Chép kinh Phật cảm ứng chuyện

Chép kinh Phật công đức vô lượng, tuy vậy cần phải chí tâm và hết sức cung kính giữ dìn, mới mong tránh được lỗi khinh nhờn. Phước ở đó mà họa cũng ở đó. Cần biết rằng: “Kinh Phật ở đâu, chư tôn Long Thần Hộ Pháp hộ trì kinh ở đó”. Chỉ là bạn chẳng nhìn thấy các Ngài mà thôi. Nếu chép kinh mà thân tâm không thanh tịnh, chư Phật từ bi không quở trách, nhưng Hộ pháp thì không đâu, sai là bị nhắc nhở liền, xin hết sức lưu ý điểm này.

Chép kinh Phật
Những câu chuyện nhiệm mầu về chép kinh Phật

Thời mạt pháp, chánh pháp suy vi, Pháp theo người lầm, Đạo tục lạm dụng. Đảo ngược chân lý, truyền bá nhảm xằng, giả chân lẫn lộn. Kinh điển không lo tu học, sách phàm mải miết đọc say. Nếu có chép kinh Phật, chẳng chút ân cần. Đã không giữ cho trong sáng, lại làm thêm nhiều sai lạc.

Những điều cần đặc biệt lưu ý khi chép kinh Phật

Kinh sắp chung giường, hoặc để trước cửa. Gió mưa mối mọt, chẳng hề sợ lo. Khiến cho kinh điển không còn tác dụng hiển linh, đọc tụng nào thấy lợi ích cứu khổ. Thật do chế tác không được tinh thành và bởi cái ta ngày càng kiêu ngạo. Vì thế, kinh Kính phúc nói: “Thiện nam tử! Sao chép kinh điển, đừng đảo điên ý nghĩa quan trọng của một chữ. Nếu không, sẽ bị đọa vào đường mê nẻo tối suốt năm trăm kiếp. Tai không được nghe Chánh pháp vi diệu cao siêu.”

Kinh Đại tập nói: “Nếu chúng sinh nào, vào thời quá khứ, tạo các nghiệp ác như: Phá hoại Chánh pháp, phỉ báng Thánh Tăng, cản trở thuyết pháp. Hoặc sao chép kinh điển mà tẩy xóa chữ nghĩa. Hoặc phá phách Pháp khác, hoặc lén giấu kinh khác. Do nghiệp nhân này, sẽ bị quả báo mù mắt.”

Kinh Đại bát nhã nói: “Đức Phật bảo, các thiện nam tử, các Thiên nữ nhân. Khi sao chép kinh Bát nhã Ba la mật đa rất cao thâm. Nếu nhăn mặt, vươn vai ngáp vặt, đùa giỡn vô cớ, cùng chen lấn nhau. Hoặc thân tâm loạn động, khiến câu văn sai lạc, nghĩa lý mù mờ, không đạt diệu chỉ. Hoặc gặp chuyện xảy ra, bỏ ngang không chịu sao chép cho xong. Phải biết rằng hạng người này gọi là Bồ tát ma quỷ.”

Xem kinh hoặc chép kinh phải đúng pháp

Kinh Đại thừa liên hoa tạng nói: “Những kẻ giữ gìn giới luật nhà Phật, chẳng chăm lo bảo vệ thế hệ tương lai. Lại nói, ta đối với giáp pháp Đại thừa mịt mờ như đêm tăm tối, hay cho rằng ta đã hiểu trọn Phật pháp. Nhưng kẻ ấy sẽ chịu hình phạt khổ sở không thể nói hết ở địa ngục Giáo thép. Sau khi thoát khỏi, sẽ bị đui điếc ngọng câm, không được trông thấy Chánh pháp.”

Lại nữa, luận A nan thỉnh giới luật nói: “Các Tăng ni và cư sĩ đọc kinh luật luận. Nếu vừa đi vừa giở, không kính cẩn, sẽ mắc tội trọng, đọa vào Đường súc sinh làm hươu nai. Luôn luôn gầy gò ốm yếu khó chịu suốt hai ức năm, tính theo ngày tháng thật dài ở Trời Đao lợi. Nếu vô cớ đùa giỡn, chụp giựt kinh luật luận, cũng sẽ bị quả báo ấy. Nếu để kinh trước phòng ốc mái hiên, sẽ mắc tội trọng, đọa vào Đường súc sinh. Làm heo chó suốt hai ức năm, tính theo ngày tháng thật dài ở Trời Đao lợi. Khi được sinh làm người, suốt một ức năm, luôn luôn chịu cảnh ở đậu ăn nhờ, không được thoải mái.”

Thời hiện đại, nếu bạn muốn thí kinh thì chỉ nên đặt in rồi biếu tặng, công đức với viết tay chẳng hề sai khác. Còn như bạn vẫn một lòng muốn tự chép kinh, nhất định phải đọc bài viết này rồi hẵng đặt bút…

Ngài Đức Viên chép kinh Hoa Nghiêm

Ngài Đức Viên đời Tề, không biết thuộc tộc họ nào, người xứ Thiên Thủy. Thường lấy kinh Hoa Nghiêm làm sự nghiệp, thọ trì, đọc tụng nắm vững chỗ yếu diệu đến cùng cực. Sư sửa dọn một khu vườn sạch, trồng toàn cây cốc cây dó, cỏ thơm và xen lẫn các loại hoa tươi.

Mỗi lần vào vườn, đều tắm rửa, thân mặc áo sạch, tưới bằng nước thơm. Cây dó mọc được ba năm, mùi thơm sực nức. Lại tạo riêng tịnh thất, dùng chất bùn thơm tô vách, trát đất, kết đàn, bày đồ vật tinh sạch, tắm gội.

Nhà tắm có để sẵn áo dành riêng cho khi đi vệ sinh. Thợ đều phải trai giới, ra vào đều phải thay áo, súc miệng cho thơm tho. Lột vỏ cây dó, ngâm trong nước trầm cho sạch để làm giấy. Cả năm mới làm xong. Bèn đắp riêng một cái nền sạch, lại cất một ngôi thất mới. Từ đầu cho đến khi bắc kèo, lợp ngói, tắm rửa đều dùng nước thơm, mỗi việc đều nghiêm khiết.

Trong nhà, đặt một tòa vuông bằng gỗ bách khảm ngà, chung quanh xếp hương hoa, phía trên treo lọng báu. Lại treo các thứ ngọc có tiếng thanh tao, kết xen lẫn thành tua rủ xuống chung quanh. Dùng gỗ bạch đàn và tử trầm (gỗ trầm tía) làm án kinh và quản bút. Người chép kinh hằng ngày giữ trai giới, tắm gội bằng nước thơm ba lần. Đầu đội mão hoa, mặc áo sạch, chưng diện như người cõi trời.

Sự nghiêm khiết tuyệt bậc khi chép kinh

Lúc vào kinh thất, bèn đốt hương hai bên đường, có người xướng tụng dẫn đường đằng trước. Đức Viên cũng ăn mặc theo hình thức nghiêm tịnh như thế, cầm lư hương cung kính dẫn đường. Rải hoa cúng dường rồi mới biên chép.

Đức Viên quỳ xuống, vận tưởng, mắt nhìn chăm chú, dốc lòng. Vừa chép được mấy hàng, mỗi chữ đều phóng quang chiếu khắp cả viện. Mọi người đều thấy, không ai chẳng bi cảm, một lúc lâu sau mới hết. Lại có thần nhân cầm giáo hiện hình hộ vệ. Đức Viên và người chép kinh đều thấy, người khác không thấy được!

Lại có phạm đồng áo xanh, không biết từ đâu đến. Tay cầm hoa trời, chợt dâng lên cúng dường. Những chuyện linh cảm trước sau đều giống như vậy. Phải mất hai năm mới chép xong kinh. Đựng trong hộp thơm đặt trong trướng báu, cất trong tịnh đường. Mỗi lần đều đảnh lễ rồi mới chuyển đọc, hộp tỏa ra ánh sáng lạ.

Ngài chép kinh nghiêm khiết đến thế, lòng kính trọng tuyệt cổ siêu kim. Bộ kinh này được trao truyền đến nay qua năm đời. Có ai thanh tịnh chuyển đọc thì cũng có lúc hiện sự linh ứng rõ rệt như vậy. Bộ kinh ấy nay được thủ hộ cúng dường ở chỗ pháp sư Hiền Thủ chùa Tây Thái Nguyên.

Ngài Tu Đức chép kinh Hoa Nghiêm 

Ngài Tu Đức ở Trung Sơn, Định Châu vào đời Đường, không biết họ tên. Ngài tu khổ hạnh, tiết tháo thành tánh, tu hành nơi rừng núi. Kết nghiệp an tâm nơi kinh Hoa Nghiêm và luận Khởi Tín. Năm Vĩnh Huy thứ tư (653), phát tâm sao chép kinh. Vì thế, lập riêng một tịnh viện, trồng cây dó, trồng kèm các loại hoa thơm. Tưới bằng nước thơm, ba năm sau, tịnh khiết làm thành giấy.

Lại cất riêng một cái đài thanh tịnh, dựng nhà trên đó. Mời người viết chữ đẹp ở Vi Châu là Vương Cung, trai giới nơi biệt viện, tắm gội, mặc áo sạch, thắp hương, rải hoa. Lại treo các loại phan lọng lễ kinh sám hối rồi mới lên tòa viết. Hạ bút xuống bèn ngậm hương, nhấc bút lên mới thở ra. Mỗi ngày đều như thế.

Sư Tu Đức vào tịnh thất, vận tưởng. Mỗi lần chép xong một quyển bèn tặng mười xấp lụa mịn, một bộ tặng tổng cộng sáu trăm tấm lụa mịn. Ông Cung dốc kiệt lòng chí thành, đều chẳng nhận lấy. Vừa chép xong kinh, liền mất ngay. Do kinh đã hoàn thành, Tu Đức bèn mở trai hội ăn mừng. Đại chúng nhóm đến, Tu Đức đối trước Phật, đốt hương, rải hoa, phát hoằng thệ nguyện, rồi mới mở hộp đựng kinh. Khi ấy kinh tỏa ra quang minh lớn chiếu khắp hơn bảy mươi dặm, chiếu đến tận thành Định Châu. Dân chúng trong thành đều thấy. Đại chúng đến dự trai hội tại Trung Sơn đều gieo thân phủ phục, nghẹn ngào khóc lóc sám hối.

Chú thích:

Truyện này gần giống với sự tích ở phần trước. Đủ thấy cổ nhân đối với Tam Bảo đều kiệt thành tận kính. Hoàn toàn chẳng như người bây giờ coi thường, khinh nhờn, hữu danh vô thực! “Nâng bút, thở ra” có nghĩa là muốn ho hắng, hoặc muốn ngáp, đều ngừng bút một chút. Mặt hướng sang phía bên cạnh, thở hơi ra, chẳng dám để hơi thở xông vào kinh.

“Vừa chép kinh xong, ngay lập tức bèn mất” nghĩa là do chuyên tâm chép kinh, chẳng cầu danh lợi. Chí thành đến cùng cực, đến nỗi nghiệp tận tình không, liễu sanh thoát tử, cao đăng sen báu thượng phẩm, tự chứng địa vị Bất Thoái. Xem đây có thể biết Phật pháp chẳng cô phụ con người, nhưng Tăng, tục thời nay đa phần đều cô phụ Phật pháp. Biết làm sao được! Chuyện này gộp từ hai sách Huyền Ký.

Ngài Pháp Thành chép kinh Hoa Nghiêm

Sư Pháp Thành đời Đường, họ Phan, người huyện Vạn Niên thuộc Ung Châu. Xuất gia từ nhỏ, lấy việc tụng Hoa Nghiêm làm sự nghiệp. Do gặp Huệ Siêu thiền sư ẩn cư trong ngọn núi cao Lam Cốc, bèn vứt bỏ phiền hoặc, dốc lòng thành cầu học.

Về sau, Sư tạo Hoa Nghiêm Đường ở ngọn núi phía Nam chùa, trong ngoài đều trong sạch. Trang nghiêm xong xuôi, bèn vẽ cảnh bảy xứ chín hội. Lại dốc cạn lòng chí thành tinh chuyên, biên chép kinh Hoa Nghiêm.

Hoằng Văn học sĩ Trương Tịnh, là người chữ đẹp nổi tiếng tài hoa hãn hữu khi ấy. Sư bèn thỉnh đến sơn xá, bảo hãy thọ trai giới, khiết tịnh tự tu. Miệng ngậm nước thơm, thân mặc áo sạch. Trương Tịnh chép kinh lâu ngày, mỗi trang giấy đòi giá năm mươi đồng.

Sư Pháp Thành liệu trước, vừa chép hai trang, đã ứng trước năm trăm. Trương Tịnh được lợi, dốc sức chép. Cho đến hết bộ kinh, Pháp Thành hằng ngày đều thiêu hương cúng dường trước án. Trong khi vẽ vời, tâm duyên theo, mắt nhìn chăm chú, trọn chẳng sót chút nào. Do dốc lòng chăm chú, khi đó cảm được con chim lạ hình sắc hiếm có trong đời, bay vào trong nhà. Chim bay quanh quẩn cổ vũ, đáp xuống án kinh, rồi lại đậu lên lư hương, lặng lẽ đứng nhìn, tự nhiên như thân quen, một hồi lâu sau bay đi.

*

Năm sau, kinh chép xong, sắp sửa ăn mừng, chim lại bay tới, lẩn quẩn như trước, hót tiếng thánh thót. Năm đầu niên hiệu Trinh Quán (627). Sư vẽ hình ngàn vị Phật, chim lại bay tới, đậu trên lưng người thợ. Sau Sư mở trai hội, cúng mừng các kinh tượng. Trong ngày hôm ấy, Sư lấy làm lạ không thấy chim đến, nhìn lên đỉnh núi nói: “Chim đã không đến, ta thật không cảm được. Phải chăng hiềm vì có các uế hạnh nên mới có điềm này?” Nói xong, chim đột nhiên bay đến chao lượn kêu hót, đậu vào trong nước thơm, nhảy nhót tắm gội, rồi lại bay đi. Trước sau đều như thế, không cần phải nhắc lại.

Trương Tịnh khéo tài bút mực, nên được trong làng đề cử, các bài kinh kệ được khắc trên vách núi bên đường đều do ông ta viết. Ông chép kinh Pháp Hoa ở ngay nơi đất trống. Nhân có chuyện phải đi nơi khác, chưa kịp đem cất. Bỗng trời mưa to như trút, khe, suối đều ngập tràn. Khi ông về chạy đến xem thì thấy cả án kinh đều khô ráo, còn những thứ khác đều ướt đẫm. Ông từng tựa vào cây tùng mọc ngang, bị té xuống dòng suối chảy xiết. Nhưng chưa trôi đến khe nước bên dưới, bất giác đã lên được bờ cao, chẳng tổn hại một mảy lông.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *