Cô chủ nhà cả kinh, vội đem bán heo mẹ lẫn mười hai heo con thì thêm một việc lạ: Số tiền thu được đúng với tiền cô Nguyễn Thị Hòa đã thiếu mình khi trước. Trải qua sự nầy, cô tín nữ càng tin việc luân hồi nhân quả hiển nhiên là có thật.

Từ đó cô tu hành thêm tinh tấn và cải gia vi tự, thành ra ngôi chùa Phước Trường hiện giờ. Tại chùa nầy, hiện nay linh vị thờ cô vẫn còn. Tiên đức đã bảo: “Súc sanh bản thị nhơn lai tố. Nhơn súc luân hồi cổ đáo kim!”. (Súc sanh kia trước là người. Xưa nay người, súc luân hồi đổi thay!) Việc trên đây là một chứng minh nhân quả luân hồi không phải là hư dối vậy. (Thuật theo lời Hòa Thượng Thanh Từ, khi Ngài đến diễn giảng và thăm chùa Phước Trường ở Thủ Ðức).

Ba kiếp làm vợ trong một đời

Nước Trung Hoa, đời vua Thuận Trị nhà Thanh, có một học giả danh tiếng ở huyện Tế Ninh, là Thiệu Sĩ Mai. Ông đậu Tiến sĩ khoa Kỷ Hợi, tự nhớ kiếp trước mình vốn người ở huyện Thê Hà, tên là Cao Ðông Hải. Bà vợ của Thiệu Sĩ Mai chết lúc tuổi hãy còn trẻ, khi lâm chung trối dặn chồng rằng:

“Tôi có nhân duyên làm vợ anh ba đời. Kiếp nầy là một. Ðời sau tôi sẽ  sanh vào nhà họ Ðông ở huyện Ðào. Ngày kia anh bãi chức, về ngụ nơi chùa Tiêu xem kinh Phật. Nhớ tìm tôi ở ngôi nhà thứ ba tại khúc quanh sông Tân thuộc vùng ấy”.

Hơn mười năm sau, Sĩ Mai đổi về làm Giáo thọ ở phủ Ðăng Châu, gần huyện Thê Hà. Một hôm nhân rảnh rỗi, ông đến viếng chỗ ở kiếp trước, thì nhà của Cao Ðông Hải đã không còn. Hỏi thăm tìm được đứa cháu nội của Ðông Hải. Ông giúp tiền cho gầy dựng ruộng nhà. Kế đó ông thuyên chuyển làm Tri huyện ở Ngô Giang, rồi cáo bịnh về nghỉ.

*

Nhân lúc vô sự, Sĩ Mai đến thăm người bạn đồng niên ở huyện Ðào và ngụ tại chùa Tiêu. Chùa nầy có bộ Ðại tạng kinh, trong khi vắng vẻ ông thường mượn để duyệt lãm. Một hôm, bỗng nhớ lại lời người vợ trước đã dặn bảo. Ông ra Tân Giang đi dọc theo mé đến một khúc quanh tìm hỏi, quả thật có họ Ðông ở ngôi nhà thứ ba ven sông.

Ông vào thăm thì nhà nầy có đứa con gái chưa gả. Nhân đó thuật lại  duyên cớ trước, xin cầu hôn, liền được gia chủ ưng thuận. Cưới vợ được mấy năm, cô gái họ Ðông lại qua đời. Khi lâm chung, lại dặn chồng rằng: “Lần giã biệt đây, tôi sẽ tái sanh nơi nhà họ Vương ở Tương Dương. Ngôi nhà nầy cũng ở ven sông, trước cửa có hai cây liễu. Sau anh đến tìm tôi tại nơi đó. Cuộc tái hợp lần cuối cùng nầy, tôi sẽ sanh cho anh hai đứa con”. Thiệu Sĩ Mai nhất nhất đều xin ghi nhớ.

*

Về sau sự việc diễn tiến quả đúng y như lời người vợ đã nói. Năm Kỷ Mùi đời vua Khang Hy, Thiệu Sĩ Mai ở tại kinh sư, đã đem việc nầy thuật lại rõ ràng với những bạn đồng niên như Vương Ngư Dương, Phan Trần Phục… Việc của Thiệu Sĩ Mai trên đây, thật đã đúng với hai câu thi: “Lưỡng thế đốn khai sanh tử lộ. Nhất thân tằng tác cổ kim nhơn” (Một thân từng diễn người kim cổ. Ðôi kiếp mở liền lối tử sanh). Cuộc thế bể dâu, thân người huyễn mộng, xem việc nầy, những ai có mối thâm tư, chi khỏi sanh niềm cảm khái.

(Nhân quả luân hồi –  Theo Phật học tinh yếu)

Tuệ Tâm 2020.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *