Tam Vô lậu học Giới Định Huệ là gì

Tam vô lậu học là pháp tu căn bản của Phật pháp, gồm có: Giới, Định và Huệ. Bởi thế trong Kinh Lăng Nghiêm đức Phật dạy: “Nhiếp tâm giữ giới, nhân giới sinh định, nhân định sinh huệ. Đây là tam vô lậu học”

Lậu tức là dục, có dục thì có phiền não, dục hết thì phiền não hết. “Do vậy, Tam vô lậu học có ý nghĩa là ba môn học giúp hành giả vượt khỏi sự trói buộc của mọi phiền não, hoàn toàn tự tại. Lậu cũng có nghĩa là rơi rớt, nên Tam vô lậu học là phương tiện giúp hành giả không còn rơi rớt trong ba cõi, tâm không còn bị ràng buộc bởi mọi lậu hoặc. Như vậy, Tam vô lậu học là ba môn học đoạn trừ phiền não, chứng nhập quả vị giải thoát hoàn toàn. Không còn nằm trong sự kiềm tỏa của Tam giới và không dừng lại ở phước báo sanh thiên.”

Tam vô lậu học là gì
Tam vô lậu học là gì

Tam vô lậu học khó hay dễ

Để thực hành được Tam vô lậu học rất khó. Bởi trì giới phải tinh nghiêm thì mới sinh ra Định lực. Định lực sâu mầu thì Trí Huệ mới được khai mở. Đến được nấc thang này thì mới mong diệt được Phiền não phần Tế. Phiền não hết thì trí huệ bừng khai đắc tam thân, trí huệ, ngũ nhãn lục thông, cứu cánh viên mãn, cùng trí huệ Phật tương thông!

Giới vô lậu học.

Giới vô lậu học là trì giới ở mức độ tế và vi tế. Nghĩa là phải trì giới ở mức độ sâu mầu, tinh vi. Ví như giới không tà dâm chẳng hạn, ba mức độ sau đây là từ thô đến vi tế:

  • Bạn sống thủy chung không ngoại tình, không gái gú mát xa, không thủ dâm, không đọc chuyện xem phim tà vạy, không nghĩ đến quan hệ nam nữ…Đây là giữ giới không tà dâm ở dạng thô.
  • Bạn nếu lỡ có thấy cảnh hở hang hoặc người khác giới lõa thể đứng trước mặt mà tâm vẫn như như bất động, không khởi một niệm tà vạy… Đây là giữ giới không tà dâm ở dạng tế.
  • Bạn ngay cả trong mơ cũng không có một niệm tà dâm thì gọi là giữ được giới ở mức vi tế. 

Định vô lậu học.

Đinh vô lậu học phải được hiểu là Định lực hoặc Tam muội, chứ không phải là tầm thường đâu nhé. Người tu học nhập Định là kinh thiên động địa chứ chẳng phải tầm thường. Đây là một trạng thái sâu mầu, không thể dùng lời nói mà mô tả được.

Thường thì người Nhập Định nếu không vì nhân duyên phải xuất định thì có thể ở trong Định bao lâu tùy ý. Như tôn giả Ma Ha Ca Diếp chẳng hạn, hiện Ngài vẫn nhập Định tại núi Kê Túc Trung Quốc, chờ ngày đức Di Lặc hạ sanh thành Phật. Xin trích một đoạn trong hồi ký của Hòa Thượng Hư Vân để bạn hình dung được về Nhập Định:   

Tôn giả Ma ha Ca Diếp Nhập Định núi Kê Túc

Nguyện đầu tiên khi trở về nước là đi tham bái núi Kê Túc, nơi tôn giả Ma Ha Ca Diếp đang nhập định đợi Phật Di Lặc ra đời. Băng qua hồ Nhĩ Hải, hướng phía đông bắc mà đi, đến Hoán Sắc, Bá Đam, Bình Sa, Sơn Giác, miếu của An Bang Đại Vương. Tới Linh Sơn nhất hội phường tức núi Kê Túc. Giữa núi là đất Ô Ca.

Tương truyền lúc tôn giả Ca Diếp vào núi, có bảy vị vua đi theo hộ tống, không đành lòng trở về, ở tại đây tu hành, thành thần hộ pháp, tức miếu Đại Vương. Tôi đi thẳng lên chánh điện của núi; trong ngôi chánh điện có thờ tôn tượng tôn giả Ca Diếp. Tương truyền, khi tôn giả A Nan đến lễ bái thì cửa đá tự nhiên mở. Thánh cảnh trang nghiêm huyền diệu. Thạch đá tự biến thành cửa đá gọi là cửa Hoa Thủ. Ngài Ma Ha Ca Diếp đang nhập định bên trong. Cửa đá lớn tựa như cửa thành, cao cả vài trăm thước, rộng hơn trăm thước. Hai cánh cửa đều đóng nhưng đường lằn giữa hai cửa hiện rõ ràng.

Hôm ấy, du khách cùng người địa phương dẫn đường đến rất nhiều. Lúc tôi dâng hương lễ bái, tự nhiên nghe âm thanh của ba tiếng đại hồng chung; người địa phương đều vui mừng lễ bái theo và nói: “Hễ mỗi lần có bậc dị nhân đến thì đều nghe tiếng chuông trống, mõ khánh vang lên. Chúng tôi đã từng nghe tiếng khánh mõ, mà chưa từng nghe tiếng đại hồng chung. Nay Sư Phụ đến đây lễ bái lại nghe tiếng đại hồng chung, chắc đạo hạnh của Ngài cao lắm.”

Chuyện Hòa Thượng Hư Vân Nhập Định

Ngài Hư Vân thành tựu Tam vô lậu học thì ai cũng biết, bởi Ngài là bậc Long Tượng trong Phật pháp. Ngài cũng nhiều lần nhập Định, hồi ký của Ngài ghi lại:

Năm Quang Tự thứ 28(1902/03). Gần cuối năm, núi non đều đóng tuyết, hang sâu khí lạnh buốt xương. Một mình tôi đơn độc tu trì trong am tranh, thân tâm thanh tịnh. Ngày nọ, sau khi bỏ khoai vào nồi, tôi ngồi xếp bằng đợi khoai chín, tự nhiên nhập định. Qua năm mới, tôi nhập định không biết ngày giờ. Trên núi, gần am có các thầy như Phục Thành v.v…, lấy làm lạ vì sao đã lâu mà tôi chưa tới, nên đến am chúc mừng năm mới cùng tặng quà cáp. Họ thấy ngoài am đầy dấu chân hổ, mà chẳng thấy dấu chân người. Họ đi vào, nhìn kỹ, thấy tôi đang nhập định, liền đánh khánh khiến xả định.

Các thầy hỏi: “Thầy đã ăn cơm chưa?”

Tôi đáp: “Thưa chưa! Khoai vẫn còn trong nồi, chắc đã chín rồi.”

Mở nắp nồi ra, thấy mốc đầy cả tấc, nước đóng cứng như đá. Thầy Phục Thành chúc mừng nói: “Nhất định là thầy đã nhập định hơn nữa tháng rồi!”

Lần Ngài nhập Định khi đang giảng Kinh ở Thái Lan, năm 1907- 1908: “…Ngày nọ, khi đang ngồi thiền, tôi bỗng dưng nhập định, quên rằng mình đang giảng kinh. Tôi nhập định suốt bảy ngày. Tin này lan tràn cả thủ đô Xiêm La. Từ Quốc Vương, đại quan, cho đến thiện nam tín nữ, đều đến lễ bái. Sau khi xuất định, giảng kinh xong, Quốc Vương thỉnh tôi đến hoàng cung thiết lễ cúng dường, chí thành quy y. Quan thân sĩ thứ cùng dân chúng quy y tôi cả vài ngàn người…” 

Huệ vô lậu học

Huệ vô lậu học là sự thấy biết sáng suốt được sinh ra bởi Định Lực. Đây là cảnh giới cao nhất của người học Phật trong tam vô lậu học “Giới, Định, Huệ”. Người tu học khi dụng công đến chỗ thuần thục, phá được Phiền hoặc thì trí Huệ tự khai mở.

Thực ra thì Trí Huệ, vốn không phải là cái thấy biết thông thường, nên không thể dùng lời nói mà diễn tả được.

Xem thêm: Trí Huệ là gì.

Tam vô lậu học: Thay cho lời kết

Tam vô lậu học khó thành tựu như thế đó! Vì vậy đối với người tu hành chân chính, cần làm chủ tâm mình, khiến tâm luôn bảo trì chánh niệm. Nếu tâm chạy lệch, phải kéo về chính niệm ngay. Nếu giữ được tâm không lăng xăng tà vạy, ắt là không tạo nghiệp.

Pháp môn tu hành tuy có vô số, nhưng chỉ cần làm chủ mình: Quản tâm không hướng ác, bảo trì chánh niệm thì tu pháp gì cũng đúng. Ngược lại, nếu chỉ chú trọng tu ngoài miệng mà tâm không tu. Nghĩa là tuy miệng có niệm Phật, trì chú, tụng kinh… mà không lưu ý điều tâm ly ác hướng thiện, bội trần hiệp giác, thì cho dù có tu pháp gì cũng vẫn là sai. Vì đây gọi là ngoài tâm cầu pháp, nên muốn thành tựu Tam vô lậu học thì không có lý đó.

(Tam vô lậu học là gì)

Tuệ Tâm 2021.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *