• Trang chủ
  • Kiến thức
    • Kinh Sách Phật Pháp
    • Bản Nguyện Niệm Phật
    • Nhân Quả Báo Ứng
    • Phật Pháp & Cuộc Sống
    • Góc Tu Tại Gia
  • Tải PDF
  • Bố thí & Cúng dường
  • Ấn Tống Kinh Tượng Phật
    • Phật Pháp
  • Giới Thiệu & Liên hệ
    • Bảo mật Thông tin
  • 0 - 0 ₫
kinhnghiemhocphat.com

kinhnghiemhocphat.com

Tuệ Tâm - Bản nguyện Niệm Phật Vãng Sanh

Trang chủ » Bản Nguyện Niệm Phật » Tư Tưởng Tịnh Độ của Đại Sư Thiện Đạo – Phần 21.

Tư Tưởng Tịnh Độ của Đại Sư Thiện Đạo – Phần 21.

18/07/2023 15/09/2024 Tuệ Tâm 2 Bình luận

Các điểm trọng yếu của Tịnh Độ Tam Kinh, tức ba bộ kinh nền tảng của Pháp môn Tịnh Độ: Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ và Kinh Quán Vô Lượng Thọ. Do xuất phát Tư tưởng Tịnh Độ của Đại Sư Thiện Đạo, cho nên có những điều bạn chưa từng được nghe đến, hoặc khác biệt hoàn toàn so với các kiến giải của chư Tổ Thiền Tông.

Nội dung chính của Kinh Vô Lượng Thọ: Bản kinh chuẩn chỉnh nhất được Tổ Thiện Đạo y cứ là bản của Ngài Khương Tăng Khải. Trọng yếu của kinh này ở nguyện thứ 18: “Nếu ta thành Phật, mười phương chúng sanh, muốn sanh về cõi nước ta, xưng danh hiệu ta cho đến 10 niệm, nếu chẳng vãng sanh, ta thề không ở ngôi Chánh giác.”

Tất cả chúng sanh căn tánh chẳng đồng, có thượng căn, trung căn, hạ căn. Tùy căn tánh của họ Ngài đều khuyên họ niệm danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ. Mục đích của kinh này, theo Đại Sư Thiện Đạo là hướng chúng sanh Nhất Hướng Chuyên niệm danh hiệu Phật A Di Đà…

Tuệ Tâm 2023.

Đang tải đánh giá...
  • Facebook
  • Twitter (X)
  • LinkedIn
  • Pinterest
  • Tumblr
  • Zalo

Bài viết liên quan

Chuyên niệm Phật, vãng sanh biết trước ngày giờ
Chuyên niệm Phật, vãng sanh biết trước ngày giờ
Bỏ Tạp Tu – An Nhiên Vãng Sanh Cực Lạc Tịnh Độ
Bỏ Tạp Tu – An Nhiên Vãng Sanh Cực Lạc Tịnh Độ
Niệm Phật vãng sanh – Quan tài hoa Sen nở
Niệm Phật vãng sanh – Quan tài hoa Sen nở

Chuyên mục: Bản Nguyện Niệm Phật

Bài viết trước « Tư Tưởng Tịnh Độ của Đại Sư Thiện Đạo – Phần 20.
Bài viết sau Tư Tưởng Tịnh Độ của Đại Sư Thiện Đạo – Phần 22. »

Reader Interactions

Bình luận

    Để lại một bình luận Hủy

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  1. PD. Diệu Hậu viết

    03/10/2025 lúc 16:02

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    Kính bạch Tuệ Tâm, và các Liên Hữu đồng tu.

    Khi thâm nhập Hàm Ý về Niềm Tin trong Pháp Môn Tịnh Độ chúng ta phải hiểu rằng: “NIỀM TIN là dựa trên cơ sở bạn phải Thấu Rõ Ngọn Nguồn”.
    Vậy NGỌN NGUỒN LÀ TỪ ĐÂU? TỪ 2 PHÍA: Chúng Sinh và Chư Phật.
    I- Nghĩa là chúng ta phải xác lập được căn cơ của mình và Pháp cứu độ của Phật một cách minh bạch.

    Bản chất của chúng sinh Thời Mạt Pháp, Cõi Ta Bà đời Ngũ Ác là tâm cuồng ý loạn, nghiệp động thức vọng, nên rất khó để xác lập được NIỀM TIN CHÂN XÁC. Nhưng chúng ta lại không thể tu tập một cách mù mờ, không rõ ràng, không cụ thể. Vì thế việc định hướng cho lộ trình giải thoát của mỗi người đều phải hoàn toàn phụ thuộc vào ý Phật.

    Vì sao Niềm Tin của chúng ra chưa đúng ý Phật? Vấn đề này vướng ở chỗ bởi Tâm Chấp, tâm Ngã, tâm Nghi của chúng ta quá lớn. Nó đã trở thành tập khí, phiền não, và vô minh, dù có tu tập nhưng vẫn vô tăm biệt tích, không biết mình sẽ đi về đâu. Không xác lập được con đường mình đi có đến được bến giải thoát cuối cùng hay không. Không tách bạch được đâu là pháp Khó, đâu là pháp Dễ. Không phân biệt rõ ràng giữa Pháp Tự và Pháp Tha. Đặc biệt với tiêu chí Tha Lực Hoàn Toàn là cửa ải nếu người tu không qua được, thì cơ hội vãng sanh rất mong manh.

    Nếu chúng ta không nắm được Tông Chỉ của Pháp Môn, không thấu hiểu mục đích, mục tiêu cứu độ của Phật A Di Đà, không vào được Bản Nguyện của Ngài, thì niềm tin của chúng ta chưa thể đạt tới ngưỡng tuyệt đối. Như vậy cũng không thể Tự Tại, An Lạc, không có cơ sở để khẳng định Vãng Sanh.
    – Vì không Tin nên không Hiểu.
    – Vì không Hiểu nên Tu Tập không chắc chắn.
    – Vì không chắc chắn nên Tâm không thể An Lạc, Tự Tại.
    Chỉ có Phật mới biết chúng ta nên đi đường nào để tới đích an toàn nhất, nhanh chóng nhất, phù hợp nhất, đơn giản nhất mà lại chắc chắn thành tựu. Khi Tu tập pháp môn niệm Phật theo mạch Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo, Ngài dạy chúng ta rất rõ rằng bạn phải Tin Cơ và Tin Pháp.
    Đây chính là thâm nghĩa của “Thấu Rõ Ngọn Nguồn”.

    1/ Đầu tiên bạn phải tin vào căn cơ của mình:
    Bởi chúng ta vốn dĩ là hàng phàm phu sinh tử chỉ biết tạo nghiệp ác từ vô thỉ, cho đến vô chung thì bản chất đó vẫn không thể nào thay đổi được. Tổ bảo “Tượng đã bằng đất thì từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên đều là đất, có đập vỡ ra cũng chỉ là đất mà thôi”. Nghĩa là chúng ta đã lăn qua, lộn lại trong luân hồi sinh tử quá lâu, nên lỗi lầm, phiền não, vọng tưởng là bản chất nó thế, không có cách nào để đối trừ, khắc chế, loại bỏ.

    Ngài cũng khuyên mình phải khế nhập từ căn cơ Hạ Ngu, Hạ Chí để tắt hết những tác ý, suy niệm trong tâm. Nhưng làm thế nào để trở thành người NGU thì lại không đơn giản (?). Đối với người vô trí (trẻ em, loài động vật, người khờ, ông bà già dốt), họ không cần phải hiểu, không cần phải biết, không cần thắc mắc, không cần chứng cứ mà chỉ thực hành, miệng họ biết xưng Nam Mô A Di Đà Phật là đủ.

    Chúng ta lại không chấp nhận được như thế nên vẫn tác ý thêm nọ, bớt kia. Do vậy Tổ dạy chúng ta phải Phế Bỏ hoàn toàn khả năng của mình, để thâm nhập Quá Trình Cứu Độ của đức Phật A Di Đà. Phải nhận ra khả năng của mình là Vô Lực để hướng tới Thệ Nguyện của Ngài có nguồn cội từ đâu, ứng dụng tu tập ra sao, thành tựu như thế nào, lúc đó mình sẽ có cơ sở để đưa tâm về vị trí của Người Hạ Ngu.

    2/Tiếp theo là Tin vào Pháp:
    Bạn phải thông suốt về Thệ Nguyện Cứu Độ của Phật A Di Đà và đường lối tu tập theo pháp nghĩa của Tổ Thiện Đạo.
    Tại sao Khi Học mạch Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo chúng ta lại được khai thị và khẳng định đó là Pháp Dị Hành Đạo, là Pháp Môn Đi Thuyền, là pháp cứu độ vô điều kiện, và nhất định được vãng sanh? Nếu chúng ta cảm ngộ được các mệnh đề Giản Dị, Dễ Dàng, Đơn Giản, Chắc Chắn thì trong tâm sẽ tràn ngập những cảm xúc Tự Tại An Lạc. Đây là thành quả khi bạn đi đúng trên lộ trình giải thoát.

    Pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương là pháp tu tập mà người tu phải nương 100% vào thệ nguyện cứu độ của Đức Phật A Di Đà. Duy nhất chỉ có một mình Ngài là người sẽ chịu trách nhiệm cho quả vị giải thoát của tất cả chúng ta. Thệ Nguyện của Ngài chính là “Hoằng Ý, Biệt Nguyện” là sự ưu ái hướng đến chúng sinh phàm phu cõi Ta Bà đời ác trược. Thế nên để Tin Tưởng tuyệt đối vào lời dạy ấy, chúng ta phải xác lập:
    – Chỉ Công Nhận Năng Lực của riêng Ngài.
    – Chỉ TIN TƯỞNG Một Mình Ngài.
    – Chỉ Muốn Về Cõi Nước của Ngài.
    – Chỉ Xưng Niệm Danh Hiệu của Chính Ngài.
    – Chỉ Dùng Công đức mà Ngài ban cho trong câu Phật Hiệu.
    Thì mới gọi là Nương Phật 100%, phụ thuộc Phật 100%, giao phó cho Phật 100%. Và đã Phế bỏ mình 100%.

    Chúng ta cũng phải hiểu tường tận rằng muốn NƯƠNG 100% như thế, thì chỉ có duy nhất là HƯỚNG VỀ MỘT MÌNH NGÀI. Đó cũng thể hiện là MỘT LÒNG KHÔNG TẠP, thì Đức Bổn Sư và Mười Phương Chư Phật mới đồng tình nhất trí và tán thán. Vì một Phật Thành Tựu là cả Pháp Giới Chư Phật chứng minh, công nhận.
    Hơn nữa về kết quả Vãng Sanh, trong tâm chúng ta cũng phải luôn khẳng định rằng:
    – Xưng Danh Nhất Định Vãng Sanh. Đây là cốt lõi của Thệ Nguyện 18.
    – Ngay khi Tin Tưởng và Xưng Niệm Danh Hiệu, thì Kết Quả vãng sanh đã được Công Nhận. Bởi đó là Bình Sanh Nghiệp Thành, là: “Ai nay Phát Nguyện thì nay Vãng Sanh”.
    – Bất kể chúng ta chết ở tình trạng nào, hoàn cảnh nào, tư thế nào, lý do gì, thời điểm nào đều không cần quan tâm. Vì ngay hiện tại chúng ta niệm Nam Mô A Di Đà Phật là đã được Quang Minh Phật A Di Đà nhiếp thủ rồi.
    Đây là niềm tin KIÊN CỐ, niềm tin CHẮC CHẮN, niềm tin có CHÁNH ĐỊNH NGHIỆP, niềm tin TUYỆT ĐỐI.

    Quy kết của việc phải tin Cơ rồi mới tin Pháp: Vì chúng ta luôn dùng tâm phàm phu chấp tướng để phán định đúng sai hay dở, dùng Tôi Ta để căn cứ đối chiếu, lập tiêu chuẩn. Do đó phế bỏ mình là phương diện đầu tiên chúng ta phải xác lập, sau đó mới chịu quy phục hoàn toàn để nương hết vào Tha lực của Phật A Di Đà.

    II- Đối với lời Thệ Nguyện của Đức Phật A Di Đà, chúng ta nên hiểu CÔNG CUỘC CỨU ĐỘ ĐÓ xuất phát từ đâu? Mục đích, Mục tiêu, Phương Pháp là gì?
    Đây là những điểm mốc khẳng định Vị Thế, Năng Lực, Tâm Lượng, Trí Tuệ của Ngài. Chuỗi liên kết này được thể hiện rất rõ khi chúng ta phân tích những điểm TRỌNG YẾU trong 3 Kinh Tịnh Độ.

    1/ Thứ nhất, về Nguyện Thứ 18 của Kinh Vô Lượng Thọ:
    Chúng ta đều biết rằng không có Nguyện thứ 18 thì không có 48 Nguyện, không có Kinh Vô Lượng Thọ, cũng không có Kinh Quán Kinh Vô Lượng Thọ và không có Kinh A Di Đà.
    Nghĩa là không có lời Thệ Nguyện Vĩ Đại ấy thì Phật Pháp không thể nói lên được ĐẠO TỪ BI CỨU KHỔ BAN VUI. Không thể hội được vị ngọt của GIẢI THOÁT, và giá trị Vãng Sanh Cực Lạc là gì.

    Chỉ vì Nguyện 18 này mà Ngài Pháp Tạng đã phải suy nghĩ trong 5 kiếp, tu bồ tát đạo trong Tải Triệu Vĩnh Kiếp tích lũy công đức cứu độ chúng sinh. Quá trình tư duy của Ngài chính là lúc Ngài quán chiếu căn cơ của hết thảy chúng sinh và thiết kế ra phương pháp để cứu độ họ. Đó là Xưng Danh Hiệu của Ngài. Phương pháp này đã hội đủ tất cả các tiêu chí như thuận tiện nhất, đơn giản nhất, dễ dàng nhất, phổ cập nhất, thù thắng nhất mà bất kỳ chúng sinh nào cũng thực hành được trong mọi hoàn cảnh, mọi nhân duyên, mọi tình huống, mọi điều kiện, mọi căn cơ.

    Chúng ta phải nắm được ở Thệ Nguyện Siêu Thế này những điểm CỐT LÕI sau đây:
    – Đối tượng cứu độ là: Mười Phương Chúng Sinh,
    – Mục đích cứu độ là: Bình đẳng, không có điều kiện,
    – Mục tiêu cứu độ là: Ưu tiên chúng sinh hạ căn, hạ trí,
    – Phương Pháp cứu độ là: Xưng Danh Nam Mô A Di Đà Phật,
    – Yêu cầu đối với chúng sinh là “Chí tâm tin tưởng”.

    Tổng yếu là chỉ cần “TIN vào việc Xưng Danh và Thực Hành Xưng Danh” thì đã đầy đủ mọi tiêu chuẩn, mọi điều kiện để về Cực Lạc.

    Ở Lời Thệ Nguyện của Ngài, chúng ta cũng phải chốt được rằng: “Nếu Chúng Sinh Không Thành Tựu thì Ngài Thề Không Thành Quả Vị Phật”. Chi tiết này thể hiện Tâm Bi Mẫn tột đỉnh, Lòng Từ Ái Vô lượng, Trí Tuệ Đại Siêu Việt của Đức Phật A Di Đà. Ngài vì chúng ta mà tu tập, vì chúng ta mà lấy cả Sinh Mạng và Quả Vị của mình để Bảo Lãnh. Ngài vì chúng ta nên được khắp cả Mười Phương Chư Phật phải Thán Phục, Ca Ngợi.

    Những cụm từ sau giúp chúng ta thể hội Pháp cứu độ của Ngài rất rõ ràng, và triệt để.
    – Mười phương chúng sinh: là bất kỳ chúng sinh nào, căn cơ gì chỉ cần Xưng Niệm Danh Hiệu Ngài đều được cứu. Vì thế bạn đừng bận tâm mình là ai, và mọi chúng sinh là ai.
    Bất kể “AI” đều trong cụm từ “Mười phương chúng sinh”. Bất kể thành phần nào, đối tượng nào, căn cơ nào, xuất gia, tại gia, nam nữ, già trẻ, gái trai (cho đến) các loài vật mà biết Niệm Phật đều được cứu. Từ Bậc Đẳng Giác Bồ Tát (cho đến) chúng sinh A Tỳ Địa Ngục cũng chỉ cần Niệm danh hiệu Phật A Di Đà là được cứu.
    Nếu bạn cảm thọ được 2 từ “cho đến” thì bất luận sự vướng mắc nào về căn cơ tu tập, hoàn cảnh tu tập, điều kiện tu tập… đều được MỞ, bởi đó là không loại trừ, không ngăn ngại, không hạn chế.

    – Tự Nguyện Cứu Độ Bình Đẳng: Đức Phật A Di Đà chủ động phát nguyện cứu chúng ta mà không cần chúng ta có đồng ý hay không. Hơn thế nữa Ngài lại hướng đến chúng sinh thấp kém nhất, vô minh nhất, yếu thế nhất để cứu trước. Vì Ngài biết chúng ta không thể tu tập được, nên Ngài cũng không đưa ra bất kỳ yêu cầu gì, không đòi hỏi bất cứ tiêu chuẩn nào mà bình đẳng cứu độ. Đây là những yếu tố vô cùng quan trọng để chúng ta hiểu rõ THA LỰC HOÀN TOÀN là thế nào.

    – Ngài không đưa ra Điều Kiện có ý nghĩa rất cụ thể. Khẳng định rõ là chúng ta “chỉ việc đón nhận”, không phải tu tập thêm các hạnh tu khác, không phải lo tích lũy phước thiện, không phải dẹp bỏ vọng tưởng tạp niệm, không phải lo căn cơ của mình, công phu của mình, tập khí lỗi lầm của mình hay bất kỳ điều gì cũng đều không ảnh hưởng đến sự cứu độ của Ngài.

    – Chỉ Cần Xưng Danh: Đây là phương pháp tu tập mà chúng sinh phải thực hành. Nhưng nó không được gọi là công phu tu tập, cũng không được hiểu là dụng ở mức độ nào đó của Tâm. Bởi vì Xưng Danh là điểm KẾT NỐI – LIÊN KẾT Tâm mình với Tâm Phật A Di Đà.
    Nghĩa là khi chúng ra xưng niệm DH Ngài thì sóng quang minh của Ngài sẽ phóng tới nhiếp thủ, cũng chứng minh chúng sinh này là một đối tượng được tiếp độ. Thế nên trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ mới ghi: “Hào Quang của Đức Phật A Di Đà ngày đêm soi chiếu khắp mười phương thế giới không bị ngăn ngại nhưng Quang Minh ấy chỉ đi tìm chúng sinh niệm Danh Hiệu của Ngài nhiếp thủ không rời bỏ”.

    Ở đây nói rất rõ là chỉ nhiếp thọ chúng sinh niệm Nam Mô A Di Đà Phật, chứ không nhiếp thủ chúng sinh tu hạnh khác. Do vậy chúng ta NIỆM Danh Hiệu không thể tính là công phu, cũng không thể coi là tĩch lũy số lần, gom góp số niệm để hồi hướng cho Phật. Bởi Ngài đã tu tập tích lũy công đức trong Vô Lượng Kiếp rồi trao cho mình, nay mình lại gửi tới Ngài thì giống như TỪ CHỐI vậy.
    Ở Thệ Nguyện Siêu Thế này còn cho chúng ta một Niềm Tin mãnh liệt và chân xác đó là Ngài thành Phật đã hơn 10 kiếp, nên “Lời Thệ Nguyện Ấy Không Thể Nào Hư Dối”.
    Khi bạn “Chấp Nhận” Ngài, thì điều kiện DUY NHẤT mà Ngài muốn bạn làm đó là NIỆM PHẬT. Đây cũng là Cánh Cửa DUY NHẤT bạn vào được NHÀ CỦA NHƯ LAI.

    2/ Thứ hai. Trong phẩm thứ 16 của Kinh Quán Vô Lượng Thọ “hạng hạ phẩm vãng sanh”. Đây là phần rất TRỌNG YẾU của Kinh này, nó mô tả toàn bộ HOẰNG NGUYỆN mà đức Từ Phụ gửi đến chúng sinh thông qua Pháp Nghĩa mà đức Bổn Sư đã thuyết. Nghĩa là 2 Vị Giáo Chủ ở 2 Cõi “bắt tay” cùng nhau MỞ pháp Cứu Độ rốt ráo nhất.

    Sự Viên Mãn Tột Cùng ở Phẩm này khi nói về căn cơ Ngũ Nghịch, Thập Ác, Xiển Đề tới lúc Lâm Chung được thiện trí thức khai thị mà tin nhận và Niệm Phật là được cứu. Đối với họ giây phút ấy chỉ có thể là dùng “Miệng Xưng” từ 1-10 câu tùy từng người.
    Ở tình huống đó thì thời điểm họ được cứu, đã bộc lộ tới đỉnh điểm Lòng Từ Ái, Tâm Bi Mẫn, và không cần Điều Kiện của Đức Phật A Di Đà. Khẳng định lời Thệ Nguyện cứu độ Mười phương chúng sinh đã nói trong Nguyện thứ 18 là vô cùng thỏa mãn.

    Và phương pháp cứu độ mà Ngài dành cho họ cũng thể hiện Trí Tuệ Siêu Việt của Ngài, vì chỉ cần “Xưng Danh”. Nó Siêu Việt ở chỗ là đơn giản nhưng lại áp dụng cho mọi loại căn cơ từ chúng sinh Vô Trí cho đến Bậc Thánh.
    Mục đích, mục tiêu, và sự ưu ái cứu độ của Ngài là lấy từ căn cơ này làm tiền đề, vì Ngài phải xuất phát từ vị trí thấp nhất, khổ đau nhất, cạn kiệt nhất, bất lực nhất, vô minh nhất thì mới tương xứng với Tâm Nguyện và Công Cuộc Cứu Độ Vĩ Đại Ấy.

    Khi ở vị trí của những căn cơ này, chúng ta mới cảm thọ tột cùng Mục Đích Cứu Độ Bình Đẳng Vô Điều Kiện. Mới quy phục sát đất Mục Tiêu mà Ngài quan tâm đến những chúng sinh thấp kém nhất.
    Bởi vì chỉ khi ở vị trí này bạn mới nhận ra TRÍ KHÔN của mình đã bị Phế, bị Vô Hiệu. Bạn không thể hiểu, không thể biết, cũng không thể suy lường, phân biệt. Bản Ngã đã CHẾT là lúc bạn chấp nhận mình VÔ TRÍ để dụng công.
    Vì ranh giới giữa KHÔN – NGU ở cách khế nhập này sẽ bị ngăn bởi Tâm Chấp (mình là người BIẾT, nay lại bảo KHÔNG BIẾT, thì cái ĐÃ BIẾT vứt đi đâu). Nhưng “cách này” là TRÍ TUỆ chứ không phải NGU đâu bạn ạ. TRÍ TUỆ mà Tổ Thiện Đạo nghĩ giúp chúng ta thì AI DÁM BÀN THÊM chứ?

    Và Ngài cũng “mật bí” cho chúng ta biết, Phật A Di Đà sẽ nhắm tới chúng sinh hạ căn vô trí để cứu trước, nên bạn phải tận dụng được cơ hội ưu tiên này. Đây là điểm giúp bạn nhận ra tầm quan trọng của việc đưa tâm mình về vị trí Zero.

    =>Đến đây thì bạn đã thấm nhuần vì sao Ngài lại bảo chúng ta phải dụng công ở hàng người NGU là như vậy đấy.

    3/ Thứ ba. Để ứng dụng tu tập chúng ta phải y cứ lời dạy trong Kinh A Di Đà.
    – Ngay phần mở đầu trong đoạn NHVS, Bổn Sư đã dạy “Không thể dùng chút ít Thiện Căn Phước Đức Nhân Duyên mà được sanh về Cực Lạc”.
    Đây là Ngài khẳng định chúng ta không thể dùng Thiện It Phước Mỏng của mình để gửi về Cực Lạc. Bởi để về Cực Lạc phải là công đức Vô Tướng, mà chúng sinh phàm phu lại không thể làm nổi công đức này. Nhưng chúng ta không hiểu lời của Phật mà cho rằng Thiện Căn Phước Đức Nhân Duyên của mình có ít, nên cố gắng tu tập, gom nhặt tích lũy cho nhiều để hồi hướng về Cực Lạc.

    Chúng ta phải lấy công đức Vô Tướng của Đức Phật A Di Đà, Ngài đã tu tập trong Vô Lượng Kiếp để tích lũy vào danh hiệu cho chúng ta rồi. Nên chúng ta phải hoàn toàn dùng công đức của danh hiệu, tức chỉ cần XƯNG DANH là đủ, chứ không phải tìm kiếm (Thiện Phước Duyên Thế Gian) để hỗ trợ cho Phật. Cũng không phải tu thêm (hạnh này pháp kia) để hồi hướng. Tất các mọi việc vẫn làm thật tốt vì Báo Ân Phật, vì chúng sinh mà làm nhưng không để tâm đến nó.
    Chúng ta là tâm chấp tướng nên bất luận những gì chúng ta làm dù ít hay nhiều đều không phù hợp với Cảnh Giới Vô Vi của Cõi Cực Lạc. Do đó chỉ có “Một Lòng Chấp Trì DH Nam Mô A Di Đà Phật” thì Thời Lâm Chung chắc chắn Phật A Di Đà sẽ hiện thân gia trì tiếp dẫn.

    -> Đây là tầng vướng mắc thứ nhất mà người tu chưa rõ nên không thể vào được Tha Lực tuyệt đối của Phật A Di Đà.

    – Đức Phật nói rất rõ rằng “Một Lòng Không Tạp” nghĩa là chúng ta không được dùng HAI LÒNG. Môt Lòng XƯNG DANH là chỉ có CHUYÊN TÂM NIỆM PHẬT, chứ không phải kèm cặp thêm nếm các hạnh khác, khi chúng ta MỘT LÒNG thì sẽ không còn tơ tưởng đến những điều gì khác nữa.

    Trong pháp mạch Thuần Chánh, tất cả các khía cạnh mà Tổ Thiện Đạo triển khai đều quy hướng về tiêu chí “Một Lòng Không Tạp”.
    Ngoài việc phân định các cặp đối lập để chúng ta nhận ra KHÓ DỄ như Nan Hành Đạo – Dị Hành Đạo. Tự Lực – Tha Lực. Chánh Hạnh – Tạp Hạnh. Chánh Định Nghiệp – Trợ Nghiệp. Thánh Đạo Môn – Tịnh Độ Môn. Yếu Môn – Hoằng Nguyện, giúp chúng ta từng bước đúng LỘ TRÌNH TỚI ĐÍCH.

    Thì từng tầng dẫn dắt tiếp theo Tổ đều quy nạp các “Pháp Thế Gian” nhằm đưa chúng ta về Tâm CHUYÊN NHẤT. Ngài nói:
    Chẳng lựa căn cơ, Xưng Danh nhất định vãng sanh.
    Chẳng luận thời tiết, Xưng Danh quyết định vãng sanh.
    Chẳng luận tội phước, Xưng Danh quyết định vãng sanh.
    Chẳng lo vọng niệm, Xưng Danh ắt vãng sanh.
    Chẳng sợ tham sân si, Xưng Danh quyết định vãng sanh.

    Bạn thấy rõ Tổ muốn chúng ta chỉ duy nhất hướng về một thứ là Niệm Phật. Đây chính là Một Lòng Không Tạp Loạn. Là thực hành Chuyên trong Chuyên.
    Vì thế chúng ta phải tiếp nhận khai thị của Tổ Thiện Đạo thì mới giải quyết được tiêu chí “MỘT LÒNG KHÔNG TẠP”. Nghĩa là ngoài câu Phật Hiệu thì bạn không phải lo lắng bất kỳ điều gì. Bạn đừng quan tâm đến những vọng động trong tâm, hay những chi phối từ duyên cảnh, thì bạn mới một lòng chuyên tâm cho việc Niệm Phật.

    “Không Tạp Không Loạn” là bạn chỉ Chuyên Nhất một câu Phật Hiệu, chứ không phải bạn dùng câu Phật Hiệu để đè vọng tưởng cho hết Tạp Loạn.
    Chúng ta không lấy công đức của Danh Hiệu để hoan hỉ mà niệm, tự tại mà niệm, tin tưởng mà niệm, lại tự biến tác dụng của Phật Hiệu theo ý mình. Chúng ta dùng Phật Hiệu để dẹp trừ vọng tưởng, để áp chế phiền não thì có phải đã HIỂU SAI Ý của Phật hay không?
    Nhưng người khác nói đó là tự lực đấy lại không chịu.

    -> Đây là tầng vướng mắc thứ hai mà chúng ta chưa hiểu đúng lời Phật dạy, nên muốn Thân Cận Phật thì lại cứ xa thêm.

    III- Chúng ta muốn vào được “BẢN NGUYỆN XƯNG DANH” thì phải hiểu rất rõ khái niệm Hoằng Nguyện, và Chánh Định Nghiệp là gì.
    Bởi Yêu Cầu của Đức Phật A Di Đà chỉ xoáy vào Một Việc “XƯNG DANH”. Xưng danh chính là tu tập theo Chánh Định Nghiệp phù hợp với Hoằng Nguyện của Ngài, là Tha Lực Phật 100%, là Nhất Tâm Bất Loạn, là Kết Quả mà chúng sinh được cứu.

    1/Trước hết Hoằng Nguyện có ý nghĩa thế nào.
    Để hiểu thế nào là Hoằng Nguyện, chúng ta phải nhận biết trong pháp môn Tịnh Độ có 2 hướng tu tập khác nhau liên quan đến cách thức vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Đó là Yếu Môn và Hoằng Nguyện:

    YẾU MÔN: Là Pháp tu kết hợp: thiền định, phước thiện, trì tụng kinh chú, và niệm Phật (tức tu Định Thiện kèm Tán Thiện) để tích lũy công đức, hồi hướng cầu VS. Đây là Pháp Đức Thích Ca vì căn tánh chúng sinh mà phương tiện dẫn dắt. Đi theo cách này thì rất khó để một đời thành tựu vì họ sẽ không đạt tiêu chuẩn: Chuyên Nhất, Thuần Nhất, Một Lòng.

    HOẰNG NGUYỆN: Là nương tựa hoàn toàn vào Thệ Nguyện 18. Ở Pháp tu này Đức Bổn Sư đã (chủ động MỞ Nguyện lực của Phật A Di Đà) và khuyên chúng sinh “Tin Tưởng” vào Thệ Nguyện cứu độ của Phật A Di Đà bằng cách: “Chuyên Tâm, Thuần Nhất, Một Lòng chỉ niệm DH Nam Mô A Di Đà Phật”. Tức đối với Hoằng Nguyện thì phương pháp “duy nhất” là TRÌ DANH HIỆU.

    2/Tiếp theo Chánh Định Nghiệp Xưng Danh là gì.
    Chúng ta phải phân định được: Chánh Hạnh và Tạp Hạnh. Tạp Hạnh thì không nói làm gì. Nhưng Trong Chánh Hạnh phải xác lập rõ Trợ Nghiệp và Chánh Định Nghiệp.

    TRỢ NGHIỆP: Nếu chúng ta Niệm Phật nhưng vẫn kiêm thêm 1 trong các hạnh (Đọc, Tụng, Lễ, Tán) là Tự kèm Tha. Vì 4 hạnh này gọi là Trợ Nghiệp. Trợ nghiệp chỉ mang tính chất phụ thêm cho người tu khi họ chưa thể tin hoàn toàn vào câu Phật Hiệu. Trợ nhằm mục đích khai thị dẫn dắt chứ không thể quyết định. Do đó Tổ mới nói phải gác lại Trợ Nghiệp chuyên tu Chánh Định Nghiệp.

    CHÁNH ĐỊNH NGHIỆP: Tức chỉ làm một việc. Nghĩa là chỉ duy nhất Xưng Danh Hiệu của Đức Phật A Di Đà. Chúng ta chỉ Tin Tưởng Sự Cứu Độ của Ngài, chỉ dùng Công Đức của Ngài để về Cực Lạc thì gọi là công phu có Chánh Định Nghiệp. Trong 6 câu Nam Mô A Di Đà Phật đã đầy đủ viên mãn công đức lực dụng để đưa mình về Cực Lạc, nên không thể thêm vào bất kỳ thứ gì nữa. Tin như vậy mà niệm gọi là Chánh Định Nghiệp Xưng Danh.

    Cách phân định Yếu Môn Hoằng Nguyện, hay Trợ Nghiệp và Chánh Định Nghiệp Xưng Danh là những tầng dẫn dắt thể hiện lòng từ bi vô lượng của Tổ Thiện Đạo. Ngài đã cho chúng ta thâm nhập từng cấp độ, bồi đắp niềm tin cho chúng ta ở từng gian đoạn cho tới khi niềm tin trạm đỉnh. Nghĩa là khi chúng ta thực sự thấu hiểu Bổn Nguyện một cách mạch lạc thì việc tu tập vô cùng Hoan Hỉ, Mãn Nguyện và Chắc Chắn.

    3/Nếu chưa rõ ràng về các cách phân định như trên thì việc tu tập THEO BẢN NGUYỆN, sẽ không có cửa cho chúng ta VÀO BÁO ĐỘ.
    – Chuyên Xưng Danh: là nương Tha lực tuyệt đối. Niệm Phật là nương hoàn toàn vào công đức của Phật A Di Đà, nương hoàn toàn vào lực dụng của Phật Hiệu. Phải CHUYÊN ngay từ khi TIN cho đến cuối đời, thì mới gọi là “Trên thì trọn một đời dưới cho đến 10 niệm”. Còn nếu đã TIN nhưng lại chờ đến thời điểm nào đó mới CHUYÊN thì chưa phải là TIN ĐÚNG.

    – Chuyên Xưng Danh: là hoàn toàn chỉ có CHUYÊN NIỆM danh hiệu Phật A Di Đà, duy nhất 1 hạnh này, không được thêm bất kỳ pháp khác, hạnh khác. Vì đó là Chánh Định Nghiệp Xưng Danh. Đã gọi là Chánh Định Nghiệp thì chỉ có Duy Nhất là Niệm Phật.

    – Chuyên Xưng Danh: mà còn quan tâm đến tất cả các vấn đề xung quanh, thì không phải là Chấp Trì như 2 Phật muốn. Khi Tâm chỉ có duy nhất Phật Hiệu, thì tại sao lại phải làm thế nào cho Tâm được thế này hay thế kia nhỉ? Vì Tâm chưa chốt MỘT, nên sẽ còn có thứ khác xen vào.

    – Chuyên Xưng Danh: là gác lại trợ nghiệp chuyên tu Chánh Định Nghiệp. Là dừng lại Yếu Môn tiến vào Hoằng Nguyện. Như vậy mới đúng là Là TU BẢN NGUYỆN XƯNG DANH.

    Bản thể của câu Phật Hiệu nó vẫn thanh tịnh, đầy đủ công đức vì nó vốn là của Phật (tại mình cứ tưởng niệm là Phật Hiệu từ trong tâm mình phát ra. Không nhé, Phật Hiệu mình niệm được là do Phật A Di Đà trao cho). Công đức để được vãng sanh là công đức có sẵn trong câu Phật Hiệu, chứ không phải là do bản thân chúng ta tu tập mà có.

    -> Đây là tầng vướng mắc thứ ba do chúng ta không nhận ra được Ý nghĩa của Danh Hiệu, không hiểu được Quá Trình cứu độ của Ngài tại sao lại dài như thế, Vĩ Đại như vậy LÀ VÌ AI.

    Chúng ta phải chuyển được cái CẢM THỌ này thành công, thì mới TIN là Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật đã đầy đủ viên mãn Quả Vị giải thoát cho mình rồi. MÌNH PHẢI HOÀN TOÀN PHỤ THUỘC VÀO PHẬT mới gọi là Nương 100%.

    => Đến đây bạn đã nhận rõ tiêu CHÍ MỘT theo đúng Ý PHẬT là gì chưa?
    Đã Chuyên Chấp Trì mà vẫn sợ lâm chung không được vãng sanh thì đây là CHƯA PHẢI LÀ NIỀM TIN TUYỆT ĐỐI.

    Bổn Sư và Phật A Di Đà đều phải đưa Pháp dễ tu, dễ hành, phù hợp với căn cơ của chúng ta, phải chắc chắn thành tựu, không thì Mười phương chúng sinh liệu độ được mấy người?
    Phải không có yêu cầu gì, và phải ưu tiên chúng sinh tội lỗi xấu ác, thì Tổ Thiện Đạo mới trở lại để KHẢI ĐỊNH CỔ KIM chứ?
    Và Ngài mới tuyên bố Niệm Phật là Pháp CHẮC CHẮN VÃNG SANH.

    IV- Để liên kết được sự thống nhất của 3 bộ Kinh chính, chúng ta phải xuất phát từ 48 Thệ Nguyện của Tỳ Kheo Pháp Tạng.
    Trong 48 Nguyện này điểm cốt lõi đó là Nguyện Thứ 18. Đây là điều Nguyện mà khi Ngài Thành Phật thì tất cả 10 phương chúng sinh cũng thành Phật.
    Vì sao Ngài lại nói: “Nếu chúng sinh niệm danh hiệu Ngài muốn về nước Ngài mà không được Toại Nguyện thì Ngài không thành Chánh Quả”?

    Thực Tế thì Ngài đã thành Phật A Di Đà cách đây hơn 10 kiếp, nghĩa là tất cả chúng sinh khắp mười phương cũng đã thành Phật từ 10 kiếp rồi. Đối với cảnh giới của Chư Phật thì không có thời gian sau trước, không có tương lai quá khứ, mà là xuyên suốt “Đồng Thời”.
    Do đó khi Ngài Thành Phật Ngài cũng nhìn thấy Tất Cả Chúng Sinh thành Phật.
    Đây là CHÂN LÝ, TỰ NHIÊN, NHI NHIÊN. Thệ Nguyện của Ngài ĐÃ THÀNH nghĩa là NIỀM TIN của chúng ta BẤT DIỆT.

    Bạn phải CHỐT được cái TÂM này thì cuộc đời tu học của bạn luôn luôn tràn ngập sự An Lạc, Tự Tại và Mãn Nguyện.

    TÓM LẠI: Với phương pháp “CHỈ CẦN XƯNG DANH” này không những lột tả tận cùng Trí Tuệ, Lòng Từ, Tâm Bi Mẫn của Đức Phật A Di Đà, mà nó còn khẳng định tất cả mọi công đức, lực dụng, công năng đã đầy đủ, hoàn thiện trong danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật.

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
    Diệu Hậu.

    Bình luận
    • Tuệ Tâm viết

      06/10/2025 lúc 15:54

      Nam mô A Di Đà Phật.

      Bình luận

Sidebar chính

Phá mê & Sanh tín

Hiểu Luật Nhân Quả như thế nào là đùn với lời Phật dạy

Hiểu Luật Nhân Quả như thế nào là đúng với lời Phật dạy

25/11/2024 57 Bình luận

Hiểu Luật Nhân Quả như thế nào là đùn với lời Phật dạy

Đức Phật thuyết Pháp bằng ngôn ngữ gì

18/06/2024 15 Bình luận

Cách cúng đầu năm mới, cúng tất niên

Cách Cúng Đầu Năm Mới

01/12/2021 83 Bình luận

Niệm Phật Tông Yếu-Pháp Nhiên Thượng Nhân

Niệm Phật Tông Yếu – Pháp Nhiên Thượng Nhân

24/10/2021 42 Bình luận

Trùng Tang chỉ là trò lừa bịp

Trùng Tang: Là thật hay cú lừa xuyên thế kỷ nhân danh Tâm Linh

27/09/2021 44 Bình luận

Đồng bóng còn gọi là Đồng cốt

Sự thật về Đồng bóng

13/04/2021 20 Bình luận

Lời Phật dạy về Hiếu đạo

Lời Phật dạy về Hiếu đạo

06/04/2021 35 Bình luận

A La Hán

A La Hán và 18 La Hán là ai

16/01/2021 6 Bình luận

Phật tử tại gia

10 điều quan trọng Phật tử tại gia cần biết.

31/12/2020 17 Bình luận

Cách thay đổi vận mệnh

Cách thay đổi vận mệnh

11/03/2020 38 Bình luận

Bài viết nổi bật

Mang thai nen tung kinh dia tang

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

30/10/2020 773 Bình luận

Cách niệm Phật tại nhà

Cách niệm Phật tại nhà

09/04/2020 553 Bình luận

Cách giải nghiệp phá thai

Cách giải nghiệp Phá thai

22/05/2019 394 Bình luận

Nghi thức niệm Phật chuẩn nhất

Nghi thức niệm Phật chuẩn nhất – Pháp sư Huệ Tịnh soạn

12/08/2019 295 Bình luận

Chép hồng danh Phật

Chép Hồng Danh Phật – Công đức lớn, dễ thực hành

24/09/2021 186 Bình luận

Thủ dâm

Thủ dâm tác hại khôn lường

29/08/2019 178 Bình luận

Ấn Tống Kinh Tượng Phật

  • Ấn Tống Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Địa Tạng
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫
  • Tượng Phật A Di Đà để trên xe Ô Tô Tượng Phật để xe Ô tô cực đẹp
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫
  • Ấn Tống Tượng Phật A Di Đà Thờ Cúng Tại Nhà Tượng Phật A Di Đà Thân Vàng Tịnh Tông - 70 cm
    Được xếp hạng 4.91 5 sao
    0 ₫
  • Máy niệm Phật đặt nghĩa trang Máy niệm Phật ngoài trời
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫
  • Ấn Tống Kinh A Di Đà Kinh A Di Đà
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫

Bản quyền © 2026 · Kinh Nghiệm Học Phật