Phật Quang hay Ánh Hào Quang của Phật A Di Đà tràn ngập hư không pháp giới nhưng chỉ nhiếp thủ bảo vệ người niệm Phật. Quán Kinh nói: “Khi đức Phật A Di Đà cử động thân liền phóng ra vô lượng ánh sáng. Ánh sáng chiếu khắp đến mười phương thế giới, nhiếp thủ không bỏ chúng sanh niệm Phật.”
Đại sư Thiện Đạo giải thích như sau: “Ánh sáng của đức Phật chiếu khắp nơi, chỉ nhiếp người niệm Phật.” “Chỉ” nghĩa là chuyên môn, “Nhiếp” là nhiếp thủ cứu độ, duy nhất cứu độ chúng sanh niệm Phật. Trong Vãng Sanh Lễ Tán, Đại sư Thiện Đạo giải thích: “Phật Quang của đức Phật A Di Đà vô lượng, chiếu khắp mười phương không bị chướng ngại, chỉ thấy chúng sanh niệm Phật liền nhiếp thủ không bỏ, cho nên gọi là A Di Đà.”
Đức Phật A Di Đà có ánh sáng vô lượng, ánh sáng vô biên, ánh sáng vô ngại. Những ánh sáng này khởi tác dụng ở đâu? Chỉ riêng quán sát tìm kiếm bảo hộ, không bỏ những chúng sanh niệm Phật nên mới gọi là A Di Đà. Nếu không phải chỉ nhiếp chúng sanh niệm Phật thì Ngài không được gọi là A Di Đà. Nếu chúng ta niệm Phật mà Phật Quang của Ngài không nhiếp thủ chúng ta thì Ngài không được gọi là Phật A Di Đà…
Tuệ Tâm 2023.




T viết
Nam Mô A Di Đà Phật con xin chào thầy con là người sơ cơ mới niệm Phật con có thắc mắc về cách niệm Phật
Con nghe các thầy khác giảng về niệm Phật như Hòa Thượng K và một số thầy khác thì khi niệm Phật cần phải nhất tâm bất loạn không được tạp niệm như vậy mới có thể vãng sanh nếu không thì chỉ như miệng niệm Phật tâm tán loạn đau mồm rát họng cũng bằng không
Vậy ở đây lại nói là tạp niệm vẫn vãng sanh chỉ cần niệm Phật là được Phật tiếp dẫn không sợ tạp niệm những người này họ lấy căn cứ vào đâu mà giảng như vậy và cũng không phải là những nhà sư giảng
Con rất muốn thoát khỏi luân hồi sinh tử ngay trong kiếp này nhưng con đang mẫu thuẫn quá kính mong thầy hoan hỷ chỉ dạy.Nam Mô A Di Đà Phật
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật!
Cũng đồng một mục đích ra khỏi sanh tử luân hồi mà đức Phật Thích Ca vì căn tánh của chúng sanh chẳng đồng nên phải thuyết giảng tới 84.000 pháp môn, đường tu có nhiều pháp chớ đâu riêng gì một pháp! Pháp có khó, có dễ, có sâu, có cạn. Ví như đi từ Hà Nội vào Sài Gòn, bạn có nhiều cách: Đi Bộ, đi xe đạp, xe máy, ô tô, tàu hỏa, máy bay…Nếu đi bộ thì vừa nhọc sức vừa lâu xa, vất vả trăm bề. Nếu đi xe đạp và xe máy, tuy có nhàn hơn đi bộ, nhưng cũng gian nan khổ cực. Nếu đi tàu hỏa hoặc máy bay thì chẳng nhọc sức tốn công, cứ lên ngồi rồi sẽ tới.
Đường về Cực Lạc Tịnh Độ cũng vậy, có người tụng kinh cũng về được, có người trì chú cũng về được, có người tham thiền cũng về được và có người niệm Phật cũng về được. Hết thảy các pháp ấy được chư Tổ phân ra làm 2: Tự Lực và Tha Lực. Tự lực nghĩa là chỉ nương nơi sức của mình, còn Tha Lực thì nương nơi lực nhiếp hộ và Bản nguyện tiếp dẫn của Phật A Di Đà. Ở đây chỉ có khó và dễ chớ không có đúng sai.
Như pháp tự lực niệm Phật mà bạn nghe các pháp sư ấy giảng thì phải giữ giới tinh nghiêm, tu hành miên mật, niệm Phật cho thành phiến, đắc tam muội… mới có khả năng vãng sanh.
Còn pháp Tha Lực thì chỉ nương nơi Phật lực, do đó mà an nhiên trên thuyền Đại Nguyện của Phật A Di Đà, nắm chắc được phần vãng sanh, vì trong nguyện thứ 18 đức Phật A Di Đà nguyện: “Nếu ta thành Phật, 10 phương chúng sanh, chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi nước ta, xưng danh hiệu ta cho đến 10 niệm, nếu chẳng vãng sanh, ta thề không ở ngôi Chánh Giác.”
Pháp này là do Tổ Thiện Đạo, hóa thân của đức Phật A Di Đà thuyết, được các pháp sư Huệ Tịnh, Pháp sư Tịnh Tông nỗ lực hoằng dương giảng dạy, để cứu vớt chúng sanh thời mạt. Bạn sao không chịu nghe đọc cho kỹ, lại vội vàng đến mức bảo là “những người này họ lấy căn cứ vào đâu mà giảng như vậy và cũng không phải là những nhà sư giảng”.
“Những người ấy” là pháp sư Tịnh Tông, là Pháp Sư Huệ Tịnh, các Ngài chẳng phải là Sư thì bạn gọi bằng gì? Còn “căn cứ” là căn cứ nơi Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ của Tổ Thiện Đạo và nơi Tịnh Độ Tam Kinh. Người học Phật chân chánh ai cũng biết rằng vọng ngữ là tội đặc biệt nặng, cho nên nếu chẳng phải bậc Tổ Sư, ai dám lộng ngôn mà Khai Tông Lập Giáo hả bạn?
Người học Phật ngày nay rất kỳ lạ, họ tin và chấp chết cứng vào lời pháp sư giảng kinh mà chẳng chịu xem lại xem những lời ấy có hợp với kinh văn, có y cứ nơi chư Tổ dạy hay không. Ví như “Phải nhất tâm bất loạn mới được vãng sanh” – Tịnh Độ Tam Kinh Phật đâu có dạy như thế? Chuyện vãng sanh cũng vậy, Tịnh Độ Tam Kinh chỉ duy nói về 9 phẩm vâng sanh nơi Báo Độ Cực Lạc, có dòng nào Phật dạy về cái cõi lạ lùng là “Phàm Thánh Đồng Cư Độ” đâu?
T viết
Nam Mô A Di Đà phật.nghe những lời thầy khai thị như ánh mặt trời tỏa sáng phá tan mây đen trong lòng con con xin tri ân công đức của thầy đã giúp con phá tan tà kiến con xin sám hối về những tà kiến đã nói ra
Nam Mô A Di Đà Phật
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.
Mong bạn vững tâm và tinh tấn hành trì!
Lê viết
Dạ.Thưa Tuệ Tâm.Con thấy Tuệ Tâm có nói ở bình luận trên tới việc đi từ Hà Nội vào Sài Gòn bằng tàu hỏa,máy bay thì chẳng nhọc sức tốn công,cứ ngồi rồi sẽ tới.Nhưng cũng có vụ tai nạn tàu lửa,tai nạn máy bay làm cho người chết hàng loạt Tuệ Tâm ạ.Tuy hiếm gặp nhưng khi gặp rồi thì người chết hàng loạt.Vậy thì việc này như thế nào vậy Tuệ Tâm.Con sợ việc tu niệm Phật theo Bản Nguyện của Tổ Thiện Đạo có 1 điểm yếu ạ.Con đang phân vân.Xin Tuệ Tâm giải đáp giúp con.Con xin cảm ơn Tuệ Tâm
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.
Người ta ví ngồi trên Tàu hoả máy bay, là chỉ cho sự dễ dàng thuận tiện. Nay bạn lại lấy chuyện đời lẫn sang sang việc đạo, suy diễn ra chuyện tai nạn này nọ…sao đang vô sự lại sinh sự ra như thế hả anh bạn trẻ? Bạn nên siêng năng niệm Phật đi, nếu không chịu siêng niệm Phật, từ nay có hỏi gì, Tuệ Tâm cũng thà bị hủy báng chứ nhất định không trả lời nữa vậy!
PD. Diệu Hậu viết
“Muốn được Phật A Di Đà đón, chúng ta phải nắm được nguyên tắc và cơ chế cứu độ của Ngài”.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Kính Bạch Tuệ Tâm, và các Huynh Đệ đồng tu.
PS Huệ Tịnh mô tả về sự nhiếp thọ của ánh sáng quang minh Phật A Di Đà như sau:
“Ánh sáng của đức Phật A-di-đà, tựa như sóng điện từ, từ trường, nên chúng ta không thể nhìn thấy được. Song, nó không chỉ bao trùm địa cầu mà còn bao trùm khắp cả vũ trụ. Chiếu sáng khắp cả vũ trụ trong mười phương thế giới không hề bị chướng ngại bởi hữu hình hay vô hình. Mục đích của ánh sáng này, chính là đang cứu độ chúng sanh, đang nhiếp thủ chúng sanh. Một người nếu muốn vãng sanh Cực Lạc, nhất hướng chuyên niệm một câu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, thì sẽ được ánh sáng của đức Phật A-di-đà nhiếp thủ không bỏ”.
Hào Quang Phật A Di Đà thường chiếu khắp mọi nơi, mọi lúc, không gằn mé, không ngăn ngại nhưng ánh sáng ấy lại chỉ đi tìm chúng sinh niệm Phật, chỉ nhiếp thủ chúng sinh niệm Phật chứ không nhiếp thủ chúng sinh tu hạnh khác.
Quang minh của Phật A Di Đà có hai loại là Tâm Quang và Thân Quang. Thân Quang là quang minh phát ra từ trên người có chức năng soi chiếu. Tâm Quang là đạo quang cảm ứng giữa Phật với chúng sinh mà phát ra, và có chức năng nhiếp thủ. Tất cả vạn vật cùng chúng sinh trong khắp vũ trụ đều được quang minh của Phật A Di Đà soi chiếu nhưng chỉ có những chúng sinh niệm danh hiệu của Ngài mới được quang minh thiếp thủ giữ lấy không bỏ (tức cảm ứng với Tâm Quang).
Đức Phật A Di Đà có 12 đạo ánh sáng, trong đó có một thứ ánh sáng không bao giờ tắt, chiếu soi không ngừng nghỉ, không gián đoạn đó là ánh sáng Vô Lượng Quang. Ánh Sáng này sẽ nhiếp thủ chúng sinh niệm Phật, tức là có thể bao bọc và thu hút những ai hướng về Ngài (ánh sáng từ Tâm Quang). Ánh sáng Vô lượng Quang được xem như một “cái hộp” chứa đựng và bảo vệ những người niệm Phật, giúp họ được an lạc và giải thoát. Chúng ta Tin và hiểu rõ nguyên lý cứu độ của Ngài thì cương quyết cả đời chỉ niệm Danh Hiệu của Đức Phật A Di Đà.
Để liên kết với sóng nhiếp thủ của Phật A Di Đà, chúng ta cần xác lập 2 yếu tố sau:
-Chủ thể muốn vãng sanh Cực Lạc là chính bản thân Mình (chúng sinh),
-Chủ thể phát nguyện tiếp dẫn là bản thân Đức Phật A Di Đà.
Đây là điểm xác lập đầy đủ về đối tượng cho công cuộc Vãng Sanh và Cứu Độ (nghĩa là Đức Phật A Di Đà muốn cứu chúng sinh, nhưng Ngài không thể làm một mình, do vậy phải có cả 2 đối tượng là chúng sinh (người muốn cứu) và Phật A Di Đà (người đến cứu).
=>Việc cứu độ chúng sinh không chỉ phụ thuộc vào Phật A Di Đà mà còn cần sự tương tác từ phía chúng sinh. Sự kết hợp giữa nguyện lực của Phật và Niềm Tin của chúng sinh mới tạo nên một công cuộc cứu độ hoàn chỉnh và viên mãn.
Chúng ta cùng phân tích:
1/Chủ thể MUỐN vãng sanh Cực Lạc là chính bản thân MÌNH (chúng sinh).
Người tu phải luôn nghĩ rằng bản thân mình tu tập là để thoát ly luân hồi vãng sanh ngay trong đời này, xác lập rõ ràng như vậy thì tất cả mọi điều phía sau đều xuất phát từ đây mà thành lập. Chúng ta thường hâm nóng và thắp sáng mục tiêu là bởi để xác lập trong tâm mình “Muốn Gì”, thì tất cả những thứ mình làm đều hướng đến điều đó. TRỤ TÂM ở đó.
-Người học Phật cầu giải thoát, thì từng giây từng phút trong tâm ý của mình phải luôn hướng đến mục tiêu vãng sanh Cực Lạc Thành Phật. TRỤ MỘT NGUYỆN này.
-Đức Phật A Di Đà dùng danh hiệu của Ngài để nhiếp hóa chúng sinh, Danh Hiệu chính là Quang Minh của Ngài. Niệm Danh Hiệu Phật A Di Đà giúp chúng sinh tiếp xúc với ánh sáng từ bi vô lượng của Ngài. Vì thế MÌNH niệm danh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” là cách để kết nối với sóng tiếp dẫn của Ngài. TRỤ MỘT NIỆM này.
2/Chủ thể phát nguyện tiếp dẫn là bản thân Đức Phật A Di Đà.
Đối với lời Phát Nguyện tiếp dẫn của Đức Phật A Di Đà, người tu phải hiểu rằng Ngài là Vị Phật Duy Nhất phát 48 nguyện cứu độ chúng sinh, đặc biệt là Nguyện thứ 18, Ngài: “TỰ NGUYỆN CỨU ĐỘ HẾT THẢY 10 PHƯƠNG CHÚNG SINH MỘT CÁCH BÌNH ĐẲNG VÔ ĐIỀU KIỆN”.
-Trong Kinh Bi Hoa nói không chỉ 1.400 đức Phật mà tất cả các Đức Phật đều không thể cứu được chúng sinh phiền não nghiêp chướng, sâu nặng ở Cõi Ta Bà đời ác ngũ trược. Chỉ có một mình Đức Phật A Di Đà đứng ra bảo lãnh và Phát Nguyện cứu họ, vì vậy chỉ có Nương Tựa Duy Nhất vào năng lực cứu độ của Ngài thì chúng ta mới về Cực Lạc được. Không có Ngài thì không có Lời Thệ Nguyện Cứu Độ Kia.
-Trong kinh Pháp Hoa có câu chuyện về một người cha dùng thân mình làm con tin để cứu các con khỏi nguy hiểm. Đây là một hình ảnh ẩn dụ, thể hiện sự hy sinh cao cả của Phật để cứu độ chúng sinh (ở câu chuyện này chúng ta hãy hình dung người cha đó chính là Đức Phật A Di Đà, các con của ông là chúng sinh)
=> “ĐỨC PHẬT DÙNG THÂN MÌNH LÀM CON TIN, CỨU CHUỘC TẤT CẢ CHÚNG SANH RA KHỎI ĐƯỜNG ÁC, KHIẾN ĐƯỢC GIẢI THOÁT”. Hàm nghĩa diễn tả lòng bi mẫn vô hạn của Đức Phật, đã sẵn sàng hy sinh bản thân để cứu độ chúng sinh, giúp họ hết khổ đau và được thoát khỏi sinh tử.
Chúng ta chuyên tâm xưng niệm DH Nam Mô A Di Đà Phật, tha thiết muốn được về Cõi Nước của Ngài thì Tâm mình và Tâm Phật A Di Đà được kết nối qua sóng Tâm Quang nhiếp thủ của Ngài. Liên kết được với Ngài chính là đây.
Như thế, người niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc cõi nước của Đức Phật A Di Đà, là người chỉ Chuyên Tâm xưng niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, thì khế hợp với “Bổn Nguyện của Ngài”.
Theo đó Tổ Thiện Đạo dạy: Đã Chuyên Lại Càng Chuyên Hơn.
(đây cũng chính là chúng ta phải nương hoàn toàn, nương duy nhất vào DH Nam Mô A Di Đà Phật thì mới chạm được vào Quang Minh của Ngài tức được Độ).
Kinh Vô Lượng Thọ nói: “Nếu có chúng sinh nào thấy hay chạm được ánh sáng của con thì được an lạc, khởi từ tâm làm điều lành, sau sinh về nước con”.
Đức Phật A Di Đà dùng Danh Hiệu của Ngài để cứu độ chúng sinh, vì thế ngày đêm Ngài phóng Quang Minh đi tìm chúng sinh Niệm Phật nhiếp thủ không bỏ. Chúng sinh phát khởi Tín tâm niệm Danh Hiệu Ngài thì Tâm Phật luôn ở trong Tâm chúng sinh, đó là sự liên kết dung hòa trên cùng một thể sinh mạng:
-Trong Quán Kinh ghi: “Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, thâu nhiếp chúng sanh niệm Phật mãi không bỏ”.
-Kinh A Di Đà mô tả: “Đức Phật đó, hào quang sáng chói vô lượng, soi suốt các cõi nước trong mười phương không bị chướng ngại vì thế nên hiệu là A Di Đà”.
Đại sư Thiện Đạo đem văn kinh trong kinh A-di-đà và văn kinh trong Quán kinh kết hợp lại, giải thích hoàn chỉnh như sau: “Ánh sáng của đức Phật A-di-đà là vô lượng, chiếu khắp mười phương thế giới không bị chướng ngại, chỉ quán chúng sanh niệm Phật, nhiếp thủ không bỏ, nên gọi là A-di-đà”.
Khi chúng sinh niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật và tin nhận sự cứu độ của Ngài, thì tất cả công đức trong danh hiệu mà Phật đã tích lũy từ vô lượng kiếp, sẽ chuyển ngay sang cho chúng sinh. Nút chuyển giao công đức này phụ thuộc hoàn toàn vào: Niềm Tin của chúng sinh.
Do vậy mấu chốt là chúng sinh phải TIN vào sự Cứu Độ của Đức Phật A Di Đà:
Tin bằng cách nào? Chỉ Niệm Danh Hiệu của Ngài.
Niệm như thế nào? Nhất Hướng Chuyên Niệm
Chuyên đến khi nào? Niệm cho đến lúc lâm chung.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật!
Diệu Hậu.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.
Lê viết
Dạ.Con xin lỗi Tuệ Tâm ạ.Con ngu si mê muội quá nên con mới hỏi những câu như vậy.Mặc dù đầu óc con khởi đủ thứ tà kiến rất nhiều.Là do con nghiệp chướng quá nặng nề.Con sẽ siêng năng niệm Phật nhiều hơn và cố gắng kiềm chế bản thân khi khởi lên tà kiến.Con sẽ cố gắng siêng năng niệm Phật nhiều hơn nữa.Một lần nữa con xin lỗi Tuệ Tâm ạ.