Vì sao niệm Phật là Vua trong vạn pháp? Đứng trên góc độ ra khỏi Sanh tử luân hồi, không có pháp nào có thể nhanh chóng, dễ thực hành, thâu nhiếp mọi căn cơ, ai ai cũng có thể tu niệm được thì đúng niệm Phật là Vua trong muôn pháp, không thể có pháp nào siêu việt hơn cho được? 29 lý do tại sao niệm Phật là vua trong vạn pháp này sẽ cho bạn thấy được cái nhìn toàn cảnh:
1.Niệm Phật lợi ích vô thượng. Niệm Phật thành Phật là lợi ích lớn nhất, các việc tu hành khác chỉ đạt được lợi ích nhỏ. Công đức niệm Phật vô lượng, còn các công đức tu tập khác là có giới hạn, cho nên niệm Phật siêu việt hơn các pháp.
2. Niệm Phật phước thiện vô biên: Niệm Phật có thiện căn và phước đức vô lượng vô biên. Những tạo tác hữu lậu hữu vi của phàm phu khi tu hành các hạnh khác thì phước thiện có giới hạn. Cho nên niệm Phật siêu việt các hạnh.
3. Niệm Phật phước thiện đồng như Phật: Niệm Phật được phước đức thiện căn đồng như đức Phật, cho nên niệm Phật siêu việt các hạnh.
4. Niệm Phật bao hàm vạn đức: Danh hiệu của đức Phật A Di Đà là Vạn Đức Hồng Danh. Chúng ta xưng niệm Nam mô A Di Đà Phật, là tất cả vạn đức, vạn hạnh đều được bao trùm hết trong đó, cho nên niệm Phật là vua của vạn pháp…
Tuệ Tâm 2023.




PD. Diệu Hậu viết
“Một Hạnh Xưng Danh, vượt trên muôn Hạnh”.
Vì sao niệm Phật là Vua trong vạn pháp?
Nam Mô A Di Đà Phật.
Kính bạch Tuệ Tâm cùng các Huynh Đệ.
Cội nguồn Pháp Môn Tịnh Độ xuất phát từ 48 THỆ NGUYỆN của Tỳ Kheo Pháp Tạng. Khi Thệ Nguyện thành tựu là lúc Ngài Pháp Tạng đắc quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác với danh hiệu: A Di Đà.
Thế nên:
Nói đến Niềm Tin, chúng ta tập trung tất cả sự tin tưởng vào “Một Mình Đức Phật A Di Đà”.
Nói đến Tha Lực, chúng ta bắt buộc phải nương trực tiếp vào “Thệ nguyện của NGÀI”.
Nói đến Y giáo, chúng ta phải Y đúng “Bổn Nguyện thứ 18”.
Nói đến phương pháp thực hành, chúng ta: “Chấp Trì Danh Hiệu Một Lòng Không Tạp”.
Nói đến khai thị Tổ Sư, chúng ta căn cứ “Lời dạy của Tổ Thiện Đạo”.
Nói đến “đương cơ” chính là: Phàm phu hạ căn, hạ trí, ngu si, chỉ biết tạo nghiệp ác.
Mục đích của Đức Phật A Di Đà là: “Phát nguyện, cứu độ hết thảy, chúng sinh, khắp 10 phương, chỉ bằng một cách, bình đẳng, không có điều kiện”. Do đó chủ chương mà Ngài hướng đến chính là: Chúng sinh yếu thế nhất, lỗi lầm nhất, ngu si nhất: SẼ ĐƯỢC ƯU TIÊN.
Từ Bổn Nguyện Vĩ Đại này, Ngài được tôn vinh là Phật Trung Tri Vương. Hết thảy Chư Phật 10 phương trong Kinh A Di Đà, hiện tướng lưỡi rộng dài khen ngợi + ủng hộ (đức Bổn Sư thuyết Kinh), và hộ niệm + gia trì + tán thán (người chuyên niệm DH Nam Mô A Di Đà Phật), là từ Cội Nguồn của Tâm BI MẪN ấy.
Do đó tên Kinh “Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm”, cũng vì Bổn Nguyện Siêu Thế này mà được 10 phương chư Phật (đồng đặt tên).
Và cũng vì Bổn Sư đã căn cứ vào HOẰNG NGUYỆN của Phật A Di Đà mà nói Kinh, thế nên Kinh này mới gọi là MẬT NGỮ của 10 phương chư Phật.
Để tương xứng với sự tán thán vô cùng thù thắng ấy, Đức Phật A Di Đà đã trải qua 5 kiếp quán sát, tư duy căn cơ của hết thảy chúng sinh. Với Tâm Nguyện cứu độ họ, Ngài đã thành tựu DH của mình rồi tiếp tục tu tập trong Vô Lượng Kiếp. Quá trình tu hành đó, Đức Phật đã tích lũy công đức kết tập lại trong DH và trao cho chúng sinh.
“Chúng sinh nào Tin Nhận thì CHỈ CẦN XƯNG DANH” bởi đức Từ Phụ đã khai sẵn mạch pháp đến từng chúng sinh rồi. Vì thế mới nói: Đó là PHÁP NHĨ TỰ NHIÊN (tự nhiên được dẫn dắt về CỰC LẠC).
Tại sao công đức của Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật lại vượt trên công đức của tất cả mọi hạnh khác, pháp khác? Vì Danh Hiệu là Sinh Mạng của một vị Phật là Vua trong thế giới chư Phật. Nên công đức cũng được xuất phát từ Trí Tuệ, Tâm Lượng Vĩ Đại nhất của Ngài. Lòng BI MẪN ấy không có giới hạn, không có bờ mé, không thể đo đếm nên nó có đầy đủ công năng vượt hơn tất cả muôn hạnh, muôn pháp. Đó là công đức Vô Tướng được sản sinh bởi một Vị Phật Oai Đức như thế nên vô cùng Vi Diệu.
Các pháp hữu vi hữu lậu chỉ là cảnh giới có tướng, được sinh ra từ tâm chấp tướng của Phàm Phu thì không thể so nổi. Và cũng bởi các Hạnh tu khác không phải là Bổn Nguyện của Ngài, nên dù có thù thắng thế nào vẫn không thể xứng tầm với Danh Hiệu. Bản thân mỗi Hạnh đó chắc chắn là không thể đưa chúng sinh “Ra Khỏi Luân Hồi”, nhưng Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật lại dư khả năng, hơn nữa nó còn cứu được hết thảy căn cơ Thượng Đẳng Hạ Ngu.
Vì sự Nhiệm Màu của Danh Hiệu, mà trong Kinh VLT mới nói: “Đức Bổn Sư có mang hết biện tài của mình, để thuyết pháp cả ngày đêm liên tục trong suốt một đại kiếp, cũng tán thán không hết, tuyên thuyết không hết công đức của Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật”. Cho nên chúng sinh Tin tưởng vào Thệ Nguyện cứu độ của Phật A Di Đà, nương hoàng toàn vào công đức Vô Tướng của Danh Hiệu, thì Ngài sẽ đón về Cõi Báo Độ cảnh giới Vô Vi Niết Bàn là một điều không có gì vô lý.
Khi chúng sinh khế nhập căn cơ của mình là hạ căn, hạ liệt, vô lực, vô dụng thì cũng chính là họ đã từ cái tâm Vô Ngã mà dụng công. Vì ở vị trí cuối cùng của sự phân cấp rồi, thì làm gì con “Ta, Tôi” nữa (!) nên họ sẽ thọ nhận được toàn bộ sự nhiếp thủ của Quang Minh Phật. Đây là một điểm “nổi bật” để chúng ta thấy vì sao mà Tổ Thiện Đạo lại bảo “Phải đưa mình về vị trí: ZERO”.
Tại sao Tổ lại đặt cái vế: Tin căn cơ của mình là Vô Lực lên trước, sau đó mới đến tin vào Pháp của Phật? Nếu chúng ta liên kết khai thị của Ngài về niềm tin CĂN CƠ và GIÁO PHÁP, thì ở góc độ nào áp dụng, chúng ta cũng thấy hoàn toàn hợp lý. Chỉ khi chúng ta buông hết khả năng (tức đã nhận ra mình bất lực), thì lúc đó sẽ tận dụng triệt để công năng cứu độ của Đức Phật A Di Đà. Đây cũng chính là lòng Từ Bi, là Trí Tuệ, là khả năng giáo hóa vô cùng tuyệt xảo, tinh tế của Ngài.
Bởi Danh Hiệu chúng ta niệm là do Phật Di Đà trao cho, thế nên công đức trong DH đã tròn đầy viên mãn. Chúng ta Tin thì 1 niệm, 10 niêm, và hết thảy các niệm đều đã đủ điều kiện vãng sanh. Vì thế mà Bình Sanh chúng ta niệm, hay Lâm Chung mới niệm thì đều được Đức Phật A Di Đà nhiếp thủ.
Pháp môn tịnh độ là từ Quả hướng đến Nhân, nghĩa là lấy Quả Vị Giác Ngộ của đức Phật A Di Đà làm Nhân Tu Hành của chúng sinh. Thế nên công đức trong câu Danh Hiệu mà chúng sinh niệm mới đầy đủ trọn vẹn như vậy.
Học theo Mạch Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo, chúng ta được khai thị rằng: NIỆM PHẬT NHẤT ĐỊNH VÃNG SANH là căn cứ ở tất cả những yếu tố đã trình bày như trên.
Tiếp theo chúng ta cảm thọ khai thị Niệm Phật của Tổ, Ngài nói rằng: Niệm Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật là Chánh Định Nghiệp “PHÙ HỢP” với Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà.
Trong phần Chánh Hạnh Niệm Phật, Tổ phân tích:
Đã nói đến Chánh Định Nghiệp thì: DUY NHẤT MỘT THỨ.
Đã nói đến Bổn Nguyện là: CHỈ CẦN XƯNG DANH.
Vì thế để “PHÙ HỢP” với Bổn Nguyện chắc chắn không hạnh gì ngoài hạnh “XƯNG DANH”.
Chúng ta không khế nhập được Bổn Nguyện một cách đúng đắn vì chúng ta (quên mất) điều kiện: PHÙ HỢP.
Chánh định nghiệp Niệm Phật chính là: Nhất hướng chuyên niệm Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phât “Trên thì trọn một đời, Dưới cho đến mười niệm”. Tiêu chuẩn này để thực hành Một Lòng Không Tạp. Bởi Phù Hợp với “Ý Đồ” của Ngài nên công năng của nó mới triệt để, mới cứu được chúng sinh Tận Cùng của Đáy. Nghĩa là tội cấu của chúng ta sâu đến đâu, lớn đến đâu thì Tâm Lượng Từ Bi của Ngài lớn tới đó, sâu chừng đó.
Đến đây chúng ta thấy rất rõ rằng “Tất cả công đức từ Pháp Hữu Vi của tâm Phàm Phu Chấp Tướng” LÀM SAO ĐO ĐƯỢC. Chúng ta Tu Tịnh Độ để NGAY ĐỜI NÀY về Cực Lạc mà lại coi (những pháp khác là công đức) thì bạn cứ làm, nhưng sẽ phải XẾP HÀNG bằng “ức kiếp” mới đến lượt.
“Một Hạnh Xưng Danh Vượt Trên Muôn Hạnh” là một HẠNH TU ĐẶC BIỆT. Chúng sinh chỉ có được Hạnh Tu Này khi thừa hưởng Công Đức của bậc TRUNG TRI VƯƠNG. Vì thế Niệm Phật mới là Vua trong vạn pháp.
Nếu đã học những lời khai thị của Tổ Sư, bạn “truy xuất” lại cảm thọ của mình sẽ thấy các Ngài nói: Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật là “Vạn Đức Hồng Danh” đấy.
Tất cả công đức, lực dụng để được vãng sanh đều đã tròn đầy viên mãn trong câu Phật Hiệu, nên bản thân câu Phật Hiệu chính là Công Năng, là Nhân Tố đưa mình về Cực Lạc.
Ngay trong đời này, chúng ta muốn cầu bất cứ điều gì thì chỉ cần xưng niệm câu Phật Hiệu là đầy đủ. Xưng niệm Nam Mô A Di Đà Phật sẽ có được hai loại công đức và lợi ích. Đó gọi là hai lợi ích hiện tại và tương lai.
Chúng ta Niệm Phật thì Phật A Di Đà sẽ tiếp dẫn về Cực Lạc.
Khi thành Phật, chúng ta lại rộng độ chúng sanh.
Thế nên muốn về Cực Lạc mà không tiếp nhận Công Đức từ chính DANH HIỆU, lại đi thiết lập công đức bằng những hạnh tu khác, thì chẳng phải bạn đang cầu phước báu thế gian ư?
PHƯỚC BÁU GIẢI THOÁT là chỉ MỘT LÒNG NIỆM PHẬT A DI ĐÀ.
Khi CHỈ NIỆM PHẬT thì mới được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm.
Chư Phật đã hộ niệm thì lo gì gặp duyên cảnh?
Chư Phật đã gia trì, thì phước báu thế gian bạn không muốn cũng sẽ đến.
Nếu bạn tu theo Mạch Thánh Đạo Môn thì các Tổ sẽ khuyên bạn tu Phước Huệ là bởi dòng tu đó TỰ chứ không phải THA. Vì Phước mà bạn làm là để bù cho cái TÂM chưa TIN vào Phật Hiệu. Khi bạn đã TIN thì Phước nào sánh nổi chứ?
Không phải chúng ta chỉ niệm Phật mà dừng các việc khác, tư duy đó lại là Tà kiến. Chúng ta cần tách bạch rõ rằng: “Các hạnh tu khác không phải là mục được Liệt Kê trong lịch trình đi về Cực Lạc”. Lộ trình mà chúng ta đi chỉ có duy nhất DH Nam Mô A Di Đà Phật Vận Hành ĐỘC LẬP. Nên tất cả các Hạnh khác chỉ là Pháp tùy duyên, không thể đủ tư cách thay thế Danh Hiệu.
Chúng ta đừng nhầm lẫn cho rằng vì mình thiếu phước báu nên niệm Phật bị chướng ngại, thế rồi đi tìm cách đôn Phước lên. Đây là bạn đã đi lệch đường, bạn không đi thẳng lại rẽ qua đường vòng làm gì. Khi bạn đã Tin vào Công đức của câu Phật Hiệu và bạn chỉ tâm tâm vào việc Niệm Phật, thì Chư Phật gia trì cho bạn “Vượt Ải”, chứ bạn dùng phước báu để “đối trả thử thách” thì hỏi Phước Báu của bạn LỚN ĐẾN ĐÂU (?)
Và nếu bạn cần phước báu để “dễ tu” thì Danh Hiệu Phật chả có nghĩa với bạn rồi (!)
Chỉ có Công Đức Vô Tướng của Đức Phật A Di Đà mới đưa chúng ta tới cảnh giới Báo Độ. Còn tất cả mọi công đức mà chúng sinh CHẤP tích lũy, thì dù có lớn như VŨ TRỤ vẫn không thể RA KHỎI TƯỚNG CÓ.
Pháp môn Tịnh Độ theo mạch Thuần Chánh của Tổ Sư Thiện Đạo là pháp nương Tha Lực hoàn toàn, đã nương tựa hoàn toàn thì niềm tin của bạn phái cống hiến 100%. Kể cả bạn bỏ ra tới 99,9% thì vẫn không coi là Tha Tuyệt Đối. Với người Thế Gian thì 1% cũng có hy vọng, nhưng với pháp Thế Xuất bạn ĐỪNG CÓ ĐÙA.
Chúng ta dùng phước báu của mình để tu tập cho dễ thì đúng là tư duy của người nửa Tha nửa Tự. Nếu cần phải có phước báu thì Thệ Nguyện cứu độ Bình Đẳng, Không Phân Biệt, Không Điều Kiện của Đức Từ Phụ chẳng phải là Nguyện Từ Bi rồi.
Và Tổ Thiện Đạo nói rằng Phật A Di Đà “Ưu Ái” chúng sinh hạ căn, hạ trí, hạ ngu, hạ đẳng, vô dụng sẽ là lời nói SAI hay sao? Vì Chúng sinh đó phải có Phước để dễ tu mà Tổ lại bảo họ được ưu tiên cứu trước?
Chúng ta Nương vào thuyền ⛵ Nguyện Lực 100% thì đó là đã ngồi trên một phương tiện hoành tráng có bảo hiểm, có bảo lãnh. Tới BỜ được đón rước ngay (vào Báo Độ)
Chúng ta dùng (Tự Lực) để băng qua, thì giống như vượt biên trái phép bằng chiều xuồng èo uột. Nếu có sang được BẾN thì cũng phải vào trại tị nạn một thời gian đó (ở Biên Địa).
Bạn cho rằng có tội thì làm phước bù lại. Chúng ta có biết lỗi lầm mà có hình tướng thì hư không còn thiếu chỗ chứa đấy, vậy lấy tư cách gì mà bảo phước hữu hạn sẽ lấp vào là đủ?
Đức Phật A Di Đà đã chuyển hóa công đức Vô Tướng của Ngài thành danh hiệu Hữu Tướng rồi trao cho chúng sinh. Chúng sinh Chấp Tướng Danh Hiệu mà Niệm thì sẽ về cảnh giới Cực Lạc. “Dùng Danh Hiệu Hữu Tướng để khế nhập cảnh giới Vô Tướng”, thì DUY NHẤT khi tu tập theo mạch Thuần Chánh của Tổ Sư Thiện Đạo chúng ta mới thấy.
Chỉ có công đức Vô Lậu của Vua Phật mới đầy đủ công năng để “cõng” những chúng sinh ác cơ cõi Ta Bà đời ngũ trược về Cực Lạc. Còn Mười phương chư Phật cũng không thể làm.
Tại sao công đức trì niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật lại lớn như vậy, vì đó là công đức vô tướng, là pháp giải thoát, là cảnh giới của Phật A Di Đà. Tất cả các pháp tu khác dù có lớn cỡ nào cũng là pháp có tướng và không thể giải thoát. Hơn nữa người phát tâm Chuyện Niệm Phật A Di Đà là người đang tiếp nhận Hạnh Bản Nguyện nên được 10 phương chư Phật hộ niệm gia trì tán thán. Nên Một câu A Di Đà Phật mà họ Niệm đã gom nhiếp mọi công đức vạn hạnh, pháp môn trong đó rồi.
Chúng ta muốn xác lập niềm tin của mình vững chắc thì phải hiểu rõ về ý nghĩa thực thụ của Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật. A Di Đà Phật là bản thể của 10 phương chư Phật, là Phật tánh của tất cả chúng sinh, nó chứa đựng đầy đủ công đức của hết thảy Phật Pháp Tăng, của toàn bộ Kinh Chú Đà la ni, của tất cả Thiện Pháp nên nó mới gọi là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, Vô Lượng Công Đức.
A Di Đà Phật không những là danh hiệu của Bồ Tát Pháp Tạng khi đắc quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác, mà còn là danh hiệu của hết thảy 3 thời 10 phương chư Phật, nên niệm Nam Mô A Di Đà Phật là niệm Toàn Bộ Thế Giới Chư Phật.
–> Đây là lý do Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật là VUA của vạn Hạnh, vạn Pháp.
Chúng ta cũng đừng cho rằng phải thuộc 48 nguyện thì mới được vãng sanh, bởi nếu cần phải thuộc thì những người già, người vô trí, trẻ em, hay loài động vật làm sao tu được.
Và cũng không thể nói phải phát 48 nguyện ấy mới được Phật Di Đà chấp nhận.
Chúng ta đối chiếu với dụng ý ưu tiên chúng sinh hạ căn hạ trí trong Bổn Nguyện của Ngài thì có phải những yêu cầu đó là “Đánh Đố” chúng sinh hay không?
Căn cơ của chúng ta thời ác ta bà ngũ trược này không thể áp dụng cách khế nhập của dòng Thánh Đạo. Nếu bạn không nhận ra điểm này mà Chấp Chặt vào Pháp đó thì đúng là Đức Từ Phụ cũng “Bó tay, từ chối, bỏ cuộc” chờ bạn tỉnh lại vậy.
Và nếu cho rằng “Chỉ Niệm Duy Nhất Danh Hiệu Phật A Di Đà” thì tâm phải giống Phật A Di Đài, hành vi phải như Phật A Di Đà. Tại sao chúng ta lại tự đưa ra điều kiện KHÓ và VÔ LÝ như thế? Đây không phải là Yếu Tố Phù Hợp với căn cơ hạ liệt hạ trí của mình.
Xin nhắc lại rằng “Phù Hợp” là thước đo để chúng ta áp dụng tu tập.
Chúng ta phải chọn điều kiện mà mình có thể làm được. Nghĩa là:
– Tuân Thủ Bổn Nguyện,
– Tận Dụng Cơ Hội mà Ngài Ưu Ái cho hàng Hạ Căn, Hạ Chí.
Khi “PHÙ HỢP VỚI BỔN NGUYỆN VÀ PHÙ HỢP VỚI CĂN CƠ CỦA MÌNH”, thì việc cứu độ mới Hoàn Mãn.
Bạn nên nhớ Việc Cứu Độ chỉ hoàn thành khi Bạn Hợp Tác với Ngài, Hợp tác ở đây là Ngài bảo Niệm DH của Ngài, chứ không nói bạn làm việc khác.
Chỉ có niệm danh hiệu của Đức Phật A Di Đà mới được quang minh của Ngài nhiếp thủ, vì thế bất luận chúng ta ở đâu cũng được Ngài soi chiếu không rời bỏ. Đây cũng thể hiện trong Tâm ta có Phật trong Tâm Ngài có chúng ta.
Điều này khác với quan niệm của Thiền Tông. “Tâm ta là Phật A Di Đà, Phật A Di Đà chính là Tâm ta”. Thiền Tông dùng khả năng của tự thân để khế nhập tự tánh Di Đà, là pháp chấp Lý bỏ Sự. Mục đích của việc này là tự mình nhận ra bản thân đã có sẵn “Phật tánh”, thông qua việc chuyển hóa vọng tưởng, phiền não để “Tự Tánh Hiển Lộ”.
Với Tịnh Độ thì Niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật là Lý Sự đầy đủ, dứt bặt sự đối đãi phân biệt nên mới nói Bình Đẳng Không Điều Kiện.
Nếu không toàn tâm toàn ý Niệm Phật thì sự cảm ứng của bạn với Phật A Di Đà sẽ rất yếu, vì thiếu duyên Thân Cận, thiếu sự Gần Gũi với Ngài.
Tổ Thiện Đạo nói trong Bát Chu Tán rằng: “Tất cả thiện nghiệp mong cầu phước chẳng bằng chuyên niệm hiệu Di Đà”. Đại Sư Ấn Quang cũng bảo: “Người chân thật Niệm Phật thì không cầu phước báu, phước báu cũng tới”.
Chúng ta là người cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc nên thứ phước báu mà chúng ta cần đó là trí tuệ giải thoát (tin Phật, nương Phật, niệm Phật, thành Phật).
Chúng ta tu học pháp môn Tịnh Độ phải y cứ từ giáo nghĩa thuần chánh Tịnh Độ, chứ không y cứ vào giáo pháp của Thánh Đạo Môn. Mình phải nhìn thấy phương pháp tu tập và kết quả thành tựu của 2 lối tu là muôn trùng khác nhau.
– Tu học theo Mạch Thuần Chánh giống như chúng ta Chấp Hành Mệnh Lệnh, Chỉ Thị của Đức Phật A Di Đà. Chỉ Thị này là lời kêu gọi của Ngài nên nó thể hiện lòng Bi Mẫn tột cùng, là mục tiêu cứu độ bình đẳng không điều kiện, là ưu tiên tiếp nhận chúng sinh yếu thế nhất. Ngài sẽ lấy tiêu chuẩn căn cơ của chúng sinh hạ căn hạ trí. Nên Dễ Tu, Dễ Chứng.
– Mạch Thánh Đạo Môn là các Ngài y cứ vào giáo nghĩa của pháp môn mình tu chứ không y cứ vào giáo lý Thuần Chánh. Các Ngài lại khế nhập từ căn cơ bậc cao để đưa ra tiêu chuẩn nên cách đó chính là Tự lực. Do đó Khó Tu, Khó Chứng.
Chúng ta phải biết chỉ có đức Phật A Di Đà mới Phát Thệ Nguyện cứu những chúng sinh Hạ Căn, Hạ Chí, Vô Lực, Vô Dụng. Còn Mười phương chư Phật chỉ là đồng tình tán thán ủng hộ Phật A Di Đà chứ không phải các Ngài phát nguyện giống như vậy.
Vì chúng ta bị Vô Minh, Phiền Não, Vọng Tưởng khống chế, nên:
Kinh Địa Tạng mới nói đó là những chúng sinh “Cang Cường Khó Độ”.
Kinh Bi Hoa mới ghi 1.400 đức Phật từ chối không thể cứu.
Đức Bổn Sư mới bảo: “Ta ở trong đời ác ngũ trược thật hành việc khó này: đặng thành bậc Vô Thượng Chánh Giác và vì tất cả thế gian nói kinh pháp khó tin này, đó là rất khó”
Vì KHÓ như thế mà Đức Bổn Sư làm được nên 10 phương chư Phật khen rằng “Đức Thích Ca Mâu Ni Phật hay làm được việc rất khó khăn hi hữu”.
Vì KHÓ như vậy mà Đức Phật A Di Đà đã Phát Thệ Nguyện Siêu Thế, nên 10 phương chư Phật Tôn Vinh Ngài là “Phật Trung Tri Vương”.
Vị VUA PHẬT ẤY đã vì chúng sinh như thế nào:
– Thệ Nguyện: Nguồn cội từ Tâm Lượng MUỐN cứu độ Hết Thảy 10 phương chúng sinh. Nên dù đã là Cổ Phật, Ngài lại thị hiện Tỳ Kheo Pháp Tạng để Phát 48 Thệ Nguyện.
– Năng Lực: Vì Lòng Bi mẫn tột cùng, Ngài thấu hiểu tường tận căn cơ chúng sinh mà xây dựng Cõi Nước Cực Lạc để cứu độ họ. Nên tâm lượng ấy Sâu Rộng, Vĩ Đại này đã vượt qua khả năng của Tất Cả chư Phật.
– Trí Tuệ: Dùng Danh Hiệu của mình để MỘT CÁCH mà “cứu Tất Cả”. Đây cũng là điểm đặc biệt mà hết thảy chư Phật khâm phụ, tán thán khen ngợi.
– Hạnh Tu: Từ Đại Nguyện, Đại Hạnh tu tập trong Vô Lượng Kiếp, đã thành Đại Lực có khả năng nhiếp hóa tất cả chúng sinh. Đồng thời Ngài cũng hoãn mãn quả vị Chánh Giác của mình. Nghĩa là Ngài Thành Phật thì mới chứng minh Thệ Nguyện của Ngài có HIỆU LỰC.
Chúng là phải GĂM CHẶT câu này: “Niệm Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật chính là Hạnh PHÙ HỢP Bản Nguyện của Đức Phật A Di Đà”.
Chỉ có Danh Hiệu này, chỉ khi xưng niệm Danh Hiệu này mới chứng minh: MỘT HẠNH XƯNG DANH VƯỢT TRÊN MUÔN HẠNH.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
Diệu Hậu.
Tuệ Tâm viết
Nam Mô A Di Đà Phật