Mười phương chư Phật chẳng thể làm gì, chỉ có Phật A Di Đà, bằng siêu thế nguyện của mình mới có thế cứu được phàm phu cang cường nơi cõi khổ Ta Bà này. Vì thế nguyện lực của Ngài được chư Phật mười phương tán thán là Siêu Thế Nguyện. Chúng sanh bất luận tội phước, hễ chuyên nhất xưng danh hiệu của Ngài liền vào thẳng Phổ Đẳng Tam Muội của Ngài, được ánh hào quang của Ngài thâu nhiếp, bảo vệ cho đến ngày vãng sanh. Riêng việc này, chư Phật mười phương ba đời không ai có thể làm được.
Bởi muôn pháp đều phải dựa vào Tam Vô Lậu học GIới Định Huệ mới có thể thành tựu. Mà chúng sanh cõi trược ác, trong thời pháp nhược ma cường này chỉ riêng giới thôi, cũng vô phương thành tựu.Nếu nói về duyên phận thì mười phương chư Phật và Bồ Tát chỉ có Phật A Di Đà là có duyên sâu nặng nhất, thân thiết nhất, gần gũi nhất với chúng sanh.
Trong Kinh Đại Bi nói: “Chúng sanh trong cõi Ta Bà này phiền não sâu dày, chuyên tạo nghiệp ác. Chư Phật trong khắp thế giới đều không thể thâu nhận những chúng sanh như thế. Chẳng những họ bị 1400 đức Phật, mà tất cả chư Phật ở mười phương khác đều bỏ rơi, vì nghiệp chướng của họ quá nặng.”
*
Thương thay, chúng sanh chúng ta ở thế giới Ta Bà này phiền não quá sâu dày, chư Phật còn không có thể cứu, huống gì Bồ Tát? Chỉ có đức Phật A Di Đà là Vua của chư Phật, Ngài phát lời thệ nguyện sâu rộng, chủ động, bình đẳng cứu độ chúng ta một cách vô điều kiện. Ngài phát nguyện: “Mười phương chúng sanh niệm danh hiệu tôi cho đến 10 niệm, nếu chẳng vãng sanh tôi thề không ở nơi Chánh giác.”
Nếu không giúp cho chúng ta vãng sanh, thì đức Phật A Di Đà cũng không thành Phật. Nếu chúng ta vãng sanh thì đức Phật A Di Đà mới thành Phật. Việc thành Phật của Ngài căn cứ vào việc vãng sanh của chúng ta. Việc vãng sanh của chúng ta căn cứ vào việc thành Phật của đức Phật A Di Đà mà quyết định. Nay đức Phật A Di Đà đã thành Phật thì đương nhiên chúng ta sẽ được vãng sanh.
Nghĩa là việc phát nguyện thành Phật của đức Phật A Di Đà, cùng với việc vãng sanh của mười phương chúng sanh chúng ta là một thể. Đức Phật thành Phật cũng chính là Ngài đã hoàn thành công đức vãng sanh cho chúng sanh chúng ta. Nếu có một chúng sanh nào không hoàn thành công đức vãng sanh thì đức Phật A Di Đà không thể thành Phật. Vì thế biết rằng đức Phật A Di Đà với chúng ta là một thể.
*
Việc thành Phật của đức Phật tùy thuộc vào sự vãng sanh của chúng ta. Việc vãng sanh của chúng ta phụ thuộc vào sự thành Phật của Ngài. Ngoại trừ đức Phật A Di Đà ra, chư Phật ở mười phương đều không có thệ nguyện này. Một câu Nam mô A Di Đà Phật căn cơ và giáo pháp đồng một thể.
Trong Đại Kinh, nói về Bi Nguyện của đức Phật A Di Đà: “Ta vì các phàm phu mà làm người bạn không cần mời thỉnh, gánh vác mọi nặng nhọc cho chúng sanh. Như đứa con thuận hiếu luôn hiếu kính cha mẹ, coi chúng sanh như chính bản thân mình. Nếu tâm không thể thường bố thí rộng cứu chúng sanh thoát mọi khổ, khiến thế gian lợi ích an vui, thì chẳng phải bậc Pháp Vương cứu thế.
Chúng sanh luân hồi trong các cõi mau về cõi ta hưởng an lạc, thượng dụng tâm từ cứu hữu tình, độ hết chúng sanh thoát địa ngục A Tì. Vì chúng khai tạng pháp, rộng thí báo công đức, tiêu trừ ba đôc hại, cứu khỏi các ách nạn, đóng hết các đường ác, mở rộng các cửa lành, chuyên cầu pháp thanh tịnh…khiến các chúng sanh thành tựu công đức. Ta quyết thành Phật để thực hành rộng nguyện này, khiến tất cả lo âu sợ hãi đều trở thành an lạc.”
Tuệ Tâm 2023.




Phù Du viết
Nam mô A Di Đà Phật
Thưa thầy Tuệ Tâm, lúc xem những video bài giảng này có cần tắm rửa và đánh răng sạch sẽ không ạ. Hay chỉ cần mặc quần áo dài tay thôi ạ ?
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật!
Người tại gia thân vướng lưới thế gian, cuộc sống nhiều bận buộc, thời gian chẳng có nhiều, cho nên khi nghe pháp nên giữ thân tâm thanh tịnh, càng thanh tịnh bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Như có thời gian thì tắm cùng đánh răng cho sạch càng tốt, còn không có thời gian thì chỉ cần mặc quần áo dài, ngồi ngay ngắn trang nghiêm và giữ tâm an tịnh là được.
Trong kinh, khi đức Phật còn tu hạnh Bồ Tát, Ngài từng nhiều lần đánh đổi cả mạng sống chỉ để nghe được một câu kệ. Thế thì biết Phật Pháp quý vô cùng, không có phước duyên không thể nào gặp được. Nay ta có duyên lành nghe pháp yếu, càng phải nên trân trọng vậy!
PD. Diệu Hậu viết
“Mười phương chư Phật chẳng thể làm gì, chỉ có Phật A Di Đà bằng Siêu Thế Biệt Nguyện của mình mới cứu được chúng ta”
Nam Mô A Di Đà Phật.
Kính bạch Tuệ Tâm cùng các Huynh Đệ đồng tu.
Trong 10 phương chư Phật chỉ có Phật A Di Đà mới Tự Nguyện đứng ra Cam Kết, Thệ Nguyện để cứu chúng ta. Vì thế khi đề xướng tu tập chúng ta phải: “Chuyên tâm nhất hướng chỉ xưng niệm DH Nam Mô A Di Đà Phật”, duy nhất tin tưởng vào sự cứu độ của Phật A Di Đà, chỉ Một Mình Ngài chứ không phải là Đức Phật khác hay là 10 Phương Chư Phật.
“Mười Phương Chư Phật không thể cứu được chúng sinh Cõi Ta Bà, nhưng một mình đức Phật A Di Đà lại cứu được 10 phương chúng sinh, đặc biệt là Ngài ưu tiên chúng sinh cõi Ta Bà”. Nếu không học mạch Tổ Thiện Đạo chúng ta không thể thể hội được đầy đủ hàm nghĩa của câu này.
Đây là câu nói có 2 vế mang ý nghĩa rất sâu sắc trong Phật giáo. Nó cho thấy sự khó khăn và giới hạn trong việc cứu độ chúng sinh ở cõi Ta Bà, nơi con người phải chịu nhiều khổ đau, nghiệp chướng phiền não, nhưng lại ngoan cố cang cường vô cùng. Đến ngay cả với sự gia trì của 10 phương chư Phật, thì họ vẫn không tin tưởng.
Về phía Đức Phật A Di Đà, vì sao Một Mình Ngài lại có thể cứu được “nhóm chúng sinh này”? Đầu tiên phải nói rằng Đức Phật A Di Đà có duyên sâu nặng với chúng sinh Cõi Ta Bà. Vì thế Bổn Nguyện thứ 18 của Ngài mục đích chính là hướng đến chúng sinh “phàm phu sinh tử sinh ra trong cõi Ta Bà đời ác 5 trược”. Ở đây không có nghĩa Ngài “thiên vị” mà cõi đó là chúng sinh thuộc khu vực nguy hiểm nhất, nên Ngài phải ưu tiên cứu trước.
Trong Phật Pháp có câu: “Một Phật nói, thì cả 10 phương Chư Phật làm chứng”. Việc này cho thấy sự nhất quán của toàn bộ thế giới Phật pháp, đã công nhận và làm tăng thêm sức mạnh cho lời dạy đó, khiến cho những người tu hành có thể tin tưởng, thực hành một cách vững vàng. Và đó là Chân Lý không thể thay đổi, không thể thay thế.
Trong Kinh A Di Đà mười phương Chư Phật đồng thể hiện tướng lưỡi rộng dài nói lời thành thật để tán thán ca ngợi Tâm Lượng, Trí Tuệ và Năng Lực của Đức Phật A Di Đà, cũng đồng thời các Ngài sẽ gia trì hộ niệm bất thoái cho thiện nam tử thiện nữ nhân nào Trì Niệm danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật và phát nguyện về Đất Nước của Ngài.
Cả 2 đối tượng là Phật A Di Đà và (Thiện Nam, Thiện Nữ ấy) đều được 10 phương Chư Phật chú ý. Nếu chúng ta tin nhận hoàn toàn thì công cuộc tu tập sẽ thẳng tắt về Cực Lạc.
Bổn nguyện thứ 18 cũng là Ngài “tự nguyện” phát ra. Mục đích của Ngài là “bình đẳng” cứu hết 10 phương chúng sinh một cách “vô điều kiện”. Phân tích từng mệnh đề chúng ta sẽ thấy ở đó thể hiện tột cùng tâm lượng, trí tuệ, năng lực của Ngài là không có bất kỳ một Vị Phật nào làm được như thế.
Điều này được mô tả rất rõ trong Kinh Vô Lượng Thọ rằng: “Hào quang chư Phật chiếu ra có xa, có gần vì bản nguyện công đức đời trước cầu đạo có lớn nhỏ không đồng, nên khi thành Phật tự có hạn lượng”.
Việc giải thoát của chúng sinh và Chư Phật đều xoay quanh “Bổn Nguyện Độc Nhất” này:
– Đức Phật A Di Đà là Vị Phật Duy Nhất trong 10 phương Chư Phật Phát lời Thệ Nguyện đó. Mười Phương chư Phật cũng vì Thệ Nguyện này mà đồng nhất hưởng ứng, ủng hộ.
– Đối với chúng sinh nếu họ cương quyết muốn về CL ngay trong một đời, thì chắc chắn không thể tách ra khỏi Bổn Nguyện 18 (chúng sinh phải Bắt Buộc Chọn Phật A Di Đà chứ không phải là Nên Chọn).
Chúng ta dùng tiêu chí (10 niệm) của Nguyện 18 để xưng danh cũng được, hoặc chấp trì
(1 ngày, hoặc 2… hoặc 7 ngày) trong Kinh A Di Đà cũng được nhưng phải lấy tiền đề từ khai thị của Tổ Thiện Đạo thì mới giải quyết được tiêu chuẩn Một Lòng Không Tạp hay Nhất Tâm Bất Loạn. Vì chỉ có khai thị của Ngài mới chính xác phương pháp để chúng sinh cần tu tập. Và cũng chỉ có Tổ Thiện Đạo mới chuyển tải đầy đủ Tâm Ý của Đức Phật A Di Đà.
Có 3 điều nổi bật khi Tổ giải thích, chúng ta sẽ thấy vô cùng rõ ràng, phân định cụ thể, khóa chặt mệnh đề không để chúng ta phải tư duy hay hiểu sai ý:
1/ Xưng Danh: Ngài nói rõ xưng danh phải có chánh định nghiệp. Vì sao vậy? Chỉ khi dùng chánh định nghiệp xưng danh thì người tu mới thể hiện được toàn bộ tâm nương tựa tuyệt đối vào Thệ Nguyện cứu độ của Phật A Di Đà, mới tận dụng được hết công năng nhiếp thủ của danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật (Ánh sáng Quang Minh của Ngài “chỉ tiếp nhận chúng sinh niệm Danh Hiệu Ngài chứ không tiếp nhận chúng sinh tu hạnh khác”).
2/ Niềm Tin: Tổ phân định rõ ràng phải đi từ 2 khía cạnh Căn Cơ của mình, và Pháp cứu độ của Phật A Di Đà thì niềm tin mới triệt để.
Nghĩa là chúng ta cứ tu tập không phụ thuộc vào hoàn cảnh, không hạn cuộc bởi thời gian, không hạn chế vì bất kỳ một tiêu chuẩn nào, mỗi cá nhân tùy theo khả năng mà xưng niệm, tùy theo điều kiện của mình thế nào thì cứ như vậy mà tu hành – Đó là tin vào căn cơ của bản thân để tự lượng cho việc tu tập.
Khi đã tin Ngài rồi thì phải hoàn toàn tin tưởng, nương tựa tuyệt đối, không lo lắng sợ hãi bất kỳ điều gì, Ngài bảo chỉ Niệm Danh Hiệu của Ngài thôi, vì Bản Nguyện Cứu Độ của Ngài là chỉ cần Xưng Danh. Vì vậy mình Y giáo chỉ “Một câu Nam Mô A Di Đà Phật” mà dụng công trọn đời, không tác ý tu thêm bất kỳ một pháp nào khác – Đó là tin vào pháp cứu độ của Phật A Di Đà thì yên tâm mà giao phó hết cho Ngài.
3/ Nhất Tâm Bất Loạn: Tổ giải thích đã dễ hiểu rồi là: “Chuyên”. Chuyên lại càng Chuyên. Làm thế nào để (đã chuyên lại càng chuyên hơn). Tổ phân tích về 3 tầng ý nghĩa, có thể tóm tắt như sau:
– Tầng thứ nhất. Ân cần: Tức Ngài ân cần tha thiết nhắc nhở vì việc chuyên tâm là vô cùng quan trọng, Ngài biết rằng chúng ta sẽ quên, và không hiểu tường tận nên phải dặn đi dặn lại 1 lần rồi 2 lần lại 3 lần.
– Tầng thứ hai. Chuyên lại càng chuyên:
+ Chữ chuyên đầu tiên: cho ta thấy phải xả bỏ 5 loại tạp hạnh để chuyên tu chánh hạnh mới gọi là chuyên.
+ Chữ càng chuyên tiếp theo: là trong 5 loại chánh hạnh, chúng ta nương theo chánh định nghiệp Xưng Danh là chỉ chuyên tâm xưng niệm DH Phật A Di Đà.
– Tầng thứ ba. Chữ chuyên cuối cùng: là gác lại 4 trợ nghiệp, chỉ nương theo Chánh Định Nghiệp Xưng Danh mà thôi. Tầng ý nghĩa thứ ba này lại có 3 ý nhỏ đó là:
+ Chuyên phía trước là chuyên một hạnh xưng DH Phật A Di Đà.
+ Chuyên phía sau là một lòng một dạ (Chỉ Một Không Hai).
+ Bất luận là cả đời niệm hay chỉ 10 niệm 1 niệm đều nhất định được VS. Không nghi ngờ gì mà hoàn toàn tin nhận, thì niềm tin này cũng gọi là chuyên lại càng chuyên.
3 tầng ý nghĩa về Chuyên lại càng Chuyên này gọi là nhất Tâm nhất Hạnh (Tâm tuyệt đối tin nhận, Hạnh cương quyết hành trì đúng như thế). Khi đã hoàn toàn tin nhận thì cũng hoàn toàn tập trung duy nhất vào niệm DH -> Đây mới là Ý Nghĩa Chân Thật của Nhất Tâm Bất Loạn. Các tiêu chí khác cũng vậy, mình nghe hay đọc xong đều thấy rất rõ nghĩa, rõ ý, rõ phương pháp để tu…
Ở mạch Tổ Thiện Đạo tất cả các tiêu chí đều MỞ, khiến cho người tu vô cùng dễ dàng tiếp nhận. Vấn đề này càng chứng minh Tâm Lượng Từ Bi của Phật A Di Đà là vô lượng vô biên, Ngài thị hiện thân thế một Vị Tổ Sư tại nơi tối tăm vô minh phiền trược này chính là trực tiếp tận lực “lôi chúng sinh ra khỏi đó”.Tiêu chuẩn của pháp môn Tịnh Độ lấy cốt lõi trong Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ do Tổ Thiện Đạo soạn làm nền tảng tu tập, và đó là Tông Chỉ.
Tại sao nội dung Quán Kính Sớ lại gọi là “Khải Định Cổ Kim”? Mục đích mà Tổ Thiện Đạo thị hiện ở Cõi Ta Bà để chỉ ra những điểm chưa chính xác, những hiểu lầm khi thực hành và giải thích về Pháp môn Niệm Phật của các Đại Sư trước thời của Tổ (gọi là Cổ), cùng thời với Tổ (gọi là Kim). Mục đích này cũng không ngoài tâm nguyện là phải cứu độ từ chúng sinh xấu ác nhất, lỗi lầm nhất, yếu thế nhất.
Mạch Tổ Thiện Đạo là mạch được truyền thừa thuần túy, nguyên vẹn, không sửa đổi, không thêm bớt, không pha tạp, nên nó là Pháp Mạch Thuần Chánh của Đức Bổn Sư. Đi theo dòng mach này là mới là nương theo đúng Bổn Nguyện thứ 18 của Phật A Di Đà.
Nguyện lực của Ngài được chư Phật mười phương tán thán là Siêu Thế Nguyện. Chúng sanh bất luận tội phước, hễ chuyên nhất xưng danh hiệu của Ngài liền vào thẳng Phổ Đẳng Tam Muội của Ngài (báo độ Cực Lạc), được ánh hào quang của Ngài thâu nhiếp, bảo vệ cho đến ngày vãng sanh. Riêng việc này, chư Phật mười phương ba đời không ai làm được.
Chúng ta phải biết rằng chỉ có danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật mới đủ khả năng một mình chạy độc lập và không cần bất kỳ một hạnh nào khác hỗ trợ. Thế nên Tổ Thiện Đạo mới tuyên bố 2 điểm đặc biệt ưu việt:
1/ Duy nhất chỉ niệm Nam Mô A Di Đà Phật đó là Chánh Định Nghiệp Xưng Danh.
2/ XƯNG DANH NHẤT ĐỊNH VÃNG SANH.
Đức Phật A Di Đà là Cổ Phật, khi Ngài thị hiện Tỳ kheo Pháp Tạng phát Bổn Nguyện 18 cứu độ 10 phương chúng sinh, càng chứng minh cho Tâm Lượng, Năng Lực, Trí Tuệ của Ngài là tột cùng viên mãn. Tâm lượng Vĩ Đại ấy là chỉ cần:
– Một Niệm cho những chúng sinh thập ác, ngũ nghịch, xiển đề bức bách khổ não, cùng cực ở thời khắc Lâm Chung.
– Một niệm ấy là trường sinh bất tử, là thời điểm nguy cấp nhất của bức bách khổ đau, là thời hạn ngắn nhất còn lại, là giây phút mong manh nhất, là số lượng xưng danh ít nhất, là mức độ yêu cầu đơn giản nhất, là lúc tinh thần hoảng loạn nhất mà họ tin nhận thì vẫn được cứu.
– Một niệm cuối này cho chúng ta thấy điểm Tối Diệu của Đại Nguyện, Đại Hạnh, Đại Lực mà Đức Phật A Di Đà đã vun trồng trong vô lượng kiếp.
Vì thế:
– Tu tập bằng Hạnh Xưng Danh là tận dụng tối đa năng lực cứu độ của Đức Phật A Di Đà.
– Bản thân Danh Hiệu cũng phát huy được hết Công Năng Lực Dụng vốn có có của nó
– Chúng sinh tin tưởng Hạnh Xưng Danh mới hội tụ được toàn bộ hàm nghĩa mà Phật dạy.
– Hết thảy căn cơ tu tập bằng Hạnh Xưng Danh đều được cứu độ mà không bỏ sót một ai.
Đây là khẳng định cho Pháp vị Thù Thắng Dễ Hành.Vì bất kể chúng sinh ở hoàn cảnh nào, nơi chốn nào, sức khỏe nào, môi trường nào, phạm vi nào, đều phù hợp để niệm Phật. Xưng Danh là phổ biến nhất, dễ dàng nhất, đơn giản nhất, thuận tiện nhất ai cũng làm được mà không có bất kỳ điều gì cản trở.
Nam Mô Bổ Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
Diệu Hậu.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.