10 Lợi ích khi trì tụng Kinh Kim Cang

“Công đức tụng Kinh Kim Cang vô cùng lớn. Bởi kinh này chính là khuôn phép để phát Bồ Đề tâm, hành Bồ Tát đạo, tu trọn Lục Độ. Từ xưa đến nay, rất nhiều người đọc tụng: Người đốn ngộ tự tánh, triệt chứng duy tâm, sống dự vào dòng thánh, thác về cõi Tây Phương Tịnh Độ, kể sao cho xiết. Những kẻ kém hơn thì tiêu trừ tội nghiệp, tăng trưởng thiện căn, chuyển họa thành phước, ngu biến thành trí càng nhiều hơn nữa!” (Tổ Ấn Quang).

Công đức tụng Kinh Kim Cang
Công đức tụng Kinh Kim Cang

Năm xưa, Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang cho Lục Tổ Huệ Năng, đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (hãy nên chẳng trụ vào đâu để sanh tâm), Lục Tổ đại ngộ, thưa: “Nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, nào ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt. Nào ngờ tự tánh vốn tự trọn đủ. Nào ngờ tự tánh có thể sanh ra muôn pháp”.

Do đây thì biết thần lực của Kinh không thể nghĩ bàn! Tuệ Tâm trích dẫn những câu chuyện có thật trong “Kinh Kim Cang công đức tụng – Quán Thế Âm Bổn Tích”. Nguyện những ai có nhân duyên đọc những câu chuyện này đều vững chắc tín tâm. Hoặc trì tụng Kinh Kim Cang, hoặc phát tâm niệm Phật. Đều cùng lìa khổ được vui, cùng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc Quốc!

Công đức tụng Kinh Kim Cang: 

Tổ Ấn Quang bảo: “Niệm kinh Kim Cang nếu có thể chí thành khẩn thiết sẽ tự tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng phước huệ. Lại còn niệm Phật hồi hướng, quyết định vãng sanh Tây Phương. Hễ được vãng sanh sẽ siêu phàm nhập thánh, lên địa vị Bất Thoái. Lại còn thân cận Di Đà, theo gót hải chúng. Tự nhiên viên thành tam thân, tứ trí, ngũ nhãn, lục thông, hết thảy công đức”

Công đức tụng Kinh Kim Cang: 1.Vãng sanh Cực Lạc

1: Theo sách Kim Cang Trì Nghiệm, vào năm Vĩnh Huy nguyên niên (650) đời Đường. Sư Thích Minh Tuấn chết bất ngờ, thấy hai gã áo xanh dẫn đến gặp vua cõi âm, hỏi suốt đời Sư tu tập môn nào?

Minh Tuấn đáp: “Chỉ tụng kinh Kim Cang”. Vua nói: “Lành thay! Nếu tụng mười vạn biến, năm sau ắt sanh về Tịnh Độ, đệ tử chẳng được thấy thầy nữa!” bèn thả về. Minh Tuấn càng thêm tinh tấn. Đến tháng Ba năm Vĩnh Huy thứ 2 (651), Sư ngồi qua đời, mọi người đều ngửi thấy mùi hương lạ.

*

2: Theo sách Phật Tổ Thống Kỷ, vào đời Đường. Vị Tăng chùa Pháp Tín ở Kinh Châu là Duy Cung niệm kinh Kim Cang suốt ba mươi mấy năm. Mỗi ngày niệm năm mươi biến. Vị tăng cùng chùa là Linh Khuy ra khỏi chùa một dặm. Gặp năm sáu người, trẻ tuổi, hết sức xinh đẹp, y phục tinh sạch, ai nấy đều cầm nhạc khí, hỏi: “Cung thượng nhân ở chỗ nào?”

Linh Khuy bảo cho họ biết chỗ và hỏi họ từ đâu tới. Đáp: “Từ Tây Phương đến đón Cung thượng nhân”. Một người lấy hoa sen từ trong bọc ra, hoa còn đang ngậm búp, to như nắm tay. Cánh sen tỏa ánh sáng lạ, họ rảo bước về hướng chùa. Đến chiều, Duy Cung bèn mất, cả chùa nghe tiếng đàn sáo.

*

3: Theo sách Pháp Hoa Trì Nghiệm, vào đời Tống. Ở phía Nam thành Hồ Châu có người đồ tể tên là Lục Ông. Năm hai mươi ba tuổi, thấy một vị vân thủy tăng đến cửa, miệng nói: “Giáo hóa người hữu duyên”. Họ Lục chẳng hiểu, vị Tăng nói: “Ông giết trâu, dê vô số. Nếu chẳng đổi nghề, đời sau ắt đọa làm những loài ấy. Ông có thiện căn từ đời trước, hãy nên cật lực trì kinh Pháp Hoa, kinh Kim Cang. Hòng tiêu trừ ác nghiệp, tăng trưởng thiện phước”. Nói xong, chẳng thấy đâu nữa!

Họ Lục bèn tỉnh ngộ, ăn chay, kiêng giết, vẽ hình A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí. Sáng tối cúng dường, hằng ngày tụng hai kinh ấy để sám hối. Nguyện độ những chúng sanh đã bị giết sớm được sanh về Tịnh Độ. Năm tám mươi mốt tuổi, khoảng nửa tháng trước [khi mất], ông hẹn khắp các thân hữu: Trong ngày mồng Chín tháng Mười Một sẽ đãi cơm, cáo biệt. Đến hạn, ông tắm gội, ngồi ngay ngắn, đọc kệ tụng rồi mất. Kệ tụng như sau:

*

Ngũ thập dư niên ly sát nghiệp

Thủ phao đao xứng ám tu hành,

im triêu đắc phó Bồ Đề lộ,

hủy lý liên hoa hỏa lý sanh.

(Năm chục năm hơn lìa sát nghiệp,

Ngấm ngầm tu tập, vứt cân, đao,

Bồ Đề nay bước trên đường ấy,

Nước trổ sen tươi giữa lửa hồng)

*

4: Theo Viên Trung Lang Tập, vào đời Minh. Vợ ông Cung Trọng Thuần ở Công An là Chúc Thị, được nghe pháp môn Tịnh Độ từ vị huynh đệ là Viên Hoằng Đạo. Bà tin tưởng, bèn chuyên trì danh hiệu Phật kiêm tụng kinh Kim Cang. Một hôm, bà bảo các con: “Đức Phật nói ba hôm sau sẽ đến đón ta”.

Đến kỳ hạn, bà bèn tắm gội ngồi giữa nhà, quyến thuộc xúm xít, hồi lâu sau, bà tự nói: “Phật đến rồi! Giữa mày phóng bạch hào quang dài mấy trượng” Lại nói thấy một vị Tăng tướng hảo trang nghiêm, tự xưng là Tu Bồ Đề, trong khoảnh khắc, hóa thành hơn một trăm vị Tăng. Có người bên cạnh nói: “Trong kinh nói tới một trăm ba mươi tám vị Tu Bồ Đề, chính là vị này đấy”. Các quyến thuộc cùng đốt hương, niệm danh hiệu Phật.

Chúc Thị mỉm cười qua đời. Trong gác có đứa hầu gái mới chín tuổi, chợt ngã xuống đất, rồi đứng lên nói thấy mấy người khổng lồ mặc giáp vàng cầm tràng phan dẫn đường cho phu nhân. Cán tràng chạm vào mặt nên bất ngờ té xuống đất. Xem kỹ thì mặt nó còn vết trầy rành rành. Đã liệm xong thì từ trong quan tài lại tỏa ra mùi hương lạ.

*

5: Theo sách Báo Ứng Ký, vào đời Đường. Vu Sưởng giữ chức Lục Sự Tham Quân ở Tinh Châu dưới triều Võ Tắc Thiên. Cứ sau canh một là ông lại thở hổn hển, toát mồ hôi, qua canh hai thì hết. Vợ là Liễu Thị tính mời thầy thuốc. Ông Sưởng ngầm bảo vợ: “Không có nỗi khổ nào khác. Chỉ là ban ngày phải lo việc công, đêm đến phải phán xử việc cõi âm, sức ta không kham nổi”.

Ông thường biết trước tai nạn xảy đến, ngấm ngầm chuẩn bị. Suốt sáu năm như thế. Sau khi mẹ mất, ông trì kinh Kim Cang bèn không còn phải làm nha lại cõi Âm nữa. Do vậy, cực lực khen ngợi sức công đức của kinh này, dạy con cháu phúng tụng. Năm tám mươi tuổi, khi sắp mất, chợt nghe mùi hương lạ, ông bảo người xung quanh: “Có thánh nhân đến đón ta về Tây Phương”. Nói xong thì mất.

*

6: Theo Kim Cang Chứng Quả, trong niên hiệu Thiệu Hưng đời Tống. Ông X… ở Minh Châu không có con, vợ là Vương Thị có thai cả hai mươi tám tháng vẫn chưa sanh. Gặp một vị Tăng bảo: “Ông bị ách nạn lớn. Chỉ có cách thí một ngàn quyển kinh Kim Cang mới thoát”. Ông làm đúng như lời. Lại phát nguyện tụng một ngàn quyển, trai tăng một ngàn vị. Đêm mộng thấy thần Kim Cang cầm xử chỉ vào bụng bà vợ. Tỉnh giấc sanh được hai trai.

Đến năm ông sáu mươi mốt tuổi, chết đột ngột, vào cõi Âm. Diêm Vương bảo ngồi trên giường vàng, tụng kinh một biến. Sự khổ của các quỷ trong địa ngục đều nhanh chóng chấm dứt. Hỏi ông sao không tụng chú? Thưa: “Trong thế gian không có bản kinh nào có chú cả!” Diêm Vương liền trao cho bản kinh có ghi bài chú, lại bảo: “Ông trở về dương gian, hãy nên lần lượt lưu thông. Mai sau hết tuổi thọ sẽ sanh vào thế giới Cực Lạc”. Bèn sống lại. Sau này, đến năm chín mươi mốt tuổi, ông không bệnh, ngồi mất.

*

7: Theo Công đức tụng kinh Kim Cang Tân Dị Lục, vào thời Vạn Lịch nhà Minh. Nội giám (thái giám) Trương Ái mỗi tối trì kinh Kim Cang suốt mấy năm. Bệnh gần chết, thấy hai người áo xanh đến nói: “Đưa ông qua Sơn Đông đầu thai”. Đi như bay, trong vòng một ngày đã tới, thấy núi sông nơi ấy và cha mẹ sẽ đầu thai vào. Trương Ái chỉ nhất tâm trì kinh, bị áp giải đến một ngôi điện, nghi là [cung điện của] Đông Nhạc.

Trên điện có một vị vua, đầu đội mão đỉnh bằng, bảo: “Ông đáng nên đầu thai về nơi đây”. Đáp: “Ái trì kinh Kim Cang, nguyện sanh về Tịnh Độ, chẳng muốn thọ thai!” Vua nói: “Ông trì kinh công ít, biết làm sao được?” Trương Ái thưa: “Từng nghe nói mười niệm thành tựu liền được vãng sanh, huống hồ tôi đã trì kinh Kim Cang đã mấy năm rồi!” Vua bảo: “Cho ông trở về, trì kinh thêm!” Đã tỉnh lại, ông Ái bèn lìa nhà, trụ tại Bích Vân Tự ở Tây Sơn, chuyên tụng kinh Kim Cang. Mười một năm sau, một hôm nhóm chúng, bảo: “Hôm nay tôi về Tây”, ngồi ngay ngắn qua đời.

*

8: Theo Cân Ngự Thừa Tục Tập, vào đời Minh. Vợ ông Trầm Xuân Giao ở trấn Song Lâm, Hồ Châu là Phí Thị. Góa bụa từ trẻ, dệt vải để tự nuôi thân. Bà ăn chay mấy chục năm, thờ phụng tượng Phật và tượng Đại Sĩ bằng đàn hương. Hằng ngày tụng một quyển kinh Kim Cang, niệm Phật một ngàn câu. Dù tiết trời nóng hay lạnh chẳng bỏ sót.

Trong trận dịch lớn dưới thời Sùng Trinh, bà dời sang sống trên ngôi lầu trong nhà người con rể là Trương Thế Mậu, chỉ đem tượng Đại Sĩ theo. Hằng ngày, bà hồi hướng hương này xông thẳng đến chỗ Phật.

*

Ba năm như thế, chợt trên hư không có hương vờn quanh lầu mấy ngày. Trên vách tường vôi bỗng hiện ra tượng Phật, trang nghiêm tinh diệu. Xa gần đồn đại, người đến chiêm lễ ngày càng đông. Nếu dùng khăn sạch để lau thì hình sắc càng rạng rỡ.

Bốn năm sau, bà trở về chỗ cũ, vào cửa, liền quét dọn, thắp hương đèn, lễ Phật, tụng kinh. Đến sáng ngày thứ ba, tắm gội, thay áo, ngồi ngay ngắn niệm Phật. Đến Ngọ, kêu ầm lên: “Phật tới rồi, ta đi đây!” Từ biệt mọi người qua đời, thọ bảy mươi ba tuổi.

*

9: Theo Nhị Lâm Cư Hậu Tập, vào đời Thanh. Ông Trầm Bỉnh ở Trương Châu, tự là Kính Phù. Năm mười lăm tuổi bị bệnh suyễn. Đến năm ba mươi bệnh nặng hơn, năm năm mươi tuổi bệnh càng nặng hơn nữa. Bèn niệm Phật, ăn chay trường. Bạn ông ta là Dương Quảng Văn khuyên tụng kinh Kim Cang, ông Trầm bèn mỗi ngày tụng ba quyển.

Vào mùa Đông năm Càn Long 46 (1781), ông thị hiện bị bệnh nhẹ. Đến ngày ba mươi, dậy sớm, súc miệng, tắm gội xong, hướng về Tây, ngồi xếp bằng niệm Phật. Vợ ở bên cạnh, ông xua tay đuổi ra, sau đó ngồi nghiễm nhiên qua đời.

*

10: Theo Cân Ngự Thừa Tục Tập, vào đời Minh. Ngư phủ Trương Nguyên ở Hải Diêm và em trai là Trinh thấy trên mặt nước có ánh sáng lạ chiếu hắt lên, liền lặn xuống nước. Mò được một hộp đá, bên trong hộp đựng bộ kinh Kim Cang viết bằng chữ vàng.

Đêm mộng thấy thần kim giáp nói: “Ngươi đời trước là người hầu việc tại giảng đàn của pháp sư Trường Thủy, do không có lòng tin nên thoái đọa đến mức này. Nhưng cái nhân nhỏ nhoi vẫn chưa mất, ban cho ngươi đại pháp, hãy nên tinh tấn trì tụng”. Ông Nguyên lấy cớ không biết chữ để từ tạ, thần bảo há miệng ra, nhét một hoàn thuốc vào. Sáng hôm sau, mở kinh ra tụng, đọc làu làu như quen tụng từ lâu.

Trương Nguyên đem chuyện này kể với vị tăng chùa Chiêu Khánh là Truyền Như. Truyền Như khuyên hãy hồi hướng Tây Phương. Ba năm sau, Trương Nguyên bảo người thân và kẻ quen biết: “Đài sen đã hiện rồi!” ngồi ngay ngắn qua đời. Đó là chuyện nhằm tháng Bảy năm Đinh Sửu (1589) thời Vạn Lịch.

Công đức tụng Kinh Kim Cang: 2.Thoát chết

1: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Tùy. Mộ Dung Văn Sách ăn chay, tụng kinh Kim Cang. Một hôm, chết đột ngột, vào cõi Âm. Diêm Vương chắp tay, khen ngợi công đức rất lớn, sai thả về. Chợt thấy hai vị Tăng cầm đuốc dẫn đường cho Văn Sách, liền kéo chéo áo ca-sa hỏi.

Vị Tăng nói: “Do ông trì kinh nên chúng tôi đến bảo vệ, hãy nên đi theo ánh đuốc”. Ra khỏi cửa thành, Tăng bèn chỉ một ngôi thành lớn, bảo: “Đấy là địa ngục”. Văn Sách chẳng nỡ nhìn, đến một con đường có bức tường ngang chắn lối. Vị Tăng dùng tích trượng gõ vào, tường liền tách ra, bảo: “Nên đi theo lối này” liền sống lại.

*

2: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào đời Đường. Thứ Sử Quát Châu là Nhậm Nghĩa Phương người xứ Lạc An, chết trong niên hiệu Vũ Đức. Mấy ngày sau, sống lại, tự kể: “Bị dẫn đến gặp Diêm Vương, vua truyền coi địa ngục, chẳng khác gì trong kinh Phật đã dạy. Dưới đất ngày hay đêm đều tối tăm, như đi trong sương mù.

Người nhà do thấy Nghĩa Phương tim còn ấm nên mời tăng tụng kinh Kim Cang. Nghĩa Phương liền nghe tiếng, Diêm Vương thấy tuổi thọ chưa hết nên thả về. Người đưa về dặn: “Cứ theo tiếng tụng kinh sẽ về đến nhà”. Đã sống lại, do bàn đến chuyện địa ngục bèn vẽ tranh tả cảnh địa ngục.

*

3: Theo Báo Ứng Ký, vào đời Đường. Lý Khưu Nhất làm quan tại huyện Cao Bưu, Dương Châu, thích đem chim ưng và chó đi săn. Một hôm, chết đột ngột, bị lôi đến gặp Diêm Vương. Các loài chim thú nói tiếng người đòi mạng. Ông Lý nói: “Tôi từng chép một quyển kinh Kim Cang”. Vua sai lục trong kinh tạng, quả nhiên là thật.

Vua chắp tay nói: “Công đức ấy tối thượng”, bèn gọi những con vật đã bị giết lại để trình bày, xin [chúng cho ông Khưu Nhất] tạ lỗi. Khưu Nhất nguyện chép một trăm quyển kinh nữa, ai nấy đều hoan hỷ cho về. [Khưu Nhất] thân đã nằm trong quan tài, tung nắp hòm ngồi dậy. Thứ Sử Dương Châu tâu chuyện này lên. Vua hạ chỉ thăng Khưu Nhất lên Ngũ Phẩm, giữ chức Chiêu Thảo Sứ ở Gia Châu.

*

4: Theo Quảng Dị Ký, trong niên hiệu Khai Nguyên đời Đường.Ở Hoạt Châu có Lô Thị trì kinh Kim Cang. Một hôm bị hai người mặc áo vàng bắt vào cõi âm, thấy mấy chục người đều mặc áo đội mão, phía sau họ quá nửa là nằm trong lưới, hoặc không có áo, hoặc đầu trần.

Nha lại nói: “Người lành thì có áo mão, những kẻ ở trong lưới đều do mắc tội nặng. Nếu vì họ thuyết pháp, họ đều được lên cõi trời. Lô Thị liền ngồi trên tòa cao, tụng tên kinh Kim Cang, những kẻ ở trong lưới đã ngoi đầu ra, tụng đến nửa kinh, họ đều thoát ra ngoài đất. Tụng kinh xong, họ vãng sanh hết. Diêm Vương gọi Lô Thị là “pháp sư”, cho sống lại.

*

5: Theo Dậu Dương Tạp Trở, trong niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường. Vị Tăng tên Trí Đăng ở chùa Thiên Sùng tại Kinh Châu trì kinh Kim Cang, bị bệnh chết. Bảy ngày sau sống lại, nói: “Do niệm kinh nên Diêm Vương bước xuống bệ chắp tay đón, nói: “Thượng nhân còn ở đời mười năm, hãy gắng thoát sanh tử”.

Vua lại nói các vị Tăng trong nhân gian sau Ngọ ăn hạt Ý Dĩ và dùng các thứ thuốc, điều này trái nghịch Phật giáo rất lớn. Trí Đăng thưa: “Trong Luật có những điều khai giá”. Vua bảo: “Đấy là do người đời sau thêm vào, chẳng phải là ý Phật”. Hiện thời, chư Tăng ở Kinh Châu sau Ngọ không uống thuốc.

*

6: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, năm Khai Hoàng thứ 11 (591) đời Tùy. Đại Phủ Tự Thừa là Triệu Văn Xương chết đột ngột, đến chỗ vua Diêm La. Vua do thấy ông ta chuyên tâm trì tụng kinh Kim Cang, khen ngợi: “Lành thay!” Sai lấy kinh Kim Cang từ trong kinh tạng mang đến chỗ vua. Một người cầm quyển kinh đứng ở phía Tây, Văn Xương đứng ở phía Đông, đối trước kinh đọc tụng, chẳng sót một chữ, bèn thả về.

Vua sai dẫn Văn Xương đi theo cửa Nam ra, thấy Châu Vũ Đế trong căn phòng ở bên cửa, đeo ba tầng gông xiềng, kêu Văn Xương bảo: “Ta diệt Phật pháp, tội nặng. Xin hãy báo với hoàng đế nhà Tùy tạo một chút công đức cho ta ngõ hầu thoát được địa ngục”. Đến khi ra, thấy một hầm phân to, bên trong có đầu người nhô lên. Hỏi ra thì đấy là Bạch Khởi, tướng nhà Tần! Văn Xương về đến nhà, sống lại, liền tâu lên vua. Vua truyền trong thiên hạ mỗi người bỏ ra một đồng vì Châu Vũ Đế tụng kinh Kim Cang, lập đại trai đàn cúng dường ba ngày.

*

7: Theo Thọ Trì Linh Nghiệm Ký. Con gái ông Trương Ngọc ở Sơn Tây tên là Phật Nhi thích tụng kinh điển. Một hôm, chết đột ngột, nửa ngày sau, sống lại, kể: “Bị hai con quỷ bắt qua Xoa Lãnh, trước hết thấy quỷ dùng mền đen bọc hai người bỏ vào nhà họ Trần. Lại dùng cái mền hoa bọc con và nói: ‘Mày nợ ông ta một ngàn năm trăm đồng, nay phải qua đó trả nợ’.

Chợt một người áo xanh lục chặn đằng trước, bảo: ‘Người này niệm kinh Bát Nhã, hãy dung thứ’. Do vậy, trợt chân ngã xuống đất, bèn tỉnh lại”. Cha cô ta qua Xoa Lãnh hỏi thăm. Quả nhiên trong nhà họ Trần sanh ra ba con chó, hai con đen, một con vá vừa rớt xuống đất liền chết.

*

8: Theo Kim Cang Cảm Ứng, vào đời Minh. Trâu Ách ở Côn Sơn thỉnh tăng tụng kinh Kim Cang. Em trai là Chẩn nghe kinh tới phần thứ mười lăm, khen hay, bảo: “Trong đạo Nho ta không có điều này”. Về sau, [Trâu Chẩn] mắc bệnh, bất tỉnh nhân sự nửa tháng, chỉ có trước ngực là còn chưa lạnh.

Chợt tỉnh lại, ngồi dậy nói: “Em làm trâu trong nhà Lý Tác Phường ở ngoài Xương Môn, khắp thân trắng toát, thấy thần Kim Cang nói: ‘Người này từng nghe kinh Kim Cang, sao lại vào trong loài này?’ Dùng xử báu gõ vào đầu trâu, tôi liền tỉnh lại, tự cảm thấy đỉnh đầu còn hơi rêm”. Hỏi ra thì trong nhà họ Lý quả nhiên có con nghé trắng mới sanh ra liền chết.

*

9: Theo Thái Bình Quảng Ký, trong năm Nguyên Hòa thứ 7 (812) đời Đường. Người ở thành phố Kinh Triệu là Du Vạn Doanh trong nhà có một con rắn độc to. Đem giết ăn thịt, bèn bị đau phổi rồi chết. Bảy ngày sau sống lại, nói: “Thoạt đầu tôi bị sứ giả cõi âm bắt, đi trong bóng tối mười mấy dặm. Thấy một người niệm kinh ánh sáng tỏa quanh thân, chiếu ra bốn phía tới mấy thước, kêu Doanh đi theo, bảo:

– Tôi niệm kinh Kim Cang, ông đừng rời tôi thì sứ giả chẳng dám tới gần, dần dần chẳng thấy [sứ giả] đâu nữa”. Về đến nhà, Vạn Doanh bái tạ: “Chẳng gặp bậc chí nhân, quyết chẳng trở về được!” Do vậy, đoạn rượu thịt, hằng ngày tụng năm mươi biến kinh Kim Cang.

*

10: Theo Kim Cang Cảm Ứng, trong niên hiệu Vũ Đức đời Đường. Tô Văn Trung ở Trường An giàu có, nhưng bất nhân. Tới già, té nhà cầu mà chết. Con là Nhân Khâm mặc sức nấu nướng, sát hại, âm phủ giam hồn hắn trong địa ngục nên bị bệnh nặng kinh niên, thấy chúng sanh đòi mạng rồi chết.

Diêm Vương sai dẫn lên núi đao, rừng kiếm, chợt có vị Tăng tên là Thần Kính cầm kinh Kim Cang đến, bảo vua: “Kinh này do Nhân Khâm thí, Tăng tụng kinh bèn chứng quả, xin giảm tội cho hắn”. Vua khen tốt lành, cho trở về dương gian. [Nhân Khâm] liền in tặng ngàn quyển, mộng thấy cha nói: “Ta ở trong địa ngục, nhờ con thí kinh nên cùng với vong hồn tổ tiên bảy đời được siêu sanh thiên giới”.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *