NIỆM PHẬT A DI ĐÀ ĐƯỢC CẢM ỨNG

Niệm Phật, cuối cùng thì bạn cũng đã đến đây! Cuối cùng thì bạn cũng đã bắt đầu khởi tâm tìm đường về “nhà”, sau biết bao nhiêu trầm luân, khổ hải của kiếp nhân sinh. Hết thảy những ai tìm đến niệm Phật, cũng đều là bởi một trong những nguyên nhân sau đây, có phải bạn cũng thế hay không?

Niệm Phật

  • Nghèo khó, gia đình suy vi khổ lụy, vợ con nay yếu mai đau, cửa nhà thiếu trước hụt sau.
  • Bệnh nặng lâm thân, mà thuốc thang dây đưa không khỏi, mạng sống mong manh sớm tối.
  • Cuộc sống bế tắc, gia đình bất hòa, anh em hoặc vợ chồng chẳng thuận, con cái ngỗ nghịch.
  • Luôn gặp xủi xẻo, làm gì cũng bại, long đong lận đận, công danh sự nghiệp chẳng thành.
  • Có người thân hoặc chính mình bị vong hoặc ma quỷ gá nhập, quấy nhiễu không yên.
  • Thấy cuộc sống trống rỗng, vô nghĩa, không mục đích, lạc lõng chẳng biết sống để làm gì.
  • Ham thích thần thông, phép lạ hoặc những chuyện nhân quả báo ứng, chuyện luân hồi.
  • Chán cuộc sống bon chen đời thường, thích tĩnh lặng và tìm lối thoát khỏi sinh tử luân hồi…

PHẦN 1: NHỮNG CÂU CHUYỆN CÓ THẬT VỀ SỰ NHIỆM MẦU CỦA NIỆM PHẬT

Trước khi tìm hiểu về niệm Phật, bạn hãy đọc những câu chuyện nhân quả có thật dưới đây, để hình dung ra sự nhiệm mầu của niệm Phật và tai sao chúng ta lại nên niệm Phật.

1. KHỎI UNG THƯ NHỜ PHẬT PHÁP

Ai từng đọc cuốn “Niệm Phật chuyển hóa tế bào ung thư”, đều biết đến sự nhiệm mầu của Phật pháp. Dưới đây là câu chuyện khác của một bằng hữu học Phật, chúng ta hay nghe cô tự thuật:

MỘT CHÂN NƠI CỬA TỬ

Tháng 9 năm 2006 là thời gian đau khổ nhất của cuộc đời tôi, do thân thể trưởng kỳ bịnh đau, tôi tới y viện kiểm tra, mới hay mình bị ung thư vú ác tính thời kỳ cuối, mức độ cực nặng. Đối diện với sự thực phũ phàng này, tôi cảm thấy vô cùng tuyệt vọng, bơ vơ, phẫn nộ… tinh thần hầu như suy sụp. Đã trăm ngàn lần tôi tự vấn mình: “Vì sao tôi có thể bịnh như vậy?”… Tôi cho rằng mình vốn thiện lương, thực thà. Trong mắt mọi người, tôi là một phụ nữ rất đức hạnh, và phẩm chất tốt đó luôn được công nhận! Nhưng vì sao đến tuổi trung niên tôi lại nhận được tờ giấy chẩn bịnh giống như “tuyên án tử” thế này? Từng ngày qua, tôi càng đến gần cõi chết hơn. Muốn sống còn, tôi phải phẫu thuật. Sau khi mổ xong, thì nếm tiếp nỗi khổ trị hóa chất…

Người bịnh ung thư, phải trị bằng hóa chất thống khổ vô cùng, khổ như địa ngục trần gian, về tâm lý tôi có thể tiếp nhận, nhưng xác thân thì rất khó kham, bởi chịu không thấu cơn đau giày vò, do muốn hồi phục sức khỏe nên tôi ráng sức đấu tranh cùng số mạng…Bản thân tôi trên có mẹ già hơn 80, dưới còn con thơ dại, tất cả đều cần tôi. Tôi có bổn phận phải chăm sóc, cưu mang… nhưng đối diện với bịnh trạng của mình, tôi thực không còn đủ dũng khí để sống. Tôi giống như chiếc xe hư bị đứt thắng, rơi vào vực thẳm tối tăm, vỡ nát, chẳng còn chi…Trong thời kỳ xạ trị, tôi nằm tại Khoa ung bướu, chứng kiến đủ cảnh, đủ hạng người: cho dù bạn có quyền uy từng khuynh đảo một thời, cho dù bạn giàu sang một cõi, hễ đã vào đây rồi, thì quyền thế và tiền bạc đều trở nên vô nghĩa, vì đâu mua được mạng sống? Mà mạng sống trong giây phút này lại giống như hạt sương mai trên đầu cỏ, tuy có đấy, nhưng chốc lát sẽ tiêu tan, chẳng còn tung tích…Hôm nay mới thấy bạn bè bịnh đó, ngày mai đã âm dương đôi ngã…Tiến hành trị liệu trong bịnh viện bây giờ xem như là để… cầm chân tử thần đến… chậm một chút, nhưng cuối cùng rồi cũng phải vong thân!…Tôi chưa bao giờ nghĩ là mình sẽ bị ung thư, cũng chưa bao giờ đến gần hay quan sát những người bịnh khổ trên thế gian, niềm đau sinh ly tử biệt quả thực khó bứt, khó rời…

Tôi hỏi bác sĩ:

– Mạng sống tôi còn kéo dài bao lâu?

Tôi biết mình phải chết, chắc chắn không nghi, thế nên rất tuyệt vọng, vì không thể cầu ai giúp, đành lặng nuốt thống khổ vào tim và càng thêm suy sụp…Tôi bắt đầu mất ngủ, tay chân ra mồ hôi, tâm hoang mang. Suốt ngày mặt đầy nước mắt, khóc đến không thành tiếng…

Một ngày nọ tại bịnh viện tôi bỗng nghe hát bài “Đôi Cánh Vô Hình” của tác giả Trương Thiếu Hàm. Trong lời ca có mấy câu: “Tôi biết mình có đôi cánh vô hình, đưa tôi bay cao, ra khỏi tuyệt vọng”…Vừa nghe đến đây những buồn đau tôi ráng kềm nén bấy lâu giờ không kềm được, đồng tuôn trào như hỏa diệm sơn… Tôi bật khóc, khóc cho số mệnh khốn khổ của mình, khóc vì mình không bảo vệ sức khỏe tốt, để bây giờ đối với mẹ già thành ra bất hiếu, đối với con thơ chẳng thể làm từ mẫu, đối với chồng không tròn phận vợ hiền mà còn làm liên lụy, khiến anh phải lo lắng, thân tâm tiều tụy, mỏi mệt cực độ… thật là bất nhân với phu quân! Tôi không biết “đôi cánh đưa tôi bay cao ra khỏi tuyệt vọng” hiện đang ờ đâu? Tôi giờ đây không chỗ bấu víu, đang rất bàng hoàng, hoảng loạn… cảm giác mình sống không bằng chết, nhưng chết? – Lại không cam tâm!

Trải qua nửa năm trị bằng hóa chất, tôi tiếp nhận được cái y học gọi là “xạ trị kết thúc!”. Bác sĩ bảo tôi phải thường xuyên kiểm tra, để phát hiện và giải quyết kịp thời…Tôi biết mình đã được xếp vào danh sách bất trị, không còn cơ may sống sót, nếu có thay đổi chăng thì chỉ là… đổi thuốc mới mà thôi! Tôi cứ đều đều vô hóa chất cho đến khi lìa đời! Sinh mạng tôi bây giờ tùy thuộc vào hóa chất. Hễ ngưng vô hóa chất là mạng sống cũng kết liễu luôn. Vì muốn sống còn, hằng ngày trời chưa sáng tôi đã thức dậy ra ngoài luyện khí công. Mỗi ngày tập bốn tiếng. Vào mùa hạ thời tiết oi bức, lại do trị hóa chất nên tóc tôi rụng hết, phải đội tóc giả trên đầu, bị nóng hầm hập nên mồ hôi tuôn chảy đầy, nhằm tiết Tam phục khí trời càng nóng gắt, khiến y phục ẩm uớt dính vào thân, giữa công viên tôi thấy mình giống hệt con lừa bị hành hạ đi vòng vòng… Bao ý niệm bi phẫn uất ức, tuyệt vọng… từ đáy lòng trào dâng, khiến tôi đau tận xương tủy, lệ tuôn đầm đìa như mưa.

GẶP PHẬT PHÁP NƠI TUYỆT LỘ

Tháng 6 năm 2007, Kim nữ cư sĩ là người bạn đạo tâm đầu ý hợp xuất hiện trong cuộc đời tôi. Chị là một Phật tử niệm Phật thuần thành, thiện lương, trung hậu, cư xử rất tốt với người. Khi biết rõ hoàn cảnh tôi rồi, chị luôn động viên giúp đỡ, đem tới cho tôi xem rất nhiều loại sách Phật (chỉ bày phương pháp cứu vãn mệnh sống), trong đây gieo ảnh hưởng cho tôi sâu nhất là hai cuốn: “Liễu Phàm Tứ Huấn” và “Sống là tự mình nỗ lực từng chút một”…

Mặc dù tôi ưa triết học, nhưng chỉ khoái sách tri thức học vấn, còn đối với ba cái tín ngưỡng, tôi hoàn toàn không tin, khó chấp nhận… nói chi đến thọ trì? Thậm chí tôi còn bài xích, cho đó là những luận thuyết ngu si, thiếu hiểu biết, mê tín!…Nhưng sau khi xem các chuyện trong sách xong, tôi cảm động sâu sắc, lúc này bản thân tôi từ một kẻ vô thần, vô tín ngưỡng, đã bắt đầu tin Phật, niệm Phật. Nhưng thú thực là mục đích tin Phật vào lúc này chỉ bắt nguồn từ khát vọng muốn được sống mà thôi. Nhờ Kim cư sĩ hướng dẫn đốc thúc, tôi bắt đầu tụng “Kinh Địa Tạng” mỗi ngày một bộ, nhưng do tâm tôi, niệm niệm ào ạt dấy khởi như sóng cồn, nên chị bày tôi tụng “Kinh Kim Cang” và dẫn tôi đi phóng sinh, bái sám.

Thành thật mà nói, giai đoạn này tôi dốc sức tạo công đức, vì nghĩ rằng “tu phúc có thể kéo dài mạng sống”. Theo tư duy đó, nên mặc dù có tụng “Kinh Kim Cang”, nhưng lắm lúc tôi cảm thấy thấu phá chẳng nổi, buông không xong, phiền não chẳng ngừng. Chớp mắt hạ đi đông đến, thời tiết lạnh lẽo bắt đầu. Nghe tin các đồng bạn bịnh nặng liên tục tạ thế, hoặc từng ca bịnh phải chuyển đi và bịnh càng hoành hành bộc phát theo mùa đông giá rét… khiến lòng tôi thêm tê tái, suy sụp đến cực điểm… tôi như đang rơi xuống tận đáy vực tuyệt vọng…Trước mùa xuân 2008, nhìn thấy tình hình bế tắc của tôi, chị Kim nói:

– Nếu bạn có thể gặp được cư sĩ Quả Khanh thì tốt quá!

Nhưng biết tìm ông ở đâu và đi đâu để gặp được ông bây giờ? Tôi cho rằng mình là kẻ phúc mỏng mệnh bạc, không có được cái may mắn ấy.

Từ hôm đó trở đi, Kim cư sĩ ngày ngày ở trước tượng Phật nhà chị (vì tôi mà lễ bái), hằng ngày chị lễ trăm lạy, bái đến mồ hôi và nước mắt rơi đầy mặt. Thành tâm ắt được, có thể khiến cho vàng đá cũng phải nứt…Nhờ chị thành tâm cầu nguyện mà cảm được duyên lành xảy đến…Tôi may mắn quen được Hải Ba (nhân vật được nhắc đến trong sách Báo ứng Hiện Đời tập 1-2) là bạn của lão cư sĩ Quả Khanh, Hải Ba hứa ngày mồng 5 tháng giêng sẽ dẫn tôi đi gặp cư sĩ Quả Khanh. Lúc này con Hải Ba đang bịnh, nhưng chị không cố thời gian để chăm sóc bé vì mắc dẫn tôi đi. Hải ba có đôi mắt to, đen, sáng đẹp vô cùng. Cốt cách thanh cao như tiên, cư xử lại dịu dàng thuần phác… Tôi rất mang ân sự chân thành tốt bụng của chị. Chị là người bạn cực kỳ quý giá của tôi (Ngay đây tôi xin gởi đến chị lời chúc lành, cầu chị cả đời bỉnh an hạnh phúc!)…Vừa gặp cư sĩ Quả Khanh tôi đã bị phẩm đức tu hành vá tính cách thanh cao, chính trực, thiện lương, khiêm hòa, không tham tiền tài vật chất của ông… làm cho cảm động, ông ân cần nhắc nhở tôi phải luôn lấy giới làm thầy, ôn nhu giải thích cho tôi hiểu ngũ giới Phật chế là như thế nào, niệm Phật là thế nào và chỉ cách thọ trì “Kinh Địa Tạng” ra sao. Ông giúp tôi chấn chỉnh lại những thấy biết lệch lạc sai lầm, khiến tôi thu được rất nhiều lợi ích. Ngay đó tôi liền phát thệ: “Bắt đầu từ nay trở đi vĩnh viễn từ bỏ ăn mặn, hoàn toàn trường trai, dứt khoát không tạo sát nghiệp nữa”. Khi tôi về nhà rồi, hôm sau, lúc 8 giờ tối cư sĩ Quả Khanh gọi điện đến, bảo:

– Chị có muốn biết nguyên nhân mình bịnh là do đâu chăng?

– Dạ muốn! Muốn quá đi chứ!…

Tôi cuống quýt hồi đáp, không kịp chờ ông dứt câu. Tôi nghĩ nhất định ông sẽ nói là “kiếp trước do tôi tạo nghiệp sát sinh hay tội gì tương tự vậy nên ngày nay mới bị ác báo, phải đoản mệnh như thế này”…Tim tôi hồi hộp, đập thình thịch… vì chờ nghe ông trả lời. Nhưng trái với dự đoán của tôi, đáp án của ông thật bất ngờ, hoàn toàn ngoài sức tượng!… Qua điện thoại, giáo sư dịu dàng hỏi:

– Cô nghĩ kỹ xem, sau khi kết hôn có làm gi vượt quá giới hạn cùng người khác phái chăng?

Nghe ông hỏi vậy tôi muốn té ngửa. Lúc đó tôi im lặng nhưng tận đáy lòng rất muốn hét to như thế này: -“ôi trời ơi! Giáo sư! Ngài đừng đổ oan cho con! Con là gái nhà lành, là con nhà gia giáo đàng hoàng, trong đời con chỉ yêu có một lần, và chỉ có một mối tình duy nhất dành cho người mà con kết hôn, đó là phu quân con mà thôi! Con đã dành hết tình cảm thuần khiết cho ảnh… Con thực sự chẳng có cái chuyện ‘‘tình một đêm” thậm chí chẳng bao giờ ngoại tình, thế thì làm sao ngài có thể nói là… con bị bịnh vì cái nguyên nhân kỳ cục này chứ hả?”…Không nghe tiếng tôi trả lời, giáo sư nghiêm túc khẳng định:

– Cô bị bịnh đích thực là do… tà dâm mà ra! Nếu như cô chịu tha thiết sám hối, bịnh cô sẽ lành!

Giáo sư vẫn kiên nhẫn chờ tôi trả lời. Tôi ráng hồi tưởng lại quá khứ… từng chút một. Đột nhiên tôi nhớ ra, liền nói:

– À! Sau khi kết hôn, đi hưởng tuần trăng mật xong về, thì cơ quan đề nghị cấp nhà cho. Vị lãnh đạo quản lý nhà bảo tôi đi một chuyến để bàn việc này…

Khi tôi đến nơi, hai chúng tôi trò chuyện cả tiếng đồng hồ, không có nói gì khác ngoài công việc và học vấn… thấy trời đã tối, tôi định về nhà thì đột nhiên ông ta ôm chầm lẩy tồi và nói là rất thương tôi”… Chúng tôi chỉ ôm nhau một lát, tuyệt không làm gì vượt quá giới hạn…Giáo sư nghe xong bảo:

– Đây chính là nguyên nhân căn bịnh của cô. Mặc dù thực tế không có vấn đề gì phát sinh, nhưng trong tâm cô hoàn toàn không cự tuyệt, sau đó lòng cô thường khởi tà niệm, có… dâm niệm! Trong “Kinh Địa Tạng” từng thuyết: “Chúng sinh ở cõi diêm phù đề, khởi tâm động niệm không gì mà không tạo nghiệp, không gì mà không là tội”…

Buông điện thoại xuống, nước mắt tôi ướt đẫm mặt mày, tôi khóc chẳng thành lời. Tôi đã trăm ngàn lần hỏi trời xanh, vì sao tôi bị bịnh như vậy? Thì hôm nay, giáo sư đã cho tôi đáp án chính xác! Từ hôm ấy trở đi, tôi tiến vào giai đoạn học Phật chân chính chưa từng có. Bắt đầu từ ý không tin Phật cho đến vì muốn sống còn, muốn được lợi mà tôi tin Phật. Sau khi được gặp cư sĩ Quả Khanh rồi, thì tôi chỉ thành giữ giới cấm, tha thiết tu hành, có thể nói đây là chuyền biến lớn nhất của đời tôi. Tôi thật may mắn vì trong lúc mê mờ rối ren, đã được gặp một thiện tri thức có lực tu sâu và rất đạo đức, đặc biệt là mấy cuốn “Báo ứng Hiện Đời”, “Mạn đàm từ bi” và “Niết Bàn bảo sám”, đã như tiếng sấm vang khai thông cái lỗ tai điếc tịt của tôi. Đã giúp tôi chuyển đổi đời sống, thay đổi cái nhìn và quan niệm không tốt đối với Phật giáo. Hai cuốn sách này tôi đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần, rồi y cứ theo đó mà thực hành, sửa mình, tu tập…

Đầu tiên tôi đối với những ác nghiệp đã tạo của bản thân, tiến hành sám hổi…kiểm tra các lỗi từ “sát, đạo, dâm, vọng, tửu, tham, sân si, mạn, nghi, hiếu để, lễ, nghĩa, tín”… tôi bắt đầu mỗi ngày sám hối một loại tội (tính từ ấu thơ cho đến bây giờ). Tôi hồi tưởng, kiểm lại mọi việc lớn nhỏ, hễ thấy việc gì sai, có lỗi, thì lo sám hối và điều này đã dưỡng thành thói quen tốt hằng tự kiểm phản tỉnh mỗi ngày… Tôi thống thiết sửa đổi, chân thành sám hối, sau đó chiếu theo khai thị trong “Mạn đàm từ bi và Niết Bản bảo sám” mà thọ trì “Kinh Địa Tạng”, nghiêm trì ngũ giới, dứt tuyệt ăn mặn.

Kết quả, tôi đã sống lại. Không những thế, tâm tôi bình an, có thể đối diện trực tiếp với hiện thực tàn khốc, có thể thản nhiên đón nhận mọi khổ đau ập đến mà không chút lời oán trời trách người. Tồi đã có thể bình tĩnh đối diện với sống và chết, từ trong tuyệt vọng mà tìm ra hi vọng, và cho dù ở trong địa ngục vẫn có thể mơ đến thiên đường…Phật pháp chính là diệu pháp, đã chắp cho tôi đôi cánh, giúp tôi bay lên cao, ra khỏi vực thẳm tuyệt vọng, đi đến miền hạnh phúc…Tôi xin cảm tạ chư Phật bồ tát, cảm tạ tất cả những thiện hữu đã nhọc nhằn tâm lực, công sức vì tôi.

Bây giờ dù ôn hay kể lại niềm thống khổ, thì cũng đau như mồ xẻ, khơi lại vết thương vừa mới liền da. Nhưng tôi mong rằng, những chị em hữu duyên nào khi đọc đến bài viết này, bất kể là có tin Phật hay không (bạn tin cũng được mà không tin cũng được)  chỉ cần bạn biết tự thanh tịnh tâm ý mình, tốt nhất là nên từ bỏ đồ mặn và ăn chay trường, mức thấp nhất là bạn phải làm một người hoàn toàn không giết hại bất kỳ mạng sống nào! Không làm bất kỳ việc phi lễ, phi pháp nào! Thế giới này đích thật là lưới trời lồng lộng, tuy thưa nhưng chẳng lọt được thứ chi. Nhân quả không phải để cho bạn đùa bỡn giễu cợt hay quyết định… Nếu như bạn phạm lỗi thì phải lo mà sám hối cho kịp, càng chẳng nên nghĩ tường hồ đồ, nói sai hành bậy… mà chiêu ác báo vào thân. Vì tôi từ trong địa ngục nhân gian đi ra, nên tôi thấm thía nó khổ ra sao, đau thế nào!…Nếu như đọc câu chuyện của tôi xong mà bạn có tỉnh giác và thu được lợi ích, thì chứng bịnh này của tôi quả không uổng phí…

Tôi hi vọng mình là người thọ báo cuối cùng trong địa ngục, càng hi vọng cửa địa ngục sẽ đóng lại phía sau lưng tôi. Mong các chị em phụ nữ thân yêu của tôi, dù sống trong xã hội vật chất dục vọng tràn lan này, vẫn luôn giữ gìn được cho mình một trái tim thiện lương, thuần khiết, vô nhiễm… vì đó chính là đôi cánh giúp bạn bay qua miền hạnh phúc, đi tới thiên đường…

Từ tôi bị bịnh đến nay đã hai năm, mỗi lần đến bịnh viện kiểm tra, kết quả luôn bình thường. Cảm tạ Phật lực gia trì, đã giúp tôi có được kết quả tốt như hôm nay. Trong nỗi mừng vui cực độ, tôi đã đem những điều tâm đắc, những ích lợi thu được trên con đường học Phật, chia sẻ cùng các bạn đồng bịnh. Những ai nghe mà tin nhận, chịu ăn chay, trì giới sám hối… thì bịnh của họ đều chuyển tốt đến không ngờ. Còn bạn bịnh nào đối việc này chê cười giễu cợt, thì lòng tôi thật buồn tiếc, vì họ đã đánh mất cơ may tự cứu… bởi bịnh tình họ ngày càng phát nặng, vô phương xoay chuyển…

Tôi tin sâu rằng, những người bị bịnh ung thư chỉ cần y pháp tu hành, hoặc niệm Phật hoặc tụng kinh, thì mạng sống nhất định sẽ xuất hiện kỳ tích. Xin nguyện cho những người bịnh hoạn khổ đau trong thiên hạ, biết dùng Phật pháp cứu mình ra khỏi hiểm địa.

Xin đem thực tâm, thành tâm, nguyện tâm, gieo rắc hạt giống thiện, hầu giúp mọi người đỗi mới sinh mạng, tái tạo hạnh phúc. Tôi tin: tôi có thể lảm được, thì bạn cũng làm được!  (Nhân quả báo ứng hiện đời – Hạnh Doan)

2. NIỆM PHẬT THAY ĐỔI SỐ PHẬN

Phóng quang tiếp dẫn chúng sinh

Ngôi nhà nhỏ hai tầng lầu của cư sĩ Chân Minh vừa khánh thành trong tiếng pháo nổ giòn tan, vợ chồng Chân Minh hân hoan dìu cha mẹ già 80 tuổi vào nhà mới. Chiều hôm đó, họ đãi tiệc nhỏ (gồm trà nước hoa quả bánh trái) cho các láng giềng thân thuộc đến chúc mừng tân gia. Tòa kiến trúc hai tầng của họ là ngôi nhà lầu đầu tiên trong thôn nên được mọi người đặc biệt chú ý, nhất là cách đây ba năm, gia đình họ còn thuộc hạng nghèo nhất trong làng, nghèo đến cái nhà bếp cũng không có. Bếp của họ được vừng bằng hai manh chiếu rách với bốn cọc cây chống đỡ. Mưa xuống là cái hỏa lò (được tạo hình bằng ba viên gạch mẻ) bị ướt nhẹp…

Cả nhà họ, trên có phụ mẫu, dưới có bốn con, gánh nặng gia đình trút cả vào vai nàng dâu (vợ của Chân Minh). Vậy thì Chân Minh ở đâu? Đi đâu mà trốn trách nhiệm vậy?…

Chuyện này phải kể từ lúc chính phủ bắt đầu cải cách, lúc đó Chân Minh đem ruộng đất giao cho người nhà quản, còn bản thân thì làm Giám đốc Công ty Bao bì. Mới đầu tuy làm quần quật nhưng anh cũng gánh vác được. Sau đó vì muốn kiếm thêm tiền, làm ăn lớn, nên anh hướng ngân hàng vay hai mươi vạn. Thấy cơ sở anh có thể ăn nên làm ra, ngân hàng bèn chấp nhận cho vay. Có tiền, Chân Minh bèn tìm bạn hợp tác, không lâu thì bị những người gọi là “bạn chí thân” này phản, họ “cuỗm” trọn gói tiền trốn mất. Lúc này Chân Minh khó bề trụ vững, bị ngân hàng đòi nợ, tòa án gửi trát đến tận nhà… Chân Minh cùng đường vô kế khả thi, chỉ còn nước đánh bài “chuồn”, vội chạy đến nương tựa người bạn thân là Đan Lương ở huyện H.

NIỆM PHẬT – QUÁ NGHÈO NÊN TÌM VỀ NƯƠNG TỰA NƠI PHẬT PHÁP

Lúc này Đan Lương đang định đến thành phố T. để tìm tôi, vì biết tôi đang bái một vị cao Tăng ở đó làm thầy, tất nhiên Đan Lương không bỏ qua duyên lành này, bèn dẫn theo anh bạn giám đốc sa cơ (đang lao đao hồn phách là Chân Minh) theo cùng, nhờ tôi đưa họ đến bái kiến Hòa thượng Diệu Pháp luôn. Duyên số đúng là không thề nghĩ, Chân Minh do bị bạn phản ôm hết tiền trốn mất, nhờ vậy mà trở thành đệ tử Hòa thượng Diệu Pháp.

Khi về đến nhà Đan Lương, Chân Minh không dám trú lại đây, vì nghe tin Viện Kiểm sát đang phái người tìm đến dò la hành tung mình. Thế là anh đành náu thân tại một vùng đất hẻo lánh, ngụ trong chòi hoang, trông coi địa khu này. Đan Lương mỗi ngày thăm nuôi một lần. Do ở đây không có người vãng lai, nên đặc biệt thanh tịnh yên tĩnh. Chân Minh ở đây suốt tám tháng ròng, tám tháng này trừ ngủ nghĩ và ngồi thiền ra, anh lo học thuộc và chuyên tụng chú Lăng Nghiêm, sống giống hệt như cảnh người xuất gia bế quan nhập thất: lo ăn chay, niệm Phật, tụng chú Lăng Nghiêm (dưới sự hướng dẫn theo dõi của Hòa thượng Diệu Pháp). Tối đến không có đèn điện, kể cả đèn dầu cũng không thắp.

Lúc anh tập ngòi xếp bằng, do đã hơn 40 tuổi, lại thêm chân to, bụng bự, nên tập khoanh đùi rất khó khăn, do chẳng làm được, nên rất phiền não. Một đêm nọ, anh đang vất vả tập ngồi xếp hằng, bỗng thấy một Hòa thượng mập mạp ngồi đối diện với anh, dạy anh cách tĩnh tọa làm sao… và bảo:

– Ngươi quá béo, có thể tập ngồi giống như ta nè!

Thế là anh bắt chước làm y theo Hòa thượng mập, đem đùi phải đặt ở trên và đùi trái khoanh lại ở dưới. Hai tay úp xuống, buông thả tự nhiên trên hai đùi, hai mắt khép nhẹ…“Ồ! Bóng đêm đã biến thành bầu trời xanh lam, chung quanh mênh mông, im vắng, không một âm thanh… mình đang ở đâu nhỉ? Sao không nhìn thấy thân thể mình nữa cà? Nhưng mình vẫn còn tư tưởng, hỏng lẽ… mình chết rồi ư?” Trong lòng có chút căng thẳng Chân Minh vội mở mắt ra, trời đã mờ mờ sáng, anh thấy rõ ràng mình vẫn đang còn ngồi, nhưng Hòa thượng mập thì chẳng thấy đâu cả… “Mình chẳng phải đang mơ ư?”… Chân Minh ngó xuống, kiểm lại, thấy chân mình vẫn xếp bằng hệt như tư thế Hòa thượng mập đã chỉ dạy.

“Mình không mơ mà, thế sao trời đã sáng?… Đúng là trời tối không lâu thì mình bắt đầu ngồi tĩnh tọa, sau đó có ông Hòa thượng mập đến dạy mình ngồi, chỉ mới một chút thôi mà?… Nhưng giờ trời đã sáng? Hỏng lẽ… mình… ngồi suốt cả đêm ư? Nhưng tinh thần mình rất tỉnh táo, rất tốt mà?”…Sáng hôm đó Chân Minh suy nghĩ miên man, thắc mắc mãi, cho tới khi Đan Lương đem cơm đến, anh hấp tấp kể lại câu chuyện đêm qua. Đan Lương nói:

– Vùng này không có Hòa thượng nào giống như anh tả cả!

Trưa hôm sau Đan Lương đem cơm đến, còn mang theo các hình Phật cho Chân Minh xem. Chân Minh vừa nhìn, liền nhận ra ảnh vị Phật ngồi nơi hàng đầu, reo lên:

– Đúng rồi, tướng mạo giống y như Hòa thượng này nè, đêm qua “ổng” đã dạy tôi ngồi hệt như vậy đó.

Đan Lương bảo Chân Minh:

– Vị này là Bồ tát Di Lặc, sẽ là Phật trong tương lai nên còn gọi là Phật Di Lặc. Anh tu công phu không nhỏ, mới có thể cảm được Phật Di Lặc đến dạy như thế… Trong tương lai nhất định anh sẽ thành tựu đó. Chân Minh sực nhớ đêm qua Phật Di Lặc kêu mình là Hằng Vân, còn nói đó là pháp danh… Anh hỏi bạn:

– Vậy pháp danh là sao?

Đan Lương giải thích:

– Pháp danh là tên đặt cho đệ tử quy y Phật, cũng có lẽ đời trước anh từng là người xuất gia, vi anh tĩnh tọa rất giỏi mà. Sớm muộn gì rồi sẽ có ngày anh hiểu rõ hết thôi!

Mấy tháng sau đó, Chân Minh mỗi khi tĩnh tọa thấy xuất hiện đủ cảnh giới, trong đây không thề ghi kỹ (nhưng anh không hề chấp trước, tự cao, luôn nhớ rõ “Kinh Lăng Nghiêm” đã dạy: “Nếu cho mình chứng thánh ắt sẽ lạc tà”…

NIỆM PHẬT – CHUYỂN NGHÈO THÀNH GIÀU

Mãn tám tháng, Đan Lương báo tin: Hiện có một giám đốc công ty vận tải, cần tuyển một người có thể trường kỳ trú ở Sơn Tây đảm nhận công tác phân phối than. Lương mỗi tháng một ngàn, thế là Chân Minh tức tốc đi nhận việc. Một ngàn này đối với anh mà nói, đúng là “buồn ngủ gặp chiếu manh”, là dịp may cho người gặp nạn, vì anh có thể dùng để phụ giúp gia đình. Chân Minh vốn là người con đại hiếu, tám tháng nay anh chưa hiếu kính song thân được một xu nào, nếu như chẳng phải Hòa thượng Diệu Pháp khuyên anh “vạn duyên buông hết”, dốc tâm học thuộc chú Lăng Nghiêm, thì trong lòng anh vẫn còn đầy ưu tư phiền muộn.

Chớp mắt đã ba năm trôi qua, suốt ba năm này Chân Minh công tác đều đặn, cứ cách ba, bốn ngày anh lo điều xe, kiểm tra máy móc, tải hàng đến chủ nhận phí vận chuyền, chỉ cần than có chất lượng tốt là đủ rồi. Ngoài ăn ngày ba bữa ra, thời gian rảnh còn lại anh toàn ngồi “kiều Di Lặc”, và luôn tụng nhuần nhuyễn chú Lăng Nghiêm. Hòa thượng Diệu Pháp buộc anh bình thường mỗi ngày phải tụng bốn, năm mươi biến. Tối đến anh tĩnh tọa, một lần ngồi mấy tiếng…Ngày nọ, người chủ báo tin cho Chân Minh hay là giữa ông và hãng xưởng phát sinh mâu thuẫn, nên bên họ chẳng kêu ông chở hàng nữa và bảo Chân Minh hãy đi đến xưởng tính sổ, sau đó hợp đồng làm ăn giữa họ kết thúc. Nào ngờ khi chủ xưởng gặp Chân Minh, ông ta ngỏ ý muốn làm việc cùng anh và mời anh tiếp tục cung ứng hàng cho xưởng. Chân Minh vội kể bản thân mình không có vốn… nhưng chủ xưởng nói chỉ cần anh bảo đảm chất lượng than, thì mỗi tháng họ sẽ trả lương cho anh. Thực lòng Chân Minh rất muốn hợp tác, bởi xưởng cần người tin cậy để làm ăn, họ lại tín nhiệm anh. Chân Minh dù không có chút vốn, song lại có thể bắt tay làm việc rất suôn sẻ với người (không phải ai hành nghề này cũng gặp may như anh) do Chân Minh tốt tính, thật thà, anh siêng năng làm việc nhưng phó thác tất cả cho công phu tu trì và sự gia hộ của chư Phật. Trong kinh Lăng Nghiêm từng thuyết: “Mười phương Như Lai tùy theo tâm chú này, khéo ở mười phương, cứu độ các khổ, nên các khổ địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, mù điếc, câm, oán tắng hội khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thịnh khổ, các nạn tai lớn nhỏ, đói khát bần cùng, nhờ tụng Kinh này mà tiêu tan… Mười phương Như Lai luôn hộ vệ người tu trì khiến họ trong tứ uy nghi, được mọi sự cung ứng như ý”…Thời gian trôi qua, khi Chân Minh có được chi phiếu 20 vạn, thì anh liền đến ngân hàng ngỏ ý xin trả nợ, nhân viên ngân hàng cảm kích, mời anh dùng nước, xúc động nói:

– Số tiền lớn anh vay, chúng tôi cứ ngỡ đã mất trắng, nào ngờ anh còn tìm tới giao trả, thật cảm ơn quá!

Chân Minh thưa: Hiện giờ tôi chỉ có thể hoàn vốn, còn phần lãi tức thì sẽ trả sau. Tôi không thể để quốc gia bị thiệt thòi, xin ngân hàng hãy gia hạn thư thả, cho tôi một thời gian nữa…

Nhân viên ngân hàng vội nói:

– Ồ! Được! Được mà!

Chân Minh từ lúc qui y Hòa thượng Diệu Pháp rồi, thì vợ, con và cha mẹ anh cũng đều ăn chay niệm Phật theo. Xưa nay giữa mẹ chồng nàng dâu quan hệ không tốt, nhờ đây mà được cải thiện rất nhiều.

Vợ Chân Minh tâm sự với tôi:

– Từ khi hiểu Phật pháp rồi, những lúc mẹ chồng làm tôi nổi giận, thì tôi không còn cự cãi với bà nữa, mà âm thầm đạp xe ra đồng, lặng ngắm gió vờn sóng lúa… những bực bội trong lòng cũng theo đó tiêu tan… Mỗi lần Chân Minh từ Sơn Tây gọi điện về, anh luôn nhắc tôi phải nhớ niệm Phật siêng năng, còn kể là anh dụng công tu trì rất miên mật…

Vợ Chân Minh nói tiếp:

– Tự hồi biết tu niệm, dù đạp xe hay công tác cấy cày… có làm gì thì trong tâm tôi lúc nào cũng niệm: “Nam mô A Di Đà Phật!” Hễ tan việc, về nhà, đi trên đường tôi vẫn: “Nam mô A Di Đà Phật!” Lúc chung quanh không có ai, thì tôi còn niệm lớn lên, trong lòng thiệt là an tĩnh sướng khoái… về nhà ăn cơm, cũng không còn bưng chén ra ngoài tán gẫu với hàng xóm nữa, bởi vì ăn xong tôi vẫn phải niệm Phật, luôn cảm thấy không đủ thời gian tu niệm, nên chẳng còn nói chuyện tào lao…Nhiều người thấy nhà tôi ngày một phát, xúm nhau hỏi chúng tôi làm gì mà từ nghèo biến thành giàu vậy?…Tôi nghĩ không ra bèn nói:

– “Nhờ Phật pháp” đó!

Vợ Chân Minh kể:

– Hiện nay người bắt chước niệm Phật theo chúng tôi ngày càng nhiều, bởi vì nửa năm trước trong thôn có một người bị chứng si ngốc (vong dựa xác), tối ngày cứ lầm bầm nói bậy, quậy phá… Tôi bèn dẫn con trai đến xem thử, lúc vừa bước vào sân thì nghe y ở trong phòng đang hét to. Hai mẹ con vừa vào cửa thì thái độ bệnh nhân lập tức thay đổi, y trở nên rất hiền lành, thật thà, cứ ngó chăm chăm vào hai mẹ con tôi.

Có người hỏi y:

– Sao không gây gổ làm ầm ĩ huyên náo nữa vậy?…

Y bảo: Hai người này vừa bước vào toàn thân phủ đầy ánh kim quang gia trì của chư Bồ Tát, nên tôi không dám quậy phá.

Con trai Chân Minh bảo:

– Vậy vong hây rời khỏi đây đi nha?!

Vong nhân nói:

– Chưa được các vị dạy, chúng tôi đâu dám đi!

Thế là con Chân Minh liền bảo:

– Vậy bạn hãy niệm Phật theo tôi, niệm:  “Nam mô A Di Đà Phật!”… nha!

Vong nhân học thuộc một câu này xong liền nói:

– Thế thì tôi có thề đi đầu thai được rồi!

Vừa dứt câu thì người bệnh ngã xuống bất tỉnh giống như ngủ, người nhà khiêng lên giường. Ngủ xong một giấc thì hôm sau bệnh nhân tỉnh dậy, việc trước đó họ không nhớ chút gì, tinh thần trở lại bình thường.

Việc này đồn lan khắp toàn thôn, người ta bảo nhau: “Ma quỷ sợ người ăn chay niệm Phật”, thế là họ rần rần kéo đến tìm vợ Chân Minh, xúm nhau học cách ăn chay niệm Phật. Những lúc vụ mùa rảnh, từ nhà Chân Minh thường xuyên vang lên âm thanh niệm Phật và chú Lăng Nghiêm chí thành của bao người. (Nhân quả báo ứng hiện đời – Hạnh Doan)

3. NIỆM PHẬT VÃNG SANH TÂY PHƯƠNG Ở VIỆT NAM

Thánh chúng cõi Tây Phương Tịnh Độ

Bà Đoàn Thị Yến sinh năm 1936, số nhà 321/12, ấp Trung Bình I, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (Vàm Cả Vồn đi vào 130 mét, phía bên phải ).

NHÂN DUYÊN VÀ CÔNG PHU NIỆM PHẬT

Năm 1964 (lúc bà 27 tuổi), Hội Quán của Ban Trị Sự xã Vĩnh Trạch được thành lập, đoàn thuyết trình của ông Hai Tho và ông Hai Mù Tiễn thường đến diễn giảng Phật Pháp, bà cùng chồng đồng tham dự. Bà lại còn đăng ký vào ban hậu cần. Thỉnh thoảng, có cùng các bạn là Trần Kim Lợi, Trần Kim Khâu…đi các nơi diễn đọc sám kinh, vì giọng ngân nga của bà rất tốt. Trong thời gian này, hai ông bà ăn chay mỗi tháng sáu ngày. Ngoài công phu lễ Phật và niệm Phật sớm tối ra, ông bà rất hăng hái trong việc làm phước thiện, chẳng quản khó nhọc, tốn kém tài vật, hết lòng đùm bọc dân nghèo, nhất là đồng bào di cư, trong những cơn loạn lạc. Năm 1992, ông bị bệnh xơ gan, không bao lâu thì mất. Trước đó, ông đã niệm Phật khẩn thiết rồi mới qua đời. Đến rằm tháng giêng năm 1995, bà cùng cô con gái thứ Bảy phát tâm trường chay, hai năm sau cô Út cũng phát tâm theo. Lúc này, nhận thấy các con đã trưởng thành, năm người con lớn đều đã có gia đình, cơ nghiệp ổn định, còn hai cô gái thứ Bảy và Út sống chung với bà, nên bà cho mướn đất với giá rẻ, để rộng thời gian làm phước thiện: bắt cầu, bồi lộ, ủy lạo, tham quan hành hương…và cũng có thời gian chuyên tu niệm Phật nhiều hơn.

Công phu hành trì của bà cứ đều đặn sáng chiều, sau khi lễ Phật xong là ngồi niệm Phật một tiếng đồng hồ. Ban ngày thì cùng con cháu đi sưu tầm thuốc Nam, về nhà chặt, phơi khô, vô bao, cung ứng cho các phòng thuốc Nam. Bà rất thích nghe các con bà đọc kinh truyện, nhất là kinh Hiền Ngu, nói về nhân địa hành Bồ Tát hạnh, cùng các điển tích nhân quả báo ứng. Đặc biệt, là đọc các kinh sách nói về niệm Phật, về y báo, chánh báo cõi Tây Phương, sự trang nghiêm, thù thắng của thế giới Cực Lạc, bà nghe suốt ngày mà không tỏ vẻ mệt mỏi chán nhàm. Vào những ngày rằm, bà thường xay hai, ba chục giạ lúa, bố thí cho các gia đình nghèo. Có lần, bà nuôi bệnh cho cô con gái thứ Sáu, khi hết bệnh, xuất viện ra về, bà tặng cho những người  còn ở lại, hết tất cả: quần áo, mùng mền, đồ đạc…sạch sẽ cho tới không còn tiền dính túi, thuê xe Honda ôm, đến nhà mới thanh toán sau. Gần nhà, có bà Ba gia cảnh khốn đốn, chồng mất sớm để lại một bầy con nên thường hái trộm hoa trái của người ta, ra chợ bán. Lần nọ, bà Ba trèo xoài té bị gãy xương cầu, vết thương sưng bầm lên mà không có phương tiện đi băng bó. Bà Hai hay tin, đến tận nhà thăm và giúp cho chi phí đi điều trị.

Khi có đồng đạo ghé thăm, bà Hai mừng lắm, tiếp đón rất vui vẻ, ân cần lo cơm nước, hết sức chu đáo. Bà kiệm ước phần mình. Thấy hạnh lành, nghe lời phải thì cố gắng nỗ lực làm theo, chẳng hề nhìn ngó xấu dở của người, chỉ thích lắng nghe chứ không thích nói. Vì thế nên bà Hai được mọi người kính mến. Năm 2005, trên đường từ ruộng về nhà, bà ôm một bó nhãn lồng, bỗng nhiên đột qụy Khớp cổ chân trái bị đau dữ dội, chuyển ra thành phố An Giang, bác sĩ chỗ này thì chẩn đoán là “viêm khớp”, bác sĩ chỗ kia cho là “bướu xương”. Cuối cùng, đến Bệnh viện đa khoa thì chẩn đoán là “thoái hóa khớp”. Khớp cổ chân sưng to, cử động rất đau và khó khăn. Bác sĩ xử lý bằng cách cho thuốc giảm đau kháng viêm và rút dịch ở khớp mỗi tháng một lần. Rút được vài ba lần, sau đó con bà tự làm ở nhà. Trong thời gian này, có bác sĩ đề nghị gia đình nên đưa bà ra Sài Gòn giải phẫu khớp, tổng chi phí là 30 triệu, thì bệnh mới khắc phục dứt điểm. Các con quyết định đưa bà đi, bà không chịu. Bà nói:

– “Con người ta, ai cũng có căn có số. Tới số rồi thì Hoa Đà tái thế cũng phải bó tay!

Vì vậy, bà cứ sắc thuốc Nam, nguyện vái rồi uống tới. Các con hùn lại, đưa 30 triệu cho bà, lần hồi bà bố thí hết. Ở lối xóm, có người bịnh giống y chang như bà, sau khi đi mổ trở về rồi nằm một chỗ luôn, nhân đó bà hay nhắc với các con:

– “Đó! Thấy chưa. Con người ta ai cũng có căn có số, má nhờ bố thí mà bây giờ còn đi tới đi lui được! ”

NIỆM PHẬT SIÊU ĐỘ OAN GIA TRÁI CHỦ

Đến ngày mùng 4 tháng 7 năm 2009, khoảng 7- 8 giờ sáng, bà đang chăm chú nhìn ra cửa ngõ trong khi tay vẫn lần chuỗi, miệng vẫn niệm Phật. Đột nhiên, bà vẫy tay gọi người con lại:

– “Phết ơi! Lại đây! ” Con bà đến, liền hỏi:

– “Gì má?” Bà đáp:

– “Má thấy bốn người đàn ông mặc áo tràng màu dà, đầu đội hào quang nhìn má trân trân!”. Con bà quay nhìn ra sân, chả thấy gì cả, lại hỏi:

– “Đâu?”, Bà đáp:

– “Đứng bên kia sông đó!”. Ngưng một lát, bà nói tiếp:

– “Nó đó! Oan gia trái chủ đó! Chớ hổng phải Thần Thánh gì đâu! Thôi, con thắp hương các ngôi thờ cúng cho má nguyện vái”. Một hồi sau, khi bà nguyện vái xong, con bà liền hỏi:

– “Bây giờ nó đâu?”. Bà đáp:

– “Nó đi rồi!”. Lại hỏi:

– “Bà vái ra sao má?”. Bà trả lời:

– “Nam Mô A Di Đà Phật. Con cầu xin ơn trên Đức Phật từ bi cứu độ con về cảnh giới Cực Lạc. Còn những nghiệp báo oan gia nhiều đời, nhiều kiếp mà con đã lầm sát đó, sau khi học đạo hoàn toàn, con sẽ trở lại cứu độ hết! Nam Mô A Di Đà Phật!”

Chiều lại, bà thấy bốn vị ấy ăn mặc xình xoàng, nanh gút, xông vô nhà, đứng nhìn bà lom lom. Bà chí thành niệm Phật thì họ vạt ra, lơ là một tí thì họ sáp lại, kéo dài đến sáng, họ mới bỏ đi mất. Cả đêm hôm đó, bà niệm Phật suốt không ngủ. Sáng ra, trước mặt bà toàn là bông hoa, rất nhiều, rất lớn, rất đẹp. Hoa vạn thọ thì bằng cái chén, hoa huệ thì dài thật dài… Nghe bà diễn tả, các con ngỡ rằng bà bị chạm thần kinh, liền thuê xe chở ra Bệnh Viện Đa Khoa An Giang. Ban đầu, nghe khai bệnh, bác sĩ đưa bà qua khoa tâm thần. Sau đó, đo điện não đồ và làm một số cận lâm sàng thì chuyển về khoa nội. Nằm luôn 11 ngày, bụng và chân bà càng lúc càng sưng to, đi tiểu mỗi ngày hơn 30 lần. Thể trạng suy sụp trầm trọng. Bác sĩ cho biết, bà có tới bốn thứ bệnh: xơ gan, suy thận, hội chứng dạ dày tá tràng và thoái hóa khớp. Thấy Tây y không xong, các con đưa bà sang bệnh viện Thanh Bình để uống Nam dược, thêm sáu ngày nữa rồi mới về nhà, bệnh tình có khả quan chút đỉnh. Suốt thời gian điều trị, bà cứ nằng nặc đòi về:

– “Má niệm Phật dữ lắm! Bác sĩ hổng biết bịnh của má đâu! Đưa má về đi! Ở nhà niệm Phật
thanh tịnh hơn ở đây!”

Từ đó, chân trái của bà gân từ từ rút lại, cơ teo dần và lan qua chân phải. Cuối cùng, chân co quéo lại. Các con bà xúm lại động viên cho bà tập duỗi ra, vì sợ khớp cứng như vậy khi chết không đậy nắp hòm được giống như một người ở lối xóm, nhưng đau quá, bà nói:

– “Nó muốn như vậy thì mình cứ để như vậy đi! Chừng nào về Phật thì Phật sửa ngay ra, chớ gì mà lo!”

Các con bà nghe qua rồi nhưng không mấy chú ý, cứ ngỡ là bà đáp cho xong chuyện mà thôi. Mặc dù thân bệnh nhưng bà không khổ, luôn vui vẻ hòa nhã nói cười. Chưa hề có thái độ bực bội, cắu gắt, kể lể…Đáng nể phục là thời khóa niệm Phật sớm tối, bằng mọi giá: bò, trườn, lếch… bà không để cho trễ sót. Có lần, đồng đạo Hai Mum thấy vậy, quá cảm động nên khuyên bà nên nằm một chỗ niệm Phật thầm cũng được, bà vừa trả lời vừa cười:

– “Đâu có được con! Tới giờ hốt hụi rồi, hổng hốt để trật lất sao được!”

NIỆM PHẬT – VẠN DUYÊN BUÔNG XUỐNG

Mấy lúc bệnh trở nặng, đau đớn dữ dội nhưng không nghe bà rên than. Bạn bè, thân quyến đến thăm giới thiệu thuốc Thần, thuốc Tiên có liên quan đến vật mạng, bà mạnh dạn từ khước:

– “Tôi từng tuổi này nếu hết bệnh, sống cũng chẳng bao lâu! Thôi, để tôi trường chay niệm Phật, trọn đạo để vãng sanh, không còn đắm chìm nơi cõi khổ này nữa!”

Nếu khách nào đến thăm mà đem chuyện thị phi đến thì bà kêu con bà mời ra bàn uống nước, bằng như đối đế không mời được thì bà giả bộ ngủ li bì. Khi họ ra về, con gái trách:

– “Người ta tới thăm, mà má làm gì kỳ vậy?”. Bà giải thích:

– “Tao nằm niệm Phật, chớ có ngủ đâu!”

Còn các bạn đạo đến sách tấn, khích lệ về Tịnh Độ, bà vui vẻ nói cười cả buổi, chẳng có dáng vóc gì bệnh hoạn cả và còn dặn dò:

-“Chừng nào còn ghé thăm tui, để nói chuyện Phật Pháp cho tui nghe nghen!”.

Như chiếc lá vào thu sẽ chín vàng, âm thầm rời cành, trở về cội gốc. Như vầng thái dương lên cao, rồi cũng phải chầm chậm khuất bóng sau rặng cây phương tây, mù tít xa mờ. Không mấy chốc, sức khỏe của bà suy sụp càng lúc càng rõ rệt. Nhưng, công phu niệm Phật thì lại càng tinh thuần, lòng cầu sanh Tịnh Độ càng khẩn thiết. Lúc ăn một muỗng cháo, hay uống một hớp nước…bà cũng thường thầm thì:

– “Nam Mô A Di Đà Phật! Phải chi Phật rước con ngay bây giờ, khỏe biết mấy!” Thấy bà lúc nào cũng nguyện vãng sanh, nên con bà hỏi:

– “Má! Chuyến này bà tính bỏ mấy đứa con thiệt sao?”. Bà đáp:

– “Đến lúc phải ly tan! Nếu muốn không ly tan thì mấy con phải ráng lo niệm Phật, sau này
cùng vãng sanh Cực Lạc, mãi mãi chẳng xa lìa!”

Đêm 25 tháng 9 năm 2009, bà và cô con gái thứ Sáu đồng nằm mộng thấy 12 đứa bé, trai có gái có, độ chừng 12, 13 tuổi, đi đến bên giường, nói với bà rằng:

– “Bà Hai ơi! Mấy đứa con tới niệm Phật cho bà nghe nè!” Nói xong, chúng liền ngồi xung quanh rồi cất giọng niệm, âm điệu trầm bổng du dương, nghe rất êm tai. Rạng ngày 26, bà gọi cô con gái thứ Bảy đến thuật lại giấc mộng vừa qua và nói:

– “Lúc trước, má nghe trong núi Chóc có Ban Hộ Niệm. Thôi, con đi mời về hộ niệm cho má
đi!” Con bà sợ bà chết lắm nên trả lời:

– “Thôi má ơi! Con thấy rồi, hộ niệm là chết chắc!” Bà vừa cười vừa nói:

– “Cái không đáng sợ lại sợ! Còn cái đáng sợ lại không sợ!”. Con bà chưng hửng. Bà chậm rãi giải thích:

– “Không được vãng sanh mới đáng sợ! Còn chết thì ai không chết mà phải sợ!”. Ngưng một tí, bà nói tiếp:

– “Má muốn mời Ban Hộ Niệm tới niệm Phật, là muốn các con có cơ hội gieo duyên với chư đồng đạo. Sau này, chư đồng đạo tới lui giúp đỡ, dẫn dắt các con tinh tấn thêm lên!”. Bà kêu đến lần thứ ba, cô con gái mới miễn cưỡng chìu theo, lòng luôn phập phồng lo sợ khi phải đối diện cái cảnh tử biệt sanh ly vốn dĩ sẵn có của kiếp làm người. Ngày 27 tháng 9, Ban Hộ Niệm của liên hữu Tư Xả và Tư Găng trong Ba Thê ra, tiến hành cộng tu niệm Phật với bà và gia đình bảy đêm. Đến ngày thứ bảy, con bà nhắc:

– “Đêm nay là đêm cuối cùng rồi! Má tính sao?” Bà trầm ngâm, bấm các đốt ngón tay, giây lâu rồi nói:

– “Thôi, các con cháu trong nhà cùng với cậu Bảy Thọ và chư đồng đạo gần đây, ráng hộ cho má chín đêm nữa!”

Sáng ngày mùng 10 tháng 10, khoảng 8 giờ, các con đang ngồi niệm Phật bên giường, bà đang nằm nghiêng chấp tay niệm Phật theo, chợt thấy bà ngẩng đầu lên rất lâu, chăm chú nhìn cảnh tượng chi đó mà gương mặt của bà rạng rỡ, trông như người có việc vui mừng, vượt quá hy vọng. Con bà lại gần hỏi, thấy gì thì bà đáp là thấy Phật. Lại hỏi chừng nào về Phật thì bà không đáp mà chỉ mỉm cười rồi đưa ra ba ngón tay, việc này cứ lặp đi lặp lại nhiều lần. Người con thứ Bảy thì nghĩ rằng, bà bị loạn thần kinh trở lại, còn cô thứ Sáu thì ngỡ oán thân trái chủ giả Phật, nên sau khi nghe bà trả lời là thấy Phật thì cô than:

– “Nghiệp tới nữa rồi!” Bà liền đính chính:

– “Má hết nghiệp rồi! Còn đâu nữa mà trả!”

Sáng ngày 12, bà nhờ con tắm, gội đầu tới hai lần. Xong xuôi cô con thứ Bảy nói:

– “Bây giờ ăn một chút cháo nghen má! Trọn ngày hôm qua, bà hổng ăn miếng nào hết. Thôi bây giờ, ráng ăn một chút nghen?” Bà đáp:

– “Má đã dặn rồi! Đừng ép má ăn uống gì hết để má sạch ruột, tĩnh tâm niệm Phật! Thôi, các con ra ngoài hết đi, khóa cửa phòng lại, đừng cho ai ra vô, ép ăn, ép uống, hỏi han gì cả, để má tĩnh tâm niệm Phật!”

Cũng như mọi khi, tối đến con cháu và bà con lối xóm cùng với đồng đạo quanh vùng, tề tựu lại cầu nguyện, cộng tu, hồi hướng cho bà xong, rồi lần lượt ra về, đêm nay cũng là đêm thứ chín, tức là đêm cuối cùng. Khi mọi người đã ra về hết, các con bà chia ca hộ niệm suốt đêm. Đến 4 giờ rưỡi sáng ngày 13, bà gọi hai cô con gái Út lại, rồi tháo hai xâu chuỗi mà bà thường dùng, lần lượt đưa cho mỗi người một xâu và nói:

– “Má để cái này lại cho con nè! Ráng niệm Phật!”

Đến khoảng 8 giờ, đồng đạo Hai Mum ghé thăm, hỏi thăm xong, đo huyết áp thấy rất tốt, rồi cùng cô Phết ngồi chia thuốc Nam thành phẩm dưới nền nhà. Hai người đang lui cui làm, bỗng nghe bà cất tiếng niệm Phật thật lớn, liền quay lại nhìn. Khi đến hết câu thứ ba thì hai chân bà vung lên rồi duỗi thẳng ra, con bà lật đật chạy lại, phóng lên giường, rờ tới rờ lui, reo lên:

– “Má! Má! Giò bà thẳng ra rồi! Chuyến này khỏi phải ngồi xe lăn!”

Lát sau, bà buồn nôn, liên tiếp mửa ra sáu lần, mỗi lần khoảng một chén. Chất dịch màu hơi xanh, không có mùi gì cả. Cô lo sợ, liền thông báo cho chư liên hữu. Hay tin, đồng đạo tấp nập kéo đến. Gần 6 giờ tối, gương mặt bà đột nhiên đổi sắc, hồng hào, đôi môi đỏ lên. Tất cả người thân đều ra ngoài, nhường chỗ cho Ban Hộ Niệm ngồi đầy khắp phòng. Bà nằm chấp tay niệm Phật theo mọi người.

NIỆM PHẬT VÃNG SANH – ĐỂ LẠI THOẠI TƯỚNG

Đến 7 giờ 50 phút tối, bà an tường trút hơi thở cuối cùng, trong âm vang niệm Phật trầm hùng của câu Hồng Danh Vạn Đức. Nhằm ngày 13 tháng 10 năm 2009. Bà hưởng thọ 74 tuổi. Năm giờ sáng ngày 14 (qua hơn 9 giờ sau khi mất) Ban Hộ Niệm khám nghiệm tử thi thì nghe có hương thơm, các khớp xương mềm mại, toàn thân đều lạnh duy có đỉnh đầu ấm nóng. Đến 8 giờ sáng, đang niệm Tây Phương Tiếp Dẫn để chuẩn bị nhập mạch thì có xuất hiện vòng hào quang năm sắc bằng cái nia trên vách tường, gần đầu thi hài, khoảng hai, ba phút. Cùng lúc, có người lối xóm chạy xe ngoài đường cũng trông thấy trên nóc nhà có vầng hào quang năm màu lớn bằng bánh xe. Lễ an táng được tiến hành trong ngày 14, vào lúc 3 giờ chiều.

Tối lại khoảng 1 giờ khuya, mọi người đang ngủ, bỗng nhiên hai cánh cửa lớn nhà trước tự mở ra, âm thanh đẩy mạnh vang to lên, đồng thời căn phòng hực sáng lên như thắp mấy chục ngọn đèn. Người con trai thứ Năm thất kinh hồn vía, trùm mền kín mít, cô thứ Sáu từ trong phòng bước ra, lông tóc dựng đứng, vội chạy trở vào, ngồi niệm Phật mà hai hàm răng cứng chặt lại. Hiện tượng này, rất lâu mới mất.

Ngày 16, tất cả cây cỏ xung quanh nhà ra đến mộ khoảng mười mấy mét đều trổ hoa. Đặc biệt là cây mai gần bàn thông thiên, nở rộ vàng rực, kéo dài đến tháng hai năm sau (suốt bốn tháng trời). Mỗi khi đến ngày tuần thất, thường xuất hiện “hiện tượng lạ” vào giữa đêm, khi không gian chìm vào tĩnh lặng. Thường hay nghe tiếng lục lạc xe ngựa và tiếng chân ngựa chạy lộc cộc từ đầu vàm đi vào, tới trước cửa cổng nhà bà thì dừng lại, năm bảy con chó xung quanh, đều cụp đuôi chun xuống sàn, nằm im re. Rồi tiếng chân của bốn, năm người từ trên xe bước xuống, đi vào nhà, những luồng gió xoáy rung mạnh những chiếc mùng đang giăng và bạt hết những cánh cửa sổ đang đóng, đồng thời những cây đèn cầy trên bàn thờ và bàn vong đã tắt, tự động cháy sáng lên một lượt. Các con của bà dùng điện thoại ghi âm lại, nhưng khi mở ra thì không nghe gì cả. Đêm chung thất thì âm thanh của một đoàn người rất đông, lẫn những tiếng nói chuyện xì xào, đồng thời bốn chiếc ghế dựa ở bàn khách giữa nhà, tự động kéo ra, thật lâu mới đẩy vô trở lại.

Ngoài ra, còn rất nhiều điềm lạ khác, ở đây chỉ nêu đại lược mà thôi. Có lẽ, hạnh đức của bà chiêu cảm đến Long Thiên – Thiện Thần, chư vị đã ứng hiện để làm tròn tâm nguyện của bà khi còn sanh tiền. Cho con cháu bà có được cơ duyên vững bước trên con đường tu tập, cố gắng tinh tấn niệm Phật để được cùng nhau hội ngộ ở Tây Phương, thực sự là quyến thuộc chân thật, không phải ly tan như ở cõi đời giả ảo tạm bợ, đầy khổ đau nầy! Trước kia, chỉ có cô con gái thứ Bảy sống chung với bà là trường chay. Sau khi bà vãng sanh, tất cả các con đồng trường chay niệm Phật (Thuật theo lời cô Bảy Phết, cô Út Phỉ, các con của bà và liên hữu Bảy Thọ – Chuyện vãng sanh ở Việt Nam)

PHẦN 2: NIỆM PHẬT A DI ĐÀ

Niem Phat

Đọc đến đây bạn đã hiểu được một phần về sự nhiệm mầu  của niệm Phật rồi phải không? Vậy nhưng mục đích của việc niệm Phật là gì? Người niệm Phật vì những lý do như trên đã nói, cố nhiên là tốt, nhưng nếu chỉ dừng lại thế thôi thì thật là uổng phí.

Cũng như nhiều người đã tìm hiểu, đang tìm hiểu, thậm chí là đang niệm Phật, mà không rõ mục đích tối thượng của niệm Phật. Cho nên sự niệm Phật này chưa hợp với bản ý của đức Phật Thích Ca khi Ngài thuyết giảng về niệm Phật, đại loại như Tổ Thiền Tâm từng nói:

  • Có người đi Chùa, hoặc nơi Đền Phủ, thấy người niệm Phật cũng bắt chước niệm theo, hoàn toàn không chủ định. Hành động này tuy cũng gieo căn lành phước đức về sau, nhưng không hợp với bản ý của Phật.
  • Có những vị niệm Phật nguyện cho tiêu tai khỏi nạn, cầu gia đình khỏe mạnh bình yên, việc sinh hoạt càng ngày thêm thạnh vượng. Nguyện cầu như thế cũng tốt, nhưng không hợp với bản ý của Phật.
  • Có những vị đời sống gặp nhiều cảnh không vừa ý, sanh nỗi u buồn phẫn chí, niệm Phật cầu cho mình hiện tại và kiếp sau không còn gặp cảnh ấy nữa, sẽ được xinh đẹp vinh hoa, mọi việc đều thuận lợi như ý. Cầu như thế cố nhiên vẫn tốt, nhưng không hợp với bản ý của Phật.
  • Có những vị cảm thấy cuộc sống trần gian không điều chi hứng thú, cho sang giàu quyền thế cũng còn nhiều lo lắng khổ tâm. Họ hy vọng dùng công đức niệm Phật để kiếp sau được sanh lên cõi trời, sống lâu nhàn vui tự tại. Cầu như thế cũng là điều tốt, nhưng không hợp với bản ý của Phật.

MỤC ĐÍCH TỐI THƯỢNG CỦA NIỆM PHẬT

Đức Phật Thích Ca thấy rõ rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều sẵn đủ đức tướng trí huệ của Như Lai, nhưng do bởi mê bản tâm nên tạo ra nghiệp hoặc, nên vô thỉ kiếp đến nay trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi. Dù cho được sanh lên cõi trời, khi hưởng hết phước rồi, cũng bị sa đọa. Vì thế, Ngài muốn cho tất cả chúng sanh do nơi pháp môn Niệm Phật, sớm thoát khỏi khổ sanh tử luân hồi. Đây chính là mục đích tối thượng của niệm Phật.

Chư Phật trong nhiều a tăng kỳ kiếp đã từng huân tu phước huệ, nếu kẻ nào xưng niệm hồng danh của Như Lai, sẽ được vô lượng vô biên công đức. Lại, đức A Di Đà Thế Tôn đã lập thệ: “Nếu chúng sanh nào niệm danh hiệu của Ngài cầu về Cõi Cực Lạc, kẻ ấy khi mạng chung sẽ được tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương, chứng lên ngôi Bất Thối chuyển”. Đem công đức vô lượng của sự Niệm Phật, mong cầu những phước lợi nhỏ nhen ở cõi người, cõi trời mà không cầu vãng sanh giải thoát có khác chi trẻ thơ đem hạt châu ma ni vô giá đổi lấy viên kẹo để ăn? Như thế thật là phí uổng không xứng đáng chút nào! Lại nguyện lực của Phật rất lớn, người nào nghiệp chướng dù nặng mà chí tâm niệm Phật ngay một đời nầy cũng được tiếp dẫn vãng sanh. Trong Tịnh Độ Tam Kinh và Kinh Niệm Phật Ba La Mật đều đã giảng rõ về Tây Phương Tịnh Độ và Bản Nguyện Niệm Phật vãng sanh của đức Phật A Di Đà. Chỉ cần ta chuyên niệm sáu chữ hồng danh Nam mô A Di Đà Phật, nương vào Bản nguyện của Ngài, chắc chắn vãng sanh về Tây Phương, thành bậc Bồ Tát ở ngôi Bất Thối Chuyển. Cho nên bản ý của đức Phật Thích Ca là muốn cho chúng sanh niệm Phật để vãng sanh về Tây Phương Tịnh Độ, thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, và sự giải thoát ấy lại có thể thực hiện ngay trong kiếp này.

TẠI SAO CHÚNG TA LẠI CẦN PHẢI THOÁT KHỎI VÒNG SANH TỬ LUÂN HỒI

Đó là vì ở trong nẻo luân hồi chúng ta xác thật đã chịu nhiều nỗi thống khổ lớn lao. Tùy vào nhân duyên và nghiệp quả mà chúng ta, từ vô thỉ kiếp đến nay lên xuống trong 6 nẻo. Hết kiếp này sang kiếp khác sống chết luân hồi, xuống lên trong sáu cõi. Đó là:

  1. CÕI TRỜI
  2. CÕI NGƯỜI
  3. CÕI A TU LA
  4. CÕI SÚC SANH(BÀNG SANH)
  5. CÕI NGẠ QUỶ
  6. CÕI ĐỊA NGỤC

Trong sáu cõi giới này  Cõi trời tuy vui vẻ hơn nhơn gian, nhưng cũng còn tướng ngũ suy và những điều bất như ý. Cõi A Tu La bị sự khổ về gây gổ, tranh đua. Cõi bàng sanh như loài trâu, bò, lừa, ngựa bị sự khổ chở kéo nặng nề. Loài dê, lợn, vịt, gà, thì bị sự khổ về banh da xẻ thịt. Các loài khác chịu sự khổ về ngu tối; nhơ nhớp ăn nuốt lẫn nhau. Ở cõi ngạ quỷ chúng sanh thân thể hôi hám xấu xa, bụng lớn như cái trống, cuống họng nhỏ như cây kim, miệng phực ra lửa chịu đói khát trong ngàn muôn kiếp. Còn cõi địa ngục thì vạt dầu, cột lửa, hầm băng giá, non gươm đao, sự thống khổ không thể tả xiết. Bốn cõi rốt sau này, trong kinh gọi là Tứ Ác Thú. Từ cõi A Tu La, theo chiều xuống, nỗi khổ ở mỗi cõi cứ tuần tự gấp bội hơn lên. Trong sáu cõi, chúng sanh sống chết xoay vần hết nơi này đến nơi kia, như bánh xe chuyển lăn không đầu mối. Đại khái sanh lên cõi trời cõi người thì khó và ít, đọa xuống Tứ Ác Thú rất dễ và nhiều. ( Bạn xem: Tổng quan về nhân quả luân hồi ) Người xưa đã than:

Lục đạo xoay vần không mối hở. Vô thường xô đến vạn duyên buông!

Khi còn tại thế, một hôm đức Phật dùng móng tay vít lên chút đất, rồi hỏi A Nan: “Đất ở móng tay ta sánh với đất ở miền đại địa, cái nào nhiều hơn?”Ngài A Nan đáp: “Bạch Thế Tôn! Đất của miền đại địa nhiều hơn đất của móng tay vô lượng phần không thể thí dụ!” Phật bảo: “Cũng thế, A Nan! Chúng sanh sanh lên cõi trời người, như đất ở móng tay, đọa xuống ác thú, như đất của miền đại địa!” Thí dụ trên là những tiếng chuông mai để cho người tu xét suy tỉnh ngộ.

Nhiều kẻ không tin thiên đường, địa ngục, nhưng các cõi ấy xác thật là có, trong kinh đức Phật đã chỉ bày rành rẽ, chỉ vì mắt phàm không thấy biết mà thôi (Bạn có thể tham khảo những chuyện nhân quả báo ứng có thật )

Tóm lại, ba cõi đều vô thường, các pháp hữu vi không có chi là vui (Tam giới giai vô thường. Chư hữu vô hữu lạc – Kinh Pháp Hoa). Người niệm Phật phải cầu sanh về Tây Phương để thoát vòng sống chết luân hồi; lần lần tu chứng đến cảnh thường, lạc, ngã, tịnh của Niết Bàn, chớ không nên cầu sự phước lạc hư giả ở thế gian. Niệm Phật như thế mới hợp với mục đích giải thoát, với tâm từ bi cứu khổ ban vui của đức Thế Tôn. Khi xưa đức Phật đã than: “Trong đời mạt pháp, các đệ tử ta chỉ đeo đuổi theo bên ngoài, ít ai quan niệm đến vấn đề sanh tử!” Không tha thiết đến sự liễu thoát sanh tử là vì thiếu tri giác, do bởi không thiết thật quán xét nỗi khổ trong kiếp luân hồi. Những người này chẳng những phụ ơn Phật, mà cũng phụ cả chính mình, thật đáng tiếc thương đau xót! (Niệm Phật Thập Yếu – Hòa Thượng Thiền Tâm)

LỢI ÍCH CỦA NIỆM PHẬT

Niệm Phật A Di Đà

Căn cứ vào các kinh Tịnh Độ, bao gồm:

  1. KINH A DI ĐÀ.
  2. KINH VÔ LƯỢNG THỌ.
  3. KINH QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ.
  4. KINH NIỆM PHẬT BA LA MẬT.

Người niệm Phật không cầu mà tự nhiên được ‘hai sự lợi ích ở hiện tại và trong tương lai’. ‘Hiện’ tức là ngay trong đời hiện tại này, nói sơ lược thì được năm thứ gia bị: 1. Chúng sanh với Phật là một thể; 2. Được ánh sáng của Đức Phật A Di Đà soi chiếu nhiếp thủ; 3. Được chư Phật hộ niệm; 4. Được chư Bồ Tát, chư thiên, quỷ thần thường theo bảo vệ; 5. Được tội diệt phước sanh, tiêu trừ tai nạn, kéo dài tuổi thọ;

‘Tương lai’ tức là đời vị lai sau: “Khi xả bỏ thân mạng liền sanh vào nhà chư Phật, nghĩa là cõi Tịnh độ”, cũng tức là mạng chung được vãng sanh Cực Lạc cùng với Đức Phật A Di Đà đồng chứng vô lượng thọ, vô lượng quang. Trong Bản nguyện Niệm Phật, chư Tổ Sư giải thích: “Sự lợi ích trong đời hiện tại là hoa báo, sự lợi ích ở đời vị lai là quả báo. Khi hạt giống đã được gieo xuống thì tự nhiên khai hoa kết quả, hoa nở trước rồi kết thành quả sau, nhưng nếu người niệm Phật cầu vãng sanh thì ‘hoa quả đồng thời’. Có lợi ích ở hiện tại thì tự nhiên được lợi ích trong tương lai, một mà hai, hai mà một. Hiện tại đời sống được an ổn, tương lai được vãng sanh thành Phật là đều do ‘nhất hướng chuyên niệm’, không cần phải thay đổi pháp môn, không tu xen tạp, chỉ một lòng niệm Phật lấy lâm chung làm kì hạn.”

NIỆM PHẬT – LỢI ÍCH CỦA HIỆN TẠI

Một đời người, thường phải chịu những nỗi khổ như nghèo đói, bệnh tật, tai nạn, chết yểu, nghịch cảnh, ác duyên, thậm chí tất cả những thành công hay thất bại, ân oán tình thù v.v. Suy cho cùng, căn nguyên đều do nghiệp nặng chướng sâu, phước mỏng huệ cạn.

Khi bạn chí tâm niệm Phật, do huân tập công đức vô lậu từ danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật cho nên, được quả báo tăng phước, trường thọ, nghiệp chướng tiêu trừ, trí huệ khai mở. Nghĩa là:

Niệm Phật một câu phước sanh vô lượng. Lạy Phật một lạy tội diệt hà sa

Cho nên người niệm Phật được ‘nghiệp tiêu huệ sáng, chướng hết phước tăng; gặp dữ hóa lành, gặp tai nạn thành bình an’. Vì vậy:

  1. Người nghèo khổ niệm Phật thì được gặp quý nhân giúp đỡ, được cơm no áo ấm.
  2. Người bệnh niệm Phật, thì được thầy giỏi thuốc hay phù trợ, sớm bình phục. Nếu bệnh do nhân quả, nghiệp chướng mang lại thì thầy giỏi thuốc hay cũng vô hiệu, chỉ có niệm Phật mới có kết quả. Niệm Phật thì nghiệp tiêu, nghiệp tiêu thì bệnh hết.
  3. Người niệm Phật thì ma quỷ lánh xa, lánh xa thì tránh được tai nạn, huống chi niệm Phật có thể hóa giải oan hồn, độ thoát kẻ oán người thân
  4. Niệm Phật được công đức vô lượng vô biên, cho nên, người muốn cầu con cái hay cầu trường thọ, cầu hết bệnh hay tiêu tai giải nạn, cầu công danh hay nhà cửa bình an, cầu thăng quan tiến chức hay tiền bạc, thậm chí giải oan thích kết, tiến vong linh người thân đều có thể nương vào một pháp niệm Phật này mà không cần phải làm các tạp hạnh khác.
  5. Người niệm Phật thì quỷ thần không thể làm hại, mười vị vua cõi âm đều không dám kêu tên.
  6. Người niệm Phật, thân có ánh sáng rực rỡ chiếu xa bốn mươi dặm, khiến cho ma quỷ không thể đến gần.
  7. Người niệm Phật được Đức Phật A Di Đà thường ở trên đỉnh đầu, ngày đêm ủng hộ khiến cho oan gia không thể nhiễu loạn, hiện đời được an ổn, lâm chung tự tại vãng sanh.
  8. Niệm một câu Nam mô A Di Đà Phật công đức thù thắng hơn tất cả, khiến cho tội chướng sâu nặng trong ba thời cũng chuyển biến thành nhẹ.
  9. Niệm một câu Nam mô A Di Đà Phật hiện đời được vô lượng lợi ích, tiêu trừ tội chướng sanh tử luân hồi, cho đến định nghiệp chết yểu cũng đều tiêu trừ.
  10. Niệm một câu Nam mô A Di Đà Phật được Phạm thiên, Đế Thích đều quy kính, chư thiên và các thiện thần ngày đêm thường theo ủng hộ như bóng theo hình.
  11. Niệm một câu Nam mô A Di Đà Phật được Tứ Đại thiên vương ngày đêm thường ủng hộ, ác quỷ trong bốn phương không dám đến gần.
  12. Niệm một câu Nam mô A Di Đà Phật được Kiên Lao địa thần tôn kính, ngày đêm cùng theo ủng hộ như bóng theo hình.
  13. Niệm một câu Nam mô A Di Đà Phật được Long vương Nan-đà-bạt-nan và vô lượng long thần tôn kính ngày đêm thường theo ủng hộ.
  14. Niệm một câu Nam mô A Di Đà Phật, được vua Diêm-ma tôn kính, cùng với Ngũ Đạo Minh quan ngày đêm thường ủng hộ.

……………………….

NIỆM PHẬT – LỢI ÍCH CỦA TƯƠNG LAI

Chư Tổ Sư sau khi đại triệt đại ngộ, quay trở lại hoằng dương Tịnh Độ, chỉ khuyên người chuyên một pháp trì danh(Trì niệm danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật). Do là bởi vì:

  • Niệm Phật là pháp môn giản dị, dễ tu, viên đốn.
  • Niệm Phật là phương pháp đơn giản nhất, hiệu quả nhanh nhất mà công đức lại cao nhất.
  • Niệm Phật là pháp môn hạ thủ dễ mà thành công cao, dụng công ít mà hiệu quả nhanh.
  • Niệm Phật, hiện tại đã được an ổn, tương lai còn được vãng sanh, không chỉ bản thân được phước mà người thân trong nhà cũng được lợi ích.
  • Niệm Phật là phương tiện trong phương tiện, là trực tiếp trong trực tiếp, là đơn giản nhất trong đơn giản, là pháp dễ hành nhất trong các pháp dễ hành, ai ai cũng có thể tu.
  • Bất kỳ nơi đâu và bất kỳ lúc nào cũng có thể niệm Phật được: Niệm to, niệm nhỏ, niệm thầm..đều có công đức lớn như nhau.
  • Không phân biệt bạn giàu hay nghèo, sang hay hèn, thông minh hay ngu dốt, giữ giới hay không giữ giới…đều niệm Phật được hết, ai cũng tu được, không có kiêng kỵ gì!

Lại sáu chữ hồng danh Nam mô A Di Đà Phật chính là Bản nguyện niệm Phật vãng sanh của đức Phật A Di Đà, nên Tổ Thiện Đạo dạy:” Thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, do niệm Phật là bổn nguyện vãng sanh của ngài, nên đấy gọi là Chánh Định Nghiệp. Nghĩa là bạn chuyên niệm Phật thì “Việc vãng sanh đã định, hiện thời đã thành tựu nhân vãng sanh”.

Lợi ích tương lai của niệm Phật chính là nương nơi Bản nguyện của đức Phật A Di Đà, vãng sanh về Tây Phương Tịnh Độ, vĩnh viễn thoát khỏi sanh tử luân hồi. Đây mới chính là lợi ích tối cao nhất mà Đức Phật Thích Ca và chư Tổ Sư từ bi dạy cho chúng ta.

Cảm ơn bạn đã đọc hết bài này, dù với bất kỳ lý do nào khiến bạn tìm đến NIỆM PHẬT, Tuệ Tâm cũng nguyện bạn sớm lìa khổ được vui. Dù cho cuộc sống có bận rộn, khổ hải đến thế nào, cũng mong bạn ý thức được duyên đời ảo mộng, sớm phát tâm trì niệm danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật, nương vào Bản nguyện của Đức Phật A Di Đà, cùng vãng sinh Tây Phương Cực Lạc Quốc.

(Niệm Phật A Di Đà – Tuệ Tâm 2019 – Tổng hợp)

Xem thêm:

+ Cách thay đổi vận mệnh

+ Cách tụng kinh tại nhà

+ Âm đức là gì.

+ Cách niệm Phật tại nhà.

+ 10 chuyện Tâm linh có thật.

+ 10 chuyện nhân quả báo ứng có thật.

+ Chú Đại Bi linh cảm ứng.

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *