Trí Huệ là gì

Trí Huệ là sự thấy biết sáng suốt được sinh ra bởi Định Lực. Đây là cảnh giới cao nhất của người học Phật trong tam vô lậu học “Giới, Định, Huệ”. Người tu học khi dụng công đến chỗ thuần thục, phá được Phiền hoặc thì trí Huệ tự khai mở.

Thực ra thì Trí Huệ, vốn không phải là cái thấy biết thông thường, nên không thể dùng lời nói mà diễn tả được. Như thủa xưa Ngài Thanh Nguyên Duy Tín thiền sư nói: “Ba mươi năm trước, khi lão tăng chưa vào đạo, thì thấy sông là sông, núi là núi. Đến khi gặp thiện tri thức chỉ dạy cho đường lối tu hành, thấy sông không phải là sông, núi không phải là núi. Ngày nay ngộ đạo, vào nơi tịch tĩnh, thấy sông vẫn là sông, núi vẫn là núi.”

Trí huệ là gì
Trí huệ là gì

Người có Trí Huệ

Người khai mở Trí Huệ thì vạn pháp thế gian cho đến xuất thế gian đều thông suốt. Người học Phật, hoặc Tụng kinh chú, hoặc Thiền, hoặc niệm Phật, nếu giới hạnh tinh nghiêm thì huệ tự khai mở. Lại không như cái thấy biết hạn hẹp của thế gian, trí huệ không thể cầu hay luyện tập mà có được!

Ta hãy xem câu chuyện sau đây, trong “Quán Thế Âm Bổn Tích Cảm Ứng Tụng”, sẽ hiểu được phần nào về Trí huệ:

Theo  Kỷ  Cầu  Thư, vào Năm Thuận Trị thứ hai, tức năm Ất Dậu (1645) ở Trung Quốc. Sử Khả Pháp là Lễ Bộ Thượng Thư kiêm Đông Các Đại Học Sĩ nhà Nam Minh tổ chức nghĩa quân quyết tử chống lại cuộc tấn công nhằm tận diệt nhà Minh của quân Thanh, do Dự Thân Vương Đa Đạc chỉ huy.

Ngày 24 tháng Tư, Đa Đạc tập trung đại bác bắn vào Dương Châu. Ngày 25 phá được thành, nhưng dân quân chống cự quyết liệt từng góc phố. Quân Thanh phải vất vả lắm mới chiếm được cả thành. Do vậy, để trả thù, Đa Đạc hành hình Sử Khả Pháp tàn nhẫn và hạ lệnh đại tàn sát nhân dân Dương Châu suốt mười ngày. Số người chết lên đến mười vạn người.

*

Trong thành có ông Trình Bá Lân  làm nghề buôn bán, thờ Quán Thế Âm Đại Sĩ rất kiền thành. Trước khi thành bị Phá ông Trình cầu khẩn Đại Sĩ cứu giúp.

Một đêm ông ta mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Mười bảy mạng trong nhà ông, mười sáu người đều được thoát tai kiếp, còn ông không trốn được. Đời trước ông giết Vương Ma Tử bằng hai mươi sáu nhát đao, nay phải đền món nợ ấy. Hãy nên bảo người nhà ở chái Đông, riêng mình ông ở giữa nhà đợi hắn, đừng làm liên lụy đến ai”.

Ông Trình tin theo. Đến khi binh lính đập cửa, ông Trình ra đón, hỏi: “Ông có phải là Vương Ma Tử hay chăng?”

Tên lính kinh hãi hỏi: “Vì sao ngươi lại biết tên họ của ta?”

Ông Trình kể lại lời Quán Thế Âm Bồ Tát trong giấc mộng.

Tên lính than: “Đời trước, ngươi giết ta, đời này chịu báo. Ta nay giết ngươi, há đời sau chẳng lại bị báo thù hay sao?”

Nói đoạn rồi bèn dùng sống đao đập ông Trình hai mươi sáu lần để xóa nợ. Ông Trình bèn dẫn quyến thuộc sang Kim Lăng, sống yên ổn nhiều đời.

Với quyền năng vô hạn của mình, để giúp ông Tình, Ngài Quán Thế Âm chỉ cần khảy móng tay là được. Ngài dùng thần thông: Hoặc đưa gia đình ông Trình đi nơi khác; Hoặc cho Hộ pháp che mắt quân binh nhà Thanh; Hoặc đưa họ tạm lánh lên Trời, xuống đất… Nhưng không, dùng thần thông để can thiệp vào nghiệp của người vốn không phải là cách độ sanh của hàng Bồ Tát! Ngài chỉ cho ông Trình tiền nhân hậu quả và để ông tự hóa giải ân oán, nghiệp lực cho mình. Chỉ có cách như vậy mới là rốt ráo. Bởi đã gieo nhân tất phải chịu quả báo, không cách chi trốn tránh cho được. Bồ Tát dùng Trí Huệ là như thế đó!

*

Nếu có trí huệ thì những việc ta làm đều không phí hoài, có thể tùy bệnh cho thuốc. Trong Kinh Di Giáo, Phật thuyết: “Chư Tỳ kheo các ông nếu có trí huệ không tham trước, thường tự tỉnh giác, không để phạm lỗi, nên được giải thoát. Nếu chẳng như thế, là kẻ phi đạo, cũng chẳng phải là hàng bạch y, cũng không có danh gọi chi”.

Người có huệ sẽ như thuyền kiên cố vượt qua biển sinh lão bệnh tử, là đèn lớn soi phá si ám vô minh. Là thuốc hay chữa lành tất cả bệnh, là búa bén chặt đứt cội rễ phiền não. Vì thế nên các ông cần huân bồi văn, tư, tu để phát huệ mà tự tăng lợi ích. Người có huệ, dù không có thiên nhãn, nhưng vẫn là kẻ có kiến giải sáng suốt.

Người có trí ắt thường tự tỉnh giác quán sát, không để phát sinh bất kỳ lỗi lầm nào. Phật nhiều lần tán thán, nói rằng: “Chỉ có người tu hành như thế mới thật sự đạt được giải thoát”. Ngài ví họ như thuyền kiên cố, có thể độ vô lượng chúng sinh thoát ly biển khổ. Như đèn lớn soi đường cho nhân sinh. Những lời khai thị khéo léo của họ giống như thuốc thần chữa lành bệnh người hữu duyên.

Phật ví phiền não như đại thọ. Nhưng hễ người có phiền não mà nghe vị có trí huệ dạy, thì sẽ thường phản tỉnh tự quán sát không để phạm lỗi. Giống như búa bén chặt cây, khiến phiền não tiêu trừ. Đây gọi là phương tiện  tùy căn hóa độ, tùy bệnh cho thuốc.

Khai thị về khai mở Trí huệ

Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhiếp tâm là giới, nhân giới sinh định, nhân định sinh huệ”

Hòa thượng Tuyên Hóa bảo: “Người tham thiền tham đến chỗ trên không biết có trời, dưới không biết có đất; Giữa cũng không thấy có người, cùng với hư không hợp thành một. Tới cảnh giới như vậy sẽ có cơ hội khai ngộ. Lúc ngồi lúc đi đều là cơ duyên để khai trí huệ.”

Ngài Quả Khanh bảo: “Nếu chúng ta chẳng chịu tu hành, thì những nghiệp sát, đạo, dâm, vọng… ta đã tạo sẽ tích tụ thành cái ô che phủ trên đầu ta. Chúng tích tụ mỗi lúc càng lớn, làm ngăn cản ánh Phật quang phổ chiếu khắp nhân gian. Điều này khiến chúng ta không thể nhìn thấy ánh sáng quang minh và không có trí huệ. Đây gọi là: Bị vô minh che huệ. Vô minh giống như bệnh đục thủy tinh thể ngăn cản ánh sáng vốn có, khiến người mù không thể nhìn thấy gì, thực rất đáng thương.

Vì thế hễ ai trì chí bền tâm nghiêm trì ngũ giới. Tu thập thiện dài lâu, chịu khó thiền tịnh song tu. Đối với những nghiệp đã tạo trong dĩ vãng sám hối triệt để thì trí tuệ nhất định sẽ xuất hiện. Hơn nữa, nếu sám hối càng triệt để, tha thiết, thì trí huệ xuất hiện càng sớm. Chỉ cần bạn chịu tu thực sự, tất sẽ được Phật lực gia trì, khai mở trí huệ có sẵn.

Tuệ Tâm 2021.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *