• Trang chủ
  • Kiến thức
    • Kinh Sách Phật Pháp
    • Bản Nguyện Niệm Phật
    • Nhân Quả Báo Ứng
    • Phật Pháp & Cuộc Sống
    • Góc Tu Tại Gia
  • Tải PDF
  • Bố thí & Cúng dường
  • Ấn Tống Kinh Tượng Phật
    • Phật Pháp
  • Giới Thiệu & Liên hệ
    • Bảo mật Thông tin
  • 0 - 0 ₫
kinhnghiemhocphat.com

kinhnghiemhocphat.com

Tuệ Tâm - Bản nguyện Niệm Phật Vãng Sanh

Trang chủ » Bản Nguyện Niệm Phật » Ý nghĩa Tha Lực của Pháp môn Tịnh Độ – Bản nguyện phần 12.

Ý nghĩa Tha Lực của Pháp môn Tịnh Độ – Bản nguyện phần 12.

25/03/2023 15/09/2024 Tuệ Tâm 8 Bình luận

Người niệm Phật cần nắm vững ý nghĩa Tha Lực của Pháp môn Tịnh Độ. Nếu không nắm rõ nghĩa sẽ rất dễ rơi vào Tự Lực Niệm Phật, rất khó được vãng sanh. Tha Lực ở đây được hiểu là Lực của Phật A Di Đà trợ giúp cho hành giả niệm Phật cầu vãng sanh. Người niệm Phật nếu nương hoàn toàn vào Tha lực này thì hiện đời an lạc, tương lai chắc chắn vãng sanh.

Người có tư tưởng nguyện sanh Tịnh Độ Cực lạc, ai mà không mong muốn mình chắc chắn được vãng sanh! Tuy nhiên, đạo lý để chắc chắn được vãng sanh là như thế nào? -Đại để, hầu hết mọi người đều có tập quán nương vào Tự lực để đạt được mục đích. Dù vậy, kết quả giải pháp này như lên núi tìm cá, nấu cát để được cơm, hay xe chạy về hướng Nam mà đi về hướng Bắc để tìm kiếm vết xe; để rồi, càng tìm cầu càng xa rời sự thật.

Ý nghĩa Tha Lực của Pháp Môn Tịnh Độ

Vào tiền kiếp lâu xa, đức Phật A-di-đà vốn là Bồ-tát Pháp Tạng. Ngài vì chúng ta và hết thảy chúng sanh đang bị khổ đau trong mười phương mà phát thệ nguyện rộng sâu, kiến lập Tịnh Độ Cực lạc; đồng thời, giúp những hạng người luôn làm các việc ác độc khắp cả mười phương dễ dàng được vãng sanh về Tịnh Độ ấy, thệ nguyện rằng: “Nếu Con được thành Phật, chúng sanh trong mười phương xưng niệm danh hiệu của Con, tối thiểu chỉ mười câu, nếu không được vãng sanh thì Con không giữ ngôi Chánh giác”.

Như vậy, chính Ngài sử dụng lời thệ nguyện rộng sâu siêu thế ấy, vì chúng ta mà khai mở đạo lý, giúp chúng ta chắc chắn được vãng sanh; đồng thời, Ngài phải trải qua rất nhiều đời kiếp gian khổ tu tập, nguyện lực mới viên mãn và hình thành danh hiệu Nam mô A-di-đà Phật; nghĩa là, nguyện lực vô cùng tận ấy được tóm thâu trong danh hiệu Sáu chữ, và danh hiệu này chính là đức Phật giáo chủ cõi Cực lạc tại phương Tây, cách thế giới chúng ta đang sinh sống mười vạn ức cõi Phật. Ngài phóng hào quang vô ngại (vô ngại quang) soi chiếu và nhiếp thọ chúng ta và chúng sanh khắp các thế giới trong mười phương.

*

Chúng ta nên hiểu rằng: Sáu chữ Nam mô A-di-đà Phật này, chính là đạo lộ duy nhất cho chúng ta và cho chúng sanh ở thế giới Ta-bà vãng sanh về Cực lạc; nghĩa là, đây là đạo lý chắc chắn được vãng sanh, chỉ có đạo lý này là chân thật, ngoài ra không có đạo lý thứ hai hay đạo lý thứ ba nào khác. Hòa thượng Thiện Đạo gọi sự kiện này là Con đường sáng của nguyện lực (Nguyện lực chi bạch đạo). 

Nếu hỏi: Làm sao thực hiện con đường sáng ấy? – Đáp: Chỉ cần xưng niệm danh hiệu đức Phật (A-di-đà) là được hào quang của Ngài nhiếp thọ, không còn bị thối chuyển, tức được nguyện lực Bổn nguyện của Ngài “Dẫn dắt một cách tự nhiên”, và “Hẳn nhiên vượt lên trên mọi duyên sự để vãng sanh về thế giới Cực lạc”.

Hòa thượng Thiện Đạo giải thích rằng: “Hiện nay đức Phật ấy đã thành Phật tại thế giới đó rất lâu rồi, cho nên biết rằng, Bổn thệ nguyện rộng sâu của Ngài không thể hư dối, chúng sanh nào xưng niệm hẳn nhiên được vãng sanh.” Qua đấy, chúng ta có thể nhận ra rằng: Đạo lý để hết thảy chúng sanh chắc chắn được vãng sanh do đây mà được thành lập, do đây mà khởi tín tâm, do đây mà xưng niệm danh hiệu, để rồi được vãng sanh Cực lạc, để rồi khẳng định thực hiện con đường sáng của nguyện lực ấy đã hiện hữu, và chẳng cần tốn công gảy móng tay đã đến phương Tây, há chẳng phải dễ dàng lắm sao!

*

Dù vậy, xưa nay chúng sanh sống trong mê vọng, đối với pháp cứu độ không thể nghĩ bàn của nguyện lực đức Phật A-di-đà rất khó Chánh tín, nghi ngờ đủ kiểu: Họ nghĩ rằng, những kẻ ngu si làm nhiều tội ác, chỉ đơn thuần niệm danh hiệu Phật A-di-đà, không tu tập Giới-Định-Tuệ, không làm các việc thiện để có công đức hồi hướng, không có công phu chế ngự phiền não, thì chắc chắn khi lâm chung vọng niệm ập đến tràn đầy không thể Chánh niệm; phiền não trùng trùng điệp điệp như thế làm sao được vãng sanh?

Do tư duy như thế, họ quay lưng với pháp chuyên tu Niệm Phật của con đường sáng vô ngại, mà tranh nhau thực hiện Tạp tu, Tạp hạnh của con đường gập ghềnh đầy hiểm nguy, đến nỗi đức Bổn Sư Thích-ca trong kinh Vô Lượng Thọ cảm thán rằng: “Dễ vãng sanh mà không có người tu!” Hòa thượng Thiện Đạo, chính là hóa thân của đức Phật A-di-đà đã xác minh nhất định rằng: “Chuyên tu chuyên niệm mười người tu vãng sanh cả mười; Tạp tu, Tạp hạnh, ngàn người tu không có một người (thoát khỏi sanh tử)”.

Thời cận đại, Đại sư Ấn Quang tán thán cực độ câu xác minh này. Ngài bảo: “Đây là lời chân thật quý giá hơn vàng ngọc, sẽ hiện hữu hàng ngàn năm không thể đổi thay”. Con người trong thời đại bây giờ, nếu không tuân theo lời răn bảo của Hòa thượng Thiện Đạo, để Thuần nhất nương vào Bổn Nguyện đức Phật A-di-đà, thuần nhất xưng niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà, thì vấn đề vãng sanh Cực lạc sẽ giống như bọt nước, ảnh tượng.

*

Tuy nhiên, trên thực tế để nhận xét, đa phần những người tu tập cầu sanh Cực lạc, do không được bậc Thiện tri thức chân chính tận tình hướng dẫn, dạy bảo; không biết về Bổn nguyện Tha lực của Phật A-di-đà; không biết rõ cội nguồn của pháp Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ nên như cây bèo không có gốc tùy theo gió thổi mà phiêu bạt đó đây trên mặt nước; như người mù chẳng thấy đường đi, chân bước loạn xạ. Vì vậy, pháp chuyên tu Niệm Phật thật khó quán triệt, nên thích thú pháp Tạp tu, Tạp hạnh như thủy triều dâng trào; sai lầm chỉ một đời để rồi phải đọa vào khổ đau sanh tử.

Chúng ta đã được làm thân người là điều khó trong những điều khó làm, đã được nghe Phật pháp là điều khó trong những điều khó nghe, đã được phát đạo tâm là điều khó trong những điều khó phát, đã được tin pháp Tịnh Độ là điều khó trong những điều khó tin. Nếu để một lần nữa đọa xuống Tam đồ, đây là điều bi đát vô cùng tận, sầu đau mãi chẳng bao giờ dứt!

Tuệ Tâm 2023.

Đang tải đánh giá...
  • Facebook
  • Twitter (X)
  • LinkedIn
  • Pinterest
  • Tumblr
  • Zalo

Bài viết liên quan

Chuyên niệm Phật, vãng sanh biết trước ngày giờ
Chuyên niệm Phật, vãng sanh biết trước ngày giờ
Bỏ Tạp Tu – An Nhiên Vãng Sanh Cực Lạc Tịnh Độ
Bỏ Tạp Tu – An Nhiên Vãng Sanh Cực Lạc Tịnh Độ
Niệm Phật vãng sanh – Quan tài hoa Sen nở
Niệm Phật vãng sanh – Quan tài hoa Sen nở

Chuyên mục: Bản Nguyện Niệm Phật

Bài viết trước « Vì sao người niệm Phật thì nhiều mà người được Vãng Sanh lại ít?
Bài viết sau Những kiến giải về Tín Tâm trước đây đều chưa đúng!!! Phần 13. »

Reader Interactions

Bình luận

    Để lại một bình luận Hủy

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  1. Hiến Đinh viết

    26/03/2023 lúc 22:14

    Dạ thưa thầy Tuệ Tâm. Cho con xin hỏi vậy pháp hộ niệm lúc lâm chung dành cho những người tín tâm chưa đủ, còn những người tín tâm đủ thì không cần đến có phải không ạ? Xin thầy giải đáp giúp con.
    Nam mô A Di Đà Phật

    Trả lời
    • Tuệ Tâm viết

      27/03/2023 lúc 10:03

      Nam mô A Di Đà Phật!

      Pháp hộ niệm đặc biệt hữu ích cho ba hạng người: 1. Những người dùng Tự Lực Niệm Phật, cầu nhất tâm, tam muội… 2. Những người biết sơ sơ về Phật Pháp nhưng không tin nhận. 3. Những người chưa từng biết đến Phật pháp.

      Tuy pháp hộ niệm bất khả tư nghì nhưng pháp này có một nhược điểm vô cùng lớn: Những người không có thiện nghiệp sâu dày, rất khó được hộ niệm. Nguyên nhân chủ yếu do những người thân trong gia đình gây chướng ngại. Thông thường, chỉ cần 1 thành viên trong gia đình không đồng ý, cũng không thể nào hộ niệm được. Nhiều người không ý thức được điều này nên uổng phí một kiếp niệm Phật, bị người thân phá hoại nên chẳng được hộ niệm, kết cục vẫn ở trong sanh tử! Trong lúc cận tử nghiệp, oan gia trái chủ vô hình chưa kinh khủng bằng oan gia trong chính gia đình, họ mới là trở ngại khiến người ta không thể giải thoát.

      Vì những lẽ trên đây mà hành giả nhất định phải nương vào Bản Nguyện Xưng Danh để nắm chắc phần vãng sanh, không cần phải lo lắng chi đến chuyện hộ niệm. Bởi Bản Nguyện Xưng Danh thì chỉ cần miệng xưng danh thì tín nguyện đã đủ đầy, quả vãng sanh đã thành tựu, không phải đợi đến lúc lâm chung. Bạn nên siêng nghe những video Tuệ Tâm đã đăng là nắm chắc lối về, chắc chắn phần vãng sanh. Chớ dùng tự lực, niệm Phật mà lúc nào cũng lo lắng, nội một chuyện không biết mình có đủ điều kiện vãng sanh không là đủ mệt rồi!

      Trả lời
  2. CUNG KÍNH viết

    27/03/2023 lúc 13:46

    TRƯỚC GIỜ EM NIỆM PHẬT MÀ RUN RUN NÊN CHUẨN BỊ HẾT NÀO LÀ DI CHÚC HẾT NÀO LÀ KỸ NĂNG HỘ NIỆM RỒI IN RA CẦN LÀM GÌ KHI CẬN TỬ NGHIỆP ĐỂ CHỈ LẠI CHO NGƯỜI THÂN SỢ HỌ ĐỤNG VÔ LÀM EM NỔI SÂN RỒI ĐOẠ ĐỊA NGỤC RỒI NÀO LÀ SỢ HỌ CÚNG MẶN ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHẨM VỊ VÃNG SANH ÔI ZỜI GIỜ NGHỈ LẠI SAO MÀ MÌNH CỰC CÔNG QUÁ SỨC VẬY

    Trả lời
    • Tuệ Tâm viết

      28/03/2023 lúc 07:45

      Nam mô A Di Đà Phật!

      Ngày nay nhiều người như vậy lắm, không riêng gì bạn đâu. Vì mông lung không biết mình có được vãng sanh không nên đặt hết mọi hi vọng vào hộ niệm. Chẳng biết rằng lúc ta còn sống dặn dò họ tin nghe. Nhưng lúc ta sắp nhắm mất, do sức nghiệp chướng khủng khiếp của cận tử nghiệp, tự nhiên họ bị tác động mãnh liệt nên làm ngược lại. Có khi là con cháu, có khi là anh em, họ hàng, có khi do phong tục tập quán…Ban hộ niệm dù đến nhưng người nhà tranh cãi, cản trở, họ cũng bó tay không thể làm được gì.

      Ta nằm đó tâm thức mê muội, thân như con cua vừa lột vỏ, tâm vô lực mê mờ, nhìn cảnh quyến thuộc rối loạn dễ khởi ác niệm. Một niệm ác khởi lên lúc ấy nặng hơn núi Tu Di, Phật có hiện ra cũng không cách chi thấy được. Do vậy mà chẳng thể vãng sanh. Kết cục tùy thiện ác, nghiệp nào đến trước liền theo đó mà tái sanh trong lục đạo luân hồi! Chư Tổ thường than: “Lục đạo chật hẹp thì chen lấn xô đẩy, còn đường về Cực Lạc rộng thênh thang mà tuyệt chẳng bóng người.” Chư Phật cùng Bồ Tát đại từ đại bi, nhưng chúng sanh cang cường khó độ, họ chẳng chịu tin nghe thì các Ngài cũng chỉ biết thở dài chớ chẳng làm được chi hơn!!!

      Trả lời
      • CUNG KÍNH viết

        28/03/2023 lúc 08:16

        CẢM ƠN CHỊ NHIỀU Ạ GIỜ EM NIỆM PHẬT AN NHIÊN TRONG LỤC TỰ HỒNG DANH 6 CHỬ THEO BẢN NGUYỆN THA LỰC PHẬT Ạ.TRƯỚC KHÔNG BIẾT KHÔNG HIỂU NÊN EM NGHE THEO CÁC VỊ PS GIẢNG NIỆM 4 CHỬ NÊN NIỆM THEO MÀ KO HỀ BIẾT MÌNH ĐANG TỰ LỰC NIỆM PHẬT THẬT NGUY HIỂM ĐÁNH MẤT ĐI SỨC THA LỰC CỦA PHẬT ĐÁNH MẤT ĐI CƠ HỘI VÃNG SANH MÀ KO HAY BIẾT❤️🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏

      • Tuệ Tâm viết

        28/03/2023 lúc 18:58

        Nam mô A Di Đà Phật!

        Giá như người niệm Phật trên khắp thế gian ai cũng được như bạn thì hay biết mấy!

  3. PD. Diệu Hậu viết

    25/05/2026 lúc 14:12

    THA LỰC BẤT KHẢ TỰ LỰC.
    “Chỉ Dùng Tha Lực Phật A Di Đà, Không Thể Dùng Tự Tực Của Bản Thân”.

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
    Kính bạch Tuệ Tâm cùng chư vị Liên Hữu.

    Ngưỡng cửa giữa (Tự lực kèm Tha Lực và Tha Lực Tuyệt Đối) là một bước xác lập NIỀM TIN NHƯ THẬT của Bạn.

    Trong tu tập pháp môn Tịnh Độ cầu Vãng Sanh Cực Lạc đặc biệt là dòng mạch Thuần Chánh của Tổ Sư Thiện Đạo, chúng ta phải phân biệt rõ ràng thế nào là Tha Lực Tuyệt Đối, để không bị lầm lẫn với quan điểm “Tha Lực Kết Hợp Tự Lực/Tha Lực Bất Ly Tự Lực” của lối thu theo Thánh Đạo Môn.

    Khi ta hiểu sai Thệ Nguyện thứ 18, không những tự ta biến tấu lời Phật mà còn không thể đạt kết quả Vãng Sanh vô điều kiện.

    Xin được nhắc lại rằng Thệ Nguyện Thứ 18 của Đức Phật A Di Đà là THA LỰC BẤT KHẢ TỰ LỰC –> “Chỉ được dùng Tha Lực của Phật A Di Đà, không thể dùng Tự Lực của bản thân”.

    Bản chất của việc không tách bạch được Tha Lực (Bất Khả) và Tha Lực (Bất Ly), là do không nắm được Cơ Chế Cứu Độ bình đẳng vô điều kiện của Đức Phật A Di Đà, và không hiểu được Nguyên Lý Vận Hành của Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật.

    Vậy Thế nào là “Tha Lực Bất Khả Tự Lực” theo nền tảng giáo lý của dòng Tịnh Độ Thuần Chánh Tổ Thiện Đạo?

    I/ Trước hết chúng ta phải ĐỊNH VỊ đúng khái niệm Tự Lực – Tha Lực.

    • TỰ: Là sự cố gắng từ “bên trong” cá nhân của bạn (do khả năng vốn có và sự nỗ lực của bạn).
    • THA: Là sự tiếp sức, hỗ trợ từ “bên ngoài” (sức mạnh, khả năng này phải vượt trội hoàn toàn và bao trùm lên mọi khả năng của cá nhân bạn).

    Trong Pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc, nương tựa vào Thệ Nguyện Cứu Độ của Đức Phật A Di Đà, thì THA LỰC chính là sức mạnh 100% từ bên ngoài, chứ không có một chút nào lấy từ bên trong khả năng của chúng sinh.
    Vì tự lực của chúng sinh chỉ là năng lực hữu hạn, đầy lỗi lầm và chấp trước của phàm phu.

    Bạn muốn bước lên Thuyền Đại Nguyện của Phật A Di Đà để sang Cực Lạc, mà lại lo lắng rằng mình phải “tự chèo” mới lên được, còn Thuyền chỉ có chức năng chở bạn qua sông, thì bạn đã lầm.

    Đã là Tha Lực tuyệt đối, thì Ngài sẽ tiếp dẫn bạn ngay “từ chỗ bạn đang như vậy” bất kể thế nào. Nghĩa là Ngài chấp nhận hoàn toàn trạng thái hiện tại của bạn (mọi lo toan, nghiệp chướng trong cuộc sống của bạn đều không phải là rào cản đối với Ngài). Chỉ cần bạn luôn GỌI TÊN/ Xưng Danh, Ngài sẽ “đến tận nơi đón bạn”, dù bạn là chúng sinh thiện hay ác, định tâm hay tán loạn. Đây chính là ý nghĩa cốt lõi của hai chữ CHO ĐẾN (bất cứ không loại trừ).

    Nếu nghĩ rằng Tha Lực của Phật A Di Đà vẫn cần phải có chút tự lực của chúng sinh pha vào, thì bạn đang bước nhầm lên một chiếc thuyền gỗ mong manh đó.

    II/ Tinh Thần Cứu Độ Bình Đẳng Vô Điều Kiện.

    Trong mạch Thuần Chánh, Tổ Thiện Đạo dạy rất rõ rằng Đức Phật A Di Đà phát Thệ Nguyện 18 nhằm cứu hàng căn cơ hạ ngu hạ chí, bất lực nhất, chứ không phải mục đích cứu hàng căn cơ cao. Vì thế Ngài không hề đưa ra bất kỳ điều kiện gì cho họ (tức họ được cứu độ bình đẳng như những căn cơ khác).

    Nguyện 18 yêu cầu Xưng Danh là bởi phải dùng một cách duy nhất thì Phật A Di Đà mới cứu được cả mười phương, và chỉ với cách này thì kẻ dưới cùng cạn kiệt đó mới làm được (tức lấy căn cơ này làm tiêu chí chung thấp nhất). Khi căn cơ này chỉ cần xưng danh, thì hết thảy các căn cơ khác chắc chắn làm được. Nghĩa là tất cả mọi căn cơ muốn tận dụng sự ưu ái của Phật A Di Đà thì họ phải dùng cách của kẻ Hạ căn đó.
    Đây là tinh thần cứu độ Bình Đẳng Vô Điều Kiện, một triết lý sâu sắc vượt trội của Mạch Thuần Chánh: Một Cách Áp Dụng Cho Tất Cả.

    Muốn lên chiếc thuyền Đại Nguyện này, mọi căn cơ (dù là thánh nhân hay phàm phu) đều phải hạ mình xuống, dùng chung một cách: XƯNG DANH.
    Người Tự chèo lên thuyền (tu sửa tâm, hành vi) là còn cho rằng mình có khả năng chèo, vậy những người què, mù (hạ liệt hạ chí/cạn kiệt lúc lâm chung),.. thì chèo làm sao, họ phải nhờ Di Đà “BẾ” lên thuyền vậy. Vì Ngài bảo chỉ cần Xưng Danh mà nay lại yêu cầu phải sửa (tự chèo), thì bình đẳng vô điều kiện ở đâu? Bạn nên biết: Càng sửa càng thấy bất lực.
    Những chúng sinh lỗi lầm thâm trọng, giây phút Lâm Chung mới gặp Danh Hiệu thì sửa thế nào? Bạn không thể dùng tập khí phàm phu mà “Sửa + Rửa sạch” được chính nó.

    III/ Phá Tan Ảo Tưởng “Dùng Bùn Rửa Bùn”

    1. Danh Hiệu là chiếc thang giúp bạn leo lên thuyền nguyện lực của Phật, chứ không phải bạn tự chế một chiếc thang khác. Ngài đi cứu nạn là đã chuẩn bị phương tiện cứu hộ, ta bám vào Danh Hiệu chính là nắm tay Ngài.

    2. Việc sửa lỗi lầm chính là Xưng Danh, bạn đừng quan tâm đến lỗi lầm của mình mà hãy để tâm đến công năng của Danh Hiệu, khi ta nhất tâm hướng về Phật A Di Đà thì công năng của Danh Hiệu sẽ vận hành trên thân tâm của chúng ta, khi đó tự khắc ta không thể làm điều bậy bạ, lúc đó chính là sửa Tâm, chỉnh Ý. Danh Hiệu sẽ tự động sửa bạn, chứ bạn không cách chi sửa mình, bạn sửa đến bao giờ mới hết? Đã là chúng sinh phàm phu cõi ác, luân chuyển trong cái vòng quay sinh tử không có ngày thoát ra thì tư cách gì để sửa?

    3. Bản chất của chúng ta Thân là bùn Tâm là đất, từ trong ra ngoài từ dưới lên trên đều là một bề bùn đất, đập vụn ra cũng là đất, đắp lại cũng là bùn thì trong sạch thanh tịnh ở đâu? Bùn đất chính là tham sân si mạn nghi, phiền não vọng tưởng, tập khí ô trược của chúng ta. Phàm phu không có khả năng tự sửa, vì tâm sửa chính là tâm phàm phu đầy tham sân si. Bạn không thể dùng bùn để rửa sạch bùn.
    Vì thế bạn hãy:

    • Dùng Danh Hiệu để chuyển hóa Bùn.
    • Uống thuốc Danh Hiệu để chữa Tham Sân.
    • Bắc thang Danh Hiệu để leo lên Thuyền Cứu Hộ.
    Nhất định là phải thế. Bạn cần sửa xong mới “chèo” thì tôi là một tên chỉ còn giây phút cuối sẽ không kịp sửa rồi. Phật bỏ tôi lại sao?

    Như vậy sửa là Danh Hiệu sửa chúng ta, chứ ta không thể sửa mình. Đương nhiên bạn cũng không cần lo phải sửa Phật mới cứu mà bạn:
    • Xưng Danh chính là Sửa Đổi.
    • Xưng Danh chính là Sám Hối viên mãn nhất, chân thật nhất.

    Đừng nhầm lẫn với cách chúng ta Tự Sửa và Công Năng của Danh Hiệu Sửa chúng ta.

    Vấn đề không phải Phật “chê” công đức của bạn, mà là bạn không đủ sức làm và có làm cũng không mang về Cực Lạc được vì đó là cảnh giới vô vi. Nếu bạn làm được thì sao Ngài phải tư duy năm Kiếp, tu tập trải triệu vĩnh kiếp để tích lũy công đức vào câu Phật Hiệu rồi cho không bạn?

    Nếu bạn làm được thì tại sao Tổ Thiện Đạo phải quay trở lại thế gian này để Khải Định Cổ Kim? Đây chính là điểm khác biệt cốt lõi giữa cách nhìn nhận của 2 lối tu theo Truyền Thống “Bất Ly Tự Lực” và lối tu Thuần Chánh “Bắt buộc phải LY tự lực”. Bởi Thệ Nguyện của Phật A Di Đà chỉ phù hợp với MỘT CÁCH – BẤT KHẢ NHỊ.

    Đây là nơi Cơ Chúng Sinh và Pháp của Phật A Di Đà tương ưng Quang Minh Nhiếp Thủ, vậy lý do gì bạn CẢN QUANG MINH?

    MỘT CÁCH: là Bình Đẳng Tối Thượng cho mọi căn cơ, là triết lý Vô Điều Kiện cứu cả MƯỜI PHƯƠNG CHÚNG SINH đấy ạ.

    Chúng ta học mạch Thuần Chánh dòng Tổ Thiện Đạo thì phải nương theo lời dạy của Tổ. Đức Bổn Sư thuyết Kinh nhưng tâm phàm phu của chúng sinh không đủ khả năng để hiểu, vì thế Lời Tổ là “khai hiển mật ý của Kinh”. Trong 13 vị Tổ Sư Tịnh Độ tại Trung Quốc chỉ có duy nhất Tổ Thiện Đạo là đi theo dòng truyền thừa thuần túy nguyên vẹn từ Đức Bốn Sư, và Tổ chính là hóa thân của Đức Từ Phụ, là người Chuẩn Hóa lại “Tông Chỉ của Tông Tịnh Độ”.

    Vậy y theo lời Tổ Thiện Đạo là gì? “Pháp Nghĩa nào phù hợp với quan điểm của Ngài thì ta theo, pháp nghĩa nào không phù hợp thì ta gác lại, không phế bỏ”.

    IV/ Điểm Tựa Tuyệt Đối Trên Đạo Lộ.

    Dụ Ngôn Nhị Hà Bạch Đạo là một Ẩn Dụ Kinh Điển nổi bật trong chứ tác Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ của Tổ Thiện Đạo. Yếu chỉ của Tứ Sớ chính là Tông Chỉ của Tông Tịnh Độ. Trong quyển Tán Thiện Nghĩa (Quyển 4) của chứ tác này mô tả Tâm Tin Tưởng Sâu Sắc (Thâm Tâm) của hành giả chính là bạn cứ thẳng tiến trên con đường nhỏ hẹp đó, đừng quan tâm đến dẹp tham sửa sân.

    Tổ Thiện Đạo bảo Sóng Tham cứ xô, Sóng Sân cứ tràn nhưng không thể cuốn phăng Bạch Đạo. Bạch Đạo chỉ 4-5 tấc nhưng bờ Đông có Thích Ca, bờ Tây có Di Đà, trên đường có mười phương chư Phật tháp tùng thì tại sao bạn lại sợ? Kể cả bạn có “bò lê kéo lết” trên đạo lộ (nghiệp chướng sâu nặng đổ dồn) thì Phật Di Đà ứng cứu ngay “115”.

    Do đó vấn đề công phu bạn không nhất thiết phải ra rả dùng miệng để xưng danh cả ngày, mà là trong tâm bạn “Đóng Đinh Công Năng của Phật Hiệu”, tâm tâm nhớ Phật thì niệm niệm hướng về Ngài.
    Lúc nào rảnh rỗi thì miệng niệm, đơn giản thế thôi. Bạn niệm như vậy mới đạt 24/7, chứ bạn dùng sức để niệm, dùng số lượng để tính công phu thì nhầm rồi, không thể.

    V/ Danh Thể Bất Nhị & Mối Quan Hệ Hợp Thức.

    Danh và Thể của Đức Phật A Di Đà là sự hợp nhất không tách rời, Tên ở đâu Thân ở đó gọi là “Danh Thể Bất Nhị”. Cả Pháp giới vạn vật, chúng sinh đều nằm trong Pháp Thân của Ngài (pháp giới tàng thân A Di Đà Phật).
    Ta xưng danh là đang ở ngay bên cạnh Ngài, người không xưng danh cũng ở bên cạnh Ngài nhưng không thể kết nối với Tâm Phật. Chỉ khi Tâm Ta và Tâm Phật (tâm tâm tương ưng) thì mới “Hợp Thức Mối Quan Hệ” này bạn nhé. Đừng thêm hạnh khác vào là chẻ đôi Thân Ngài ra đấy. Và không Tin Ngài là vò nát trái tim Ngài vậy. Đến tôi còn đau nữa là Phật.

    Quan điểm Tha Lực kết hợp (bất ly) Tự Lực là góc nhìn của Thánh Đạo Môn cần phải dùng 2 lực. Còn Tha Lực tuyệt đối của Hoằng Nguyện là “THA lực trong THA lực” (Nguyên Chất 100% sức Phật A Di Đà). Ngay cả Bổn Sư cũng là người chỉ đường chứ Ngài có “Tha” bạn về Cực Lạc được đâu, do đó phải xác lập đúng Pháp Lý và Pháp Hành trong lộ trình của bạn.

    • Pháp Lý: Là dựa vào giáo lý khai mở mà Đức Bổn Sư chỉ lối. “AI” là người có Thệ Nguyện và năng lực chắc chắn cứu được ta: Chính là Phật A Di Đà.
    • Pháp Hành: Là ta phải làm theo yêu cầu của Người Trực Tiếp Cứu mình: Tiêu chí Xưng Danh cho đến 10 niệm của Thệ Nguyện thứ 18 mà Đức Từ Phụ đưa ra.

    Bởi Tâm Quang của Phật A Di Đà chỉ đi tìm người niệm Danh Hiệu Ngài nhiếp thủ không bỏ, chứ không đi tìm người tu hạnh khác. Trong Cả 3 Kinh Tịnh Độ dù Bổn Sư có nhắc đến các pháp tu khác cũng chỉ là phương tiện khai thị, còn Kết Thúc và Phó Chúc Kinh Ngài đều nhắc Niệm Phật A Di Đà mới là Bản Ý của Ngài, và Phù Hợp với Hoằng Nguyện của Đức Từ Phụ A Di Đà.
    Tha lực của Phật A Di Đà là Nguyên Chất Vô Lậu nhé, không một ly Hữu Lậu xen vào.

    VI. Đối Lập Giữa Hai Lối Tu Và Kết Quả Tối Hậu.

    Sự đối lập giữa “Tha lực bất ly tự lực” (Thánh Đạo Môn/Tịnh Độ Truyền Thống) và “Tha lực bất khả tự lực” (Hoằng Nguyện Môn/Tịnh Độ Thuần Chánh) cho chúng ta thấy sự khác biệt rõ ràng về cả phương pháp hành trì lẫn kết quả vãng sanh.

    1. Khác biệt về Bản chất (Pháp Hành):
    • Tha Lực Bất Ly Tự Lực: Xem câu niệm Phật hay nguyện lực của Phật chỉ là lực “trợ duyên”. Hành giả vẫn phải dùng sức mình để sửa tâm, tu thêm hạnh khác để tăng đức, hành thiện hạnh để gom phước. Tuy nhiên có làm bao nhiêu thì vẫn không đổi được “Bản Thể phàm phu hữu lậu chấp tướng”, nên không kết nối được tâm quang nhiếp thủ của Phật A Di Đà, điều này dẫn đến hiện tiền tu tập không an lạc, không dám khẳng định lâm chung Phật đón.

    • Tha Lực Bất Khả Tự Lực: Là sự đầu hàng vô điều kiện của phàm phu, biết mình là hạ căn hạ chí bất lực hoàn toàn. Họ chấp nhận phó thác tất cả cho Phật A Di Đà. Danh Hiệu sẽ vận hành và chuyển hóa họ, chứ không phải họ cố gắng thay đổi bản thân, họ chỉ hành trì chuyên nhất một lối Xưng Danh thì thân tâm an lạc, xác lập vãng sanh ngay hiện tiền.

    2. Khác biệt hoàn toàn về Kết quả (Cảnh giới đến):
    • Bên kết hợp hai lực (cộng thêm):
    Vì xen tạp nghiệp hữu lậu của phàm phu, không tương ứng hoàn toàn với Bản Nguyện Vô Vi, nên kết quả thường chỉ sanh vào Biên Địa (trong kinh Vô Lượng Thọ nói đó là nghi ngờ Trí Phật).

    • Bên Tha lực nguyên chất 100% (không thêm):
    Vì họ nương trọn vẹn vào công đức vô lậu của Phật A Di Đà, họ lấy Tư Lương của Phật A Di Đà làm hành trang, họ không phải lo lắng bất kỳ điều gì – “Bất Khả thêm nếm”.
    Chỉ có Tín Nguyện Hạnh của Phật A Di Đà mới vào được Cực Lạc, chỉ có Tư Lương của Ngài mới đưa ta đến cảnh giới Báo Độ. Như vậy họ đã xác lập kết quả vãng sanh ngay khi còn sống.

    VII. Đúc Kết Cuộc Sống: Trọn Vẹn Bổn Phận, Trọn Vẹn Đạo Hiếu.

    Chúng ta không cần tách bạch giữa việc tu tập và bổn phận của mình trong cuộc sống.
    Mọi việc ta cứ làm nhưng hãy “Đơn Giản trong Giải Thoát, Đầy Đủ trong Thế Gian”.
    Nghĩa là:
    – Muốn về Cực Lạc bạn chỉ Xưng Danh thôi: Ôm lấy, găm lấy, tâm bất ly Danh -> đây là Đơn Giản vì chỉ MỘT NIỆM.
    – Mọi việc thế gian, bạn vẫn làm vì trách nhiệm, bổn phận, nhân duyên: Hãy làm theo khả năng của mình nhưng “Thân bất Ly, Tâm phải Ly”: Thân làm, Tâm không vướng -> đây là Đầy Đủ việc thế gian.

    • Bạn làm sếp thì cứ điều hành.
    • Bạn làm nhân viên thì cứ tuân thủ.
    • Làm ông bà, cha mẹ, con cái hay bất cứ vị trí gì trong gia đình, ngoài xã hội bạn cứ làm.

    Bạn có tâm thành, có điều kiện bạn cứ làm việc thiện, tất cả những điều đó để tri ân Phật và báo đáp thế gian. Còn làm CON CỦA PHẬT DI ĐÀ thì chỉ cần Xưng Danh Nam Mô A Di Đà Phật mà thôi. Đây mới là CON CÓ HIẾU bạn nhé.

    Bạn cúng dường Ngài cũng Hiếu này, bạn tán thán Ngài cũng Hiếu ấy – Danh Hiệu của Ngài tương xứng mọi tâm niệm mà bạn muốn.
    Như vậy “Tha Bất Khả” và “Tha Bất Ly” bạn phải xác lập: Tha Bất Khả là “Không Thể” thêm gì vào Năng Lực của Phật A Di Đà nữa.
    Còn bạn mà “Tha Bất Ly” (thêm cái của mình vào) thì bạn LY LUÔN CỰC LẠC đó bạn.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    Trả lời
    • Tuệ Tâm viết

      26/05/2026 lúc 08:48

      Nam mô A Di Đà Phật

      Trả lời

Sidebar chính

Phá mê & Sanh tín

Hiểu Luật Nhân Quả như thế nào là đùn với lời Phật dạy

Hiểu Luật Nhân Quả như thế nào là đúng với lời Phật dạy

25/11/2024 57 Bình luận

Hiểu Luật Nhân Quả như thế nào là đùn với lời Phật dạy

Đức Phật thuyết Pháp bằng ngôn ngữ gì

18/06/2024 15 Bình luận

Cách cúng đầu năm mới, cúng tất niên

Cách Cúng Đầu Năm Mới

01/12/2021 89 Bình luận

Niệm Phật Tông Yếu-Pháp Nhiên Thượng Nhân

Niệm Phật Tông Yếu – Pháp Nhiên Thượng Nhân

24/10/2021 42 Bình luận

Trùng Tang chỉ là trò lừa bịp

Trùng Tang: Là thật hay cú lừa xuyên thế kỷ nhân danh Tâm Linh

27/09/2021 44 Bình luận

Đồng bóng còn gọi là Đồng cốt

Sự thật về Đồng bóng

13/04/2021 20 Bình luận

Lời Phật dạy về Hiếu đạo

Lời Phật dạy về Hiếu đạo

06/04/2021 35 Bình luận

A La Hán

A La Hán và 18 La Hán là ai

16/01/2021 6 Bình luận

Phật tử tại gia

10 điều quan trọng Phật tử tại gia cần biết.

31/12/2020 19 Bình luận

Cách thay đổi vận mệnh

Cách thay đổi vận mệnh

11/03/2020 38 Bình luận

Bài viết nổi bật

Mang thai nen tung kinh dia tang

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

30/10/2020 773 Bình luận

Cách niệm Phật tại nhà

Cách niệm Phật tại nhà

09/04/2020 553 Bình luận

Cách giải nghiệp phá thai

Cách giải nghiệp Phá thai

22/05/2019 394 Bình luận

Nghi thức niệm Phật chuẩn nhất

Nghi thức niệm Phật chuẩn nhất – Pháp sư Huệ Tịnh soạn

12/08/2019 295 Bình luận

Chép hồng danh Phật

Chép Hồng Danh Phật – Công đức lớn, dễ thực hành

24/09/2021 186 Bình luận

Thủ dâm

Thủ dâm tác hại khôn lường

29/08/2019 178 Bình luận

Ấn Tống Kinh Tượng Phật

  • Ấn Tống Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Địa Tạng
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫
  • Ấn Tống Kinh Vô Lượng Thọ Phật Kinh Vô Lượng Thọ
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫
  • Ấn tống Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫
  • Máy niệm Phật đặt nghĩa trang Máy niệm Phật ngoài trời
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫
  • Ấn Tống Kinh A Di Đà Kinh A Di Đà
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫

Bản quyền © 2026 · Kinh Nghiệm Học Phật