Quỷ Dạ Xoa là gì

Quỷ dạ xoa là một chủng loài trong cõi Địa ngục, nơi khổ hải nhất trong sáu nẻo luân hồi. Theo kinh Địa Tạng mô tả thì “Quỷ Dạ Xoa hình thù đều lạ lùng: hoặc nhiều tay, nhiều mắt, nhiều chân, nhiều đầu…răng nanh chĩa ra ngoài, miệng bén nhọn dường gươm, cặp mắt chói sáng như chớp nhoáng, móng tay cứng như đồng, thường cầm chĩa lớn bằng sắt trừng phạt hoặc ăn thịt người tội trong địa ngục.”

Quỷ Dạ Xoa
Quỷ Dạ Xoa

Dạ Xoa quỷ vương và Quỷ Dạ Xoa

Theo kinh Phật thì chúng sanh cõi quỷ đông hơn loài người gấp trăm vạn lần, không thể tính đếm. Họ có ở khắp nơi, có quyến thuộc nhà cửa, có thể ở chung với loài người. Nhưng khác chiều không gian, họ thấy ta nhưng ta không thấy họ.

Dạ Xoa Quỷ vương là một loài quỷ trong tám bộ quỷ thần (thiên long bát bộ). Loài quỷ này dưới quyền thống lãnh của Bắc Phương Tỳ Sa Môn thiên vương. Dạ xoa thân hình đen đúa, mặt mũi hung ác, đầu không có tóc, tay cầm chĩa sắt, gồm ba loại: Địa hành dạ xoa, hư không dạ xoa và thiên dạ xoa.

*

Theo Đại Nhật Kinh Sớ. Dưới quyền Tỳ Sa Môn thiên vương, có tám vị Dạ Xoa đại quỷ vương rất nhiệt tâm hộ trì Phật pháp. Tên của họ là:

  • Bảo Hiền Dạ Xoa đại quỷ vương.
  • Mãn Hiền Dạ Xoa đại quỷ vương.
  • Tán Chi Dạ Xoa đại quỷ vương.
  • Sa Đa Kỳ Lý Dạ Xoa đại quỷ vương.
  • Hê Ma Phược Đa Dạ Xoa đại quỷ vương.
  • Tỳ Sái Ca Dạ Xoa đại quỷ vương.
  • A Tra Phạ Ca Dạ Xoa đại quỷ vương.
  • Bán Già La Dạ Xoa đại quỷ vương.

Quỷ dạ xoa đa phần ở Địa Ngục để trừng phạt tội nhân. Một số có phước thì đi thâu hồn người chết về cho Diêm La Vương luận tội. Bạn muốn biết quỷ dạ xoa trừng phạt tội nhân như thế nào, xin hãy đọc “Địa Ngục Ký” của Cô Ba cháo gà. Đọc “Âm Luật Vô Tình” của Thượng Quan Ngọc Hoa, rồi hãy đọc Kinh Địa Tạng.

Xin mở đầu bài viết này bằng câu chuyện hoàn toàn có thật, đây là hồi ký của sư Hằng Nghiêm, trong Báo ứng hiện đời.

Gặp Quỷ Dạ Xoa nơi Địa Ngục

Vào thời Nhật xâm chiếm Trung Quốc, phi cơ Nhật oanh tạc cả tỉnh Hồ Bắc làng quê tôi. Năm đó tôi 22 tuổi, cha mẹ dẫn cả nhà đến ga Hạ Thắng Kiều để đi Trùng Khánh. Nhưng mẹ tôi không kham nổi nhọc mệt đã chết trên đường. Phụ thân cũng ly trần. Tôi và vợ chồng người anh ấn trốn tại thôn Kim Ngưu. Hàng ngày nhớ mẹ, mỗi tối tôi nhìn trăng nhắm hư không lễ bái. Thầm cầu được biết cha mẹ giờ đang ở đâu?

Một tối nọ, tôi đang buồn nhớ song thân thì thiếp đi. Bỗng thấy có một vị xuất gia tướng mạo trang nghiêm, tay cầm phất trần bảo tôi:

– Con muốn gặp cha mẹ ư? Ta sẽ dẫn đi!

Ông bảo tôi đi trước, chỉ thấy hai bên đường cây cối rậm rạp sầm uất nhưng sạch sẽ xanh tươi. Không bao lâu thấy trước mắt xuất hiện một cái thành. Cổng thành rất cao tôi phải ngước đầu lên nhìn, thấy trên cổng có đầy đinh nhọn. Tôi cùng vị Tăng tiến tới, thấy bên trong cổng có một ngôi nhà to. Vị Tăng kêu tôi đứng đó đợi chút, để ông đi đăng ký, tôi hỏi:

– Vỉ sao phải đăng ký?

Ông bảo:

– Con còn phải trở về mà!

Vào Địa ngục

Trong lúc ông đăng ký tôi thấy một thanh niên mặc áo lam, quần dài. Đây chẳng phái là biểu huynh con di hay sao? Tôi mừng quá liền gọi:

– Biểu ca! Biểu ca!

Thật lạ, anh không thấy không nghe, chẳng hay biết chi, cứ làm như không có việc gỉ.

Vị Tăng đăng ký xong, quay lại dẫn tôi đi. Đi một quãng không xa lắm, tôi nhìn thấy một vùng thảo nguyên rộng lớn, có trâu bò, ngựa, heo, dê, nai v.v. Các loài thú ở đây nhiều không kể xiết. Thấy trâu bò ven đường trừng mắt ngó mình, tôi sợ không dám đi. Thấy vậy vị Tăng phẩy phất trần một cái, chúng liền quay mặt đi. Tôi nghĩ thầm những con vật này còn sống cả mà.

Tiếp tục tiến tới thấy một vùng cây cối rậm rạp, cỏ hoa đủ màu sắc. Phía trên có nhiều loài chim xinh đẹp bên dưới có nhiều gà vịt, ngỗng. Đi không bao lâu thì thấy người chị họ (con dâu cô tôi) thân không mặc y phục. Chị khoác cái khăn lông trắng ngang eo, ngồi trên tảng đá, ôm một hài nhi. Tôi kêu tên chị nhưng chị không nghe hay thấy gì đến sự hiện diện của tôi.

Khổ hải nơi Địa ngục

Tiếp tục đi một quãng không xa, tôi thấy xuất hiện một cột đồng nóng đỏ tỏa khói. Có người đang ôm chặt, giống như bị dán dính trên đó vậy. Nhìn kỹ tôi giật mình: ‘Đây chẳng phải là thiếu gia X, láng giềng của tôi sao? Vì sao mà phải thọ tội trên đó? Vị Tăng nói:

– Ông ấy phạm tội hoang dâm,dụ dỗ các bé gái và hại đời họ, cho nên phải nhận hình phạt này.

Tôi nhớ hồi sống trên thế gian ông X làm nghề mộc. Nhà rất giàu, tài sản lắm, cũng thường xuất tiền làm từ thiện. Ông này giỏi thi văn, làm việc vui vẻ thoải mái, ai mà dè tâm đầy tà dục. Do sống buông thả hoang dâm mà giờ phải thọ tội, chẳng biết thuở nào mới thoát khổ? Giờ mới biết: Nếu phóng túng nhục dục thì “gái nằm giường lửa, trai ôm cột đồng”, quả là có thật. Người thế gian nếu biết rõ hình phạt này, há không cẩn thận ư?

Hình phạt của quỷ dạ xoa nơi Địa ngục

Tôi phóng mắt nhìn ra phía trước, ôi chao! Các quỷ dạ xoa mặt xanh cầm chĩa ba, đâm người vít quăng lên núi đao. Thân họ bị cắt chém tơi tả, vỡ bụng lòi ruột. Lại có quỷ dạ xoa rạch bụng người, moi tim, khoét mắt, móc lưỡi. Còn thấy chảo dầu sôi nấu người, cưa sắt cưa đôi người. Có người bị chém, thân chúc ngược trên tảng đá, máu me chảy tràn.

Trong đây vang rền tiếng kêu la rên xiết, âm thanh đau đớn nghe khủng khiếp cả tai. Tôi chẳng dám mở mắt ra nhìn, mà tai cũng nghe hết nổi, sợ đến run lẩy bẩy. Tôi không cần hỏi vị Tăng, thừa biết đây là các chúng sinh tạo ác nên tự thọ quả báo. Nhưng tận mắt chứng kiến thực sự quá kinh khủng và xót xa.

Tối không muốn xem những cảnh này nữa, liền quay mặt đi. Chợt thấy có con lộ khác, liền rẽ vào đó, tôi đi mãi thì đến một ngôi nhà. Thấy mẹ tôi đang ngồi trên giường, còn em gái tôi ngồi bên cạnh. Tôi mừng quá vội gọi mẹ và lao tới ngồi cạnh mẹ.

*

Nhưng tất cả giống như hư vô, mẹ không biết có tôi hiện diện. Mới đầu trong lòng tôi khó chịu, tủi thân. Cho rằng mẹ cư xử quá lạnh lùng xa lạ, không thèm lý tới mình, chỉ biết có muội muội. Làm như tôi không phải con trai và chẳng nhớ gì đến tôi. Lúc này vị Tăng kêu tôi đi tiếp, tôi bất đắc dĩ phải bước đi. Vị Tăng bảo

– Hãy đi gặp bào huynh ngươi nhé!

Tôi hỏi:

– Anh ấy chẳng phải ở trong ngục sao?

Vị Tăng đáp:

-Y không có tội lớn, chỉ là người chồng thiếu trách nhiệm thôi. (Vì vợ bất hiếu mà không khuyên bảo).

Chẳng bao lâu chúng tôi đi đến một ngôi biện công sở, đây là một tòa lầu. Tôi biết anh ở trên lầu, liền bước lên cầu thang. Thấy anh đang ngồi đẩy mấy con số trên bàn tính, tôi mừng rỡ, gọi:

– Anh ơi!

Nhưng anh cũng giống như những người thân tôi đã gặp qua nơi đây, hoàn toàn không thấy không nghe. Không hay biết chi đến sự có mặt của tôi, nên chẳng thể giao tiếp.

*

Vị Tăng lại thúc tôi đi, đi mãi, hầu như đã qua không biết bao nhiêu lộ trình. Tới một quang cảnh hết sức thanh u, rộng lớn, hiền hòa. Tâm tôi thoải mái trở lại. Tôi tiến đến một tòa nhà to lớn chói lọi sắc vàng, xung quanh có cửa sổ trong suốt. Thấy cha đang ngồi thiền ở trong. Gặp tôi, ông liền hỏi:

– Ngươi đến làm gì?

Tôi chưa kịp đáp, vị Tăng đã gật đầu. Cha tôi cũng gật đầu như lãnh hội ý ngài. Tôi báo cha:

– Con không đi tiếp nữa! Cha tôi tuy chẳng nói, nhưng có vẻ như đã hiểu hành trình của tôi. Được một lát vị Tăng bảo tôi đi, tôi không dám cãi đành đi tiếp.

Không bao lâu tôi đi đến một cây cầu, bề rộng khoảng 14-15 cm. Vừa đặt chân lên tôi sợ quá vội rút về, kinh hãi bủn rủn. Vị Tăng liền vung nhẹ phất trần, nói:

– Đừng sợ!

Thế là tôi lại bước lên, cảm giác cầu rất kiên cố, không còn lắc lư, tôi an tâm đi thẳng tới. Nhìn xuống bên dưới tôi thót tim vi thấy đầy máu đỏ, trong có lúc nhúc người. Chẳng ai mặc y phục, còn bị mãng xà quấn quanh, giẫy giụa trồi sụt.

*

Tôi hỏi vị Tăng:

– Đây là thế nào?

Ngài đáp:

– Đó là ao máu dơ dâm dục, sinh sản!

– Vậy phải làm sao mới ổn?

Ngài nói:

– Phải tu hành!

Tôi hỏi:

-Tu như thế nào?

Ông đáp:

– Giữ tâm thanh tịnh, giữ thân như ngọc sống liêm khiết, không dục nhiễm. Không làm các điều ác, chuyên làm các việc lành. Tôi hiểu rõ, “À” lên một tiếng to!

Tiếp tục đi tới một nơi nhìn xuống thấy mầu xanh thăm thẳm, chẳng biết là nước hay là trời? Ngẩng đầu nhìn lên, mới hay nước trời một sắc, bầu trời quang đãng, vạn dặm xanh trong. Đang lúc tôi say sưa chiêm ngưỡng cảnh đẹp thì bị vị Tăng đẩy một cái. Thân tôi lăn tròn, bị cuốn nhanh đến tâm tư phát hoảng.

Tôi giật mình mở mắt, thấy mình đang tựa vào giường, y phục ướt đẫm mò hôi, tim hãy còn đập mạnh. Té ra đây là giấc mộng, nhưng hồi tưởng lại, cảm giác vẫn rõ ràng như thực vậy.

*

Năm Dân Quốc 34 (1945) Trung Quốc kháng Nhật thắng lợi, thế giới hòa bình. Tôi quay về cố hương. Bước vào tầng ba nhà khách, thấy các bài vị trên bàn thờ đề tên ba người: Anh họ, chị họ và anh ruột tôi. Cô và chị dâu kéo tay tôi, khóc kể nỗi niềm ly biệt. Tôi an ủi họ, đợi họ ngưng khóc, tôi hỏi:

– Lúc biểu huynh chết đã mặc áo lam quần dài như thế phải không?

Cô tôi khẩn trương nắm tay tôi nói:

– Con không có mặt lúc nó qua đời, vì sao biết rõ như vậy?

Tôi đáp:

– Con đã nhìn thấy bọn họ mà, nhưng sao cô không mặc y phục cho chị?

Cô nói:

– May là con còn sống, cảm ơn trời Phật gia hộ con bình an vô sự, nhưng lúc biểu tỷ con lìa đời, con cũng chẳng có mặt, vì sao biết rỗ điều này?

Tôi kể mình mơ xuống âm cung và đã gặp tất cả. Nghe vậy cô mới an lòng, bèn thuật lại lúc biểu huynh tôi chết đã mặc đồ giống y như tôi tả. Còn chị họ tôi mới sinh con được mười mấy ngày. Chị vừa gội đầu, tắm rửa xong, thì cảm thấy không khỏe, ngay đó chị tắt hơi. Cô vội khoác cái khăn lông lên che thân cho chị, mấy ngày sau hài nhi cũng chết.

*

Cô phân trần nói tiếp:

-Trước khi liệm, cô có cho nó mặc áo thọ còn bỏ rất nhiều nệm chăn, y phục vào quan tài. Hai vợ chồng nó trong một tháng mả lần lượt tạ thế hết.

Mẹ và em gái tôi giống như sống trong cõi âm. Chỉ có cha tôi lúc sinh tiền thường tụng “Kinh Kim Cang” và hay ngồi thiền. Ông thường dạy con: “Lời phi lễ chớ nói, điều phi lễ chớ nghe, cảnh phi lễ chớ nhìn, việc phi lễ chớ làm. Thà để người phụ ta chớ ta chẳng phụ người. Phải đặt ta và cảnh người để thông cảm họ, muốn trách người trước phải tự trách mình”.

Những điều cha mẹ dạy, tôi thấm nhuần thành thói quen. Hôm nay được tu học theo Phật, dù công phu chưa thành. Song những đạo lý này luôn đem đến ích lợi khôn cùng. Nhờ cha sinh tiền học Phật nên hay cùng tôi trao đổi, nhờ vậy mà tôi mới bước vào đường đạo.

Học Phật không lâu, sau khi tụng kinh Địa Tạng, tôi mới biết rõ vị Tăng đưa tôi đến âm cung gặp cha mẹ, chính là Bồ tát Địa Tạng. Chúng ta đến cõi đời này như lữ khách, dù sống trăm năm cũng giống như giấc mộng. Khi lìa đời thì vạn thứ chẳng thể đem theo, chỉ có tay không đến chầu diêm chúa.

*

Xin hãy dừng mọi tranh giành hơn thua. Những thăng trầm trong đời giống như vở kịch. Một khi từ giã cõi đời, ta hoàn toàn mù tịt chỗ mình đến. Nhưng A tỳ địa ngục lại có rất nhiều người, một khi đọa vào bao giờ mới thoát ra? Chỉ có thọ khổ triền miên, bất tận.

Xin nhớ lời thiện trí thức khuyên răn, đừng phút nào quên nỗi khổ nơi địa ngục. Hãy dũng mãnh phát tâm tu hành giữ gìn thân, khẩu, ý, thanh tịnh. Nếu quyết tâm tu một đời không thoái chuyển, sẽ thoát khổ trầm luân.

Chuyện về Quỷ Dạ Xoa

Theo Tân Tề Hài, Tưởng Tâm Dư lúc làm quan Trung Hàn, mộng thấy lính lệ cầm thiếp đến mời, bèn theo đến một tòa miếu, cỡi ngựa đất bay lên không trung. Không lâu sau, ngựa hạ vó dưới thềm một nơi trông rộng lớn như chỗ vua ngự. Tấm biển bên trái ngôi điện ghi là “Thiên Đường”, từng gian sáng ngời. Tấm biển bên phải ngôi điện đề “Địa Ngục”, sâu tối khó lường.

Địa ngục có giếng, người ta tự nhảy xuống đó. Vua truyền mời ông Tưởng vào điện, bảo: “Ta hết nhiệm kỳ sẽ ra đi, ông hãy thay ta”. Ông Tưởng thưa: “Tôi còn mẹ già con thơ, việc chưa xong làm sao có thể đến nhậm chức được?” Vua nói: “Ông có tài đức, tiếng tăm, sao lại chẳng thông đạt đến mức ấy? Chuyện trên đời muốn xong bèn xong. Ta đã tâu lên Thượng Đế, không thể nào vãn hồi được đâu!”.

*

Ông Tưởng uất quá, tỉnh giấc, mồ hôi thấm ướt mền. Ngồi dậy, lại mộng thấy vào cõi âm. Trên điện bày năm cái tòa, án từ chất như núi. Nha lại chỉ tòa thứ năm bảo: “Đây là chỗ của ngài”. Ông Tưởng trông thấy thầy dạy là Phùng Tĩnh Sơn, bèn trình bày tình cảnh mẹ già, con thơ. Ông Phùng buồn bã nói: “Tôi vợ dại, con thơ, cũng là kẻ không thể đến nhậm chức. Việc đã đến mức này, đừng nói nhiều nữa! Hãy mau lo liệu hậu sự mà thôi!” .

Tỉnh giấc, ông bèn qua nhà vị quan đứng đầu địa phương là Vương Hưng Ngô chào vĩnh biệt. Ông Vương kinh hãi bảo: “Mặt ông xám như trét than, quỷ khí đầy người”. Ông kể lại giấc mộng, họ Vương khuyên nên tụng chú Đại Bi. Cả nhà bèn trai giới tụng niệm. Đến nửa đêm, ông Tưởng thấy một chiếc kiệu từ trên không trung hạ xuống, có nhiều quỷ dạ xoa hình thù kỳ dị khiêng kiệu, rõ ràng là kẻ đến đón, bèn tụng chú gấp hơn, họ liền như sương khói tan mất. Ba năm sau, được thăng chức Từ Lâm.

Tụng kinh Kim Cang thoát Địa ngục

Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Minh, Nhan Quang Dũ nhiều đời theo Nho học. Một hôm, cùng với những vị hương thân kỳ lão vào hội Kim Cang nghe kinh, hớn hở, thán phục, muốn thấu suốt tông chỉ, nhưng do làm quan nên chưa rảnh rỗi. Về sau, trông coi huyện Thái Hoà, bị bệnh, mộng thấy hai con quỷ dạ xoa lôi vào âm phủ, cảnh tượng tối tăm, thê thảm, nghiêm ngặt.

Nha lại tâu với vua: “Quang Dũ hiếu sát, có vô số sanh linh đòi mạng”. Vua phán đem chiên dầu. Quỷ đầu trâu dùng chĩa xiên bỏ vào vạc dầu sôi, thấy Quang Dũ hoa sen phủ khắp thân, dầu trong vạc đang sôi trào bèn trong lặng. Vua chắp tay mời gặp, sai tra sổ ghi điều lành thì thấy có công trì tụng Bát Nhã một ngày, gieo được thân kim cang bất hoại này, liền tha về để khuyên người đời.

Từ đấy trở đi, Quang Dũ khóa tụng chẳng thiếu sót, khắc thí kinh Kim Cang sáu ngàn quyển, làm quan đến chức Đại Tham, thọ tới bảy mươi tuổi. Lâm chung, mùi thơm tỏa ngát cả ngõ, dặn dò con cháu thọ trì kinh này.

Oan oan tương báo

Theo Thọ Khang Bảo Giám. Đời Thanh, tường sanh họ Chi ở Gia Thiện, đi thi Hương vào mùa Thu năm Kỷ Dậu (1669) triều Khang Hy trở về, nói với người bạn họ Cố: “Tôi thần hồn hoảng hốt, dường như bị quỷ quấy nhiễu, muốn cậy vị Tăng nọ để sám hối oan nghiệt xưa kia”. Ông Cố nói “rất nên”, mời vị Tăng cùng đến thăm ông Chi.

Ông Chi chợt phát cuồng, nói: “Ta ngậm oan ba đời, nay mới hại được ngươi!” Vị tăng hỏi: “Có thù hận gì?” Trả lời: “Đời trước ta là thuộc tướng của nó, nó là chủ tướng. Nó thuộc họ Diêu là họ có công lao hiển hách trong triều. Nó thấy vợ ta trẻ tuổi, xinh đẹp, sai ta đem quân xuất chinh, bị vây hãm trong tử địa để mưu chiếm đoạt vợ ta. Vợ tự vẫn. Một nhà cốt nhục chia lìa.

*

Sau đó, nó chết vì chuyện trung nghĩa, ta chưa thể báo thù được. Đời sau đó, nó là bậc cao tăng, lại chẳng báo thù được. Đời thứ ba nó làm Tể Tướng, tận hết trách nhiệm, thần phước lộc bảo vệ nó, ta vẫn không trả thù được! Đời này, lẽ ra nó đỗ đạt. Đời này ta đã đợi suốt ba mươi năm, do gần đây nó phạm dâm nghiệp, bị xóa tên trong sổ Văn Xương, nên ta mới ra tay được”. Khi nói, căm hận, giận dữ không thôi.

Ông Cố bảo: “Oán hãy nên cởi, chớ nên buộc”. Oan hồn đáp: “Nỗi hận của ta khó thể giải trừ được! Chẳng thể dung tha nó”. Rốt cuộc, ông Chi điên cuồng mà chết.

(Quỷ Dạ Xoa là gì)

Tuệ Tâm 2020.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *