Chánh niệm lúc Lâm Chung có được là do Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng hiện ra, chớ không phải do người niệm Phật được chánh niệm thì Phật mới đến tiếp dẫn.
Đơn giản như vậy, nhưng đa phần người ta lại hiểu ngược lại: “Phải giữ được chánh niệm, tâm không điên đảo mới có thể cảm được đức Phật A Di Đà hiện ra trước mắt tiếp dẫn vãng sanh.” Đây là sự hiểu lầm vô cùng đáng tiếc của nhiều người niệm Phật. Chính sự hiểu lầm kinh văn này khiến người niệm Phật rơi vào Tự Lực, thay vì chỉ cầu vãng sanh lại đi cầu nhất tâm bất loạn, thật vô cùng đáng tiếc!!! Việc giải thích lầm lạc kinh văn này đã khiến không biết bao nhiêu người mất cơ hội vãng sanh. Nay bạn duyệt lại kinh A Di Đà xem có đúng Phật dạy như thế hay không?
Kinh A Di Đà Phật dạy: “Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đức Phật A Di Đà. Rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày. Hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bẩy ngày, một lòng không tạp loạn. Thời người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh Chúng hiện thân ở trước người đó. Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.”
Rõ ràng là: Do Phật cùng Chư Thánh Chúng hiện ra khiến hành giả tâm không điên đảo chớ không phải là do hành giả có chánh niệm thì Phật cùng chư Thánh Chúng mới hiện ra tiếp dẫn.
Chánh niệm lúc lâm chung do đâu mà có
Trong Pháp Sự Tán, Tổ Thiện Đạo giải thích đoạn kinh văn này như sau:
Cực Lạc Vô Vi Niết Bàn giới.
Tùy Duyên Tạp Thiện khó sanh về.
Vì thế Như Lai chọn Pháp Yếu.
Dạy niệm Di Đà chuyên lại chuyên…”
Riêng về cụm từ “Nhất Tâm Bất Loạn” thường bị người ta đứng trên lập trường của Thánh Đạo Môn nên giải thích lầm lạc, không đúng với ý kinh. Họ cho rằng “Nhất Tâm Bất Loạn” nghĩa là người niệm Phật phải đạt đến công phu sâu dày, chứng nhập Tam Muội, hoặc phục đoạn phiền não…Họ đều chẳng biết rằng: “Chấp trì danh hiệu” chính là tâm tin nhận Di Đà cứu độ nên miệng xưng Di Đà Phật danh.
“Nhất tâm nghĩa là không có hai tâm, không hai chính là chuyên. “Bất Loạn” tức là không tạp loạn, không tạp loạn chính là Chuyên. Vì thế nên Tổ Thiện Đạo giải thích: “Chấp trì danh hiệu Nhất Tâm Bất Loạn nghĩa là Niệm Phật Di Đà Chuyên Lại Chuyên.” Cho nên bất luận người nào chỉ cần suốt đời, hoặc một ngày, hoặc bảy ngày, cho đến 10 niệm hoặc 1 niệm, chuyên niệm danh hiệu A Di Đà Phật, nguyện vãng sanh về Cực Lạc liền nhờ nguyện lực của Phật sẽ được vãng sanh. Rất dễ hiểu, dễ thực hành, không mảy may có yêu cầu đặc biệt hay huyền diệu gì khác!!!
*
“Người ấy khi mạng chung tâm không điên đảo.” Câu này bị đa số người hiểu lầm, cho rằng: “Nhất định mình phải giữ được chánh niệm, tâm không điên đảo mới có thể cảm được đức Phật A Di Đà hiện ra trước mắt tiếp dẫn vãng sanh. Họ đều chẳng hiểu rằng: Do Phật hiện ra trước người ta mới được Chánh Niệm, không phải là được Chánh niệm rồi Phật mới hiện ra. Nghĩa là đức Phật từ bị hiện ra khiến cho tâm ta an định, không tán loạn. Bởi vì bình sanh niệm danh hiệu Phật, khi lâm chung Phật nhất định hiện ra trước mặt. Vì Phật hiện ra nên Tâm được Chánh Niệm và không điên đảo vậy!
Tuệ Tâm 2023.




CUNG KÍNH viết
CHỊ TUỆ TÂM ƠI ĐÂY LÀ LỜI KHAI THỊ CỦA ĐẠI SƯ THIỆN ĐẠO PHẢI KHÔNG Ạ!
🙏DANH HIỆU TỨC TÍN TÂM
🙏TÍN TÂM TỨC XƯNG DANH HIỆU
🙏XƯNG DANH HIỆU TỨC VÃNG SANH
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật!
Đúng rồi bạn ạ. Tín nếu không khởi thì miệng chẳng thể xưng danh. Cho nên một khi đã xưng danh nghĩa là đã bao gồm Tín Nguyện. Mà xưng danh là thuận theo Bản nguyện của Phật A Di Đà, do đó chắc chắn được vãng sanh vậy!
PD. Diệu Hậu viết
CHÁNH NIỆM LÂM CHUNG THÀNH TỰU TỪ LÚC “BÌNH SANH CỦA BẠN”.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
Kính bạch Tuệ Tâm cùng chư Liên Hữu.
Thời điểm lâm chung và kết quả Vãng Sanh là vấn đề “căng não” của người tu Tịnh Độ Yếu Môn. Với dòng Hoằng Nguyện của mạch Tổ Thiện Đạo thì Chánh Niệm Lúc Lâm Chung thành tựu từ lúc “Bình Sanh của bạn”.
Bình Sanh do đâu? Chúng ta thường tự đặt cho mình những tiêu chuẩn quá xa vì không hiểu đúng tiêu chuẩn của Phật.
Bản chất của Tiêu Chuẩn là Phật dựa vào “Khả Năng” của chúng sinh để Ngài đưa ra Pháp Cứu Độ phù hợp. Pháp phù hợp là dựa trên mục đích cứu độ 10 phương chúng sinh, nhưng trong 10 phương chúng sinh lại phải xuất phát từ mục tiêu ưu tiên chúng sinh kém thế nhất.
Điều này căn cứ vào quá trình quán sát tư duy trong 5 kiếp, Ngài sẽ đưa ra một quyết định phù hợp cho tất cả đó là chọn Mẫu số chung thấp nhất. Vì để cứu được chúng sinh dưới cùng thì phải cho họ phương pháp dễ nhất và đương nhiên những chúng sinh tầng bậc cao hơn chắc chắn làm được. Khi đã hoàn chỉnh một bản thiết kế, Ngài sẽ bước vào gian đoạn hiện thực hóa công trình, đó là triệu tải vĩnh kiếp tu tập tiếp theo để tích lũy tài sản vào “Mẫu số chung thấp nhất đó”.
Trong Nguyện thứ 18 Tiêu Chuẩn Ngài đưa ra là: “Cho đến 10 niệm”.
Đây là đơn giản của đơn giản, bởi nó phù hợp cho căn cơ cùng kiệt nhất.
Vì thế dù bạn ở bất kỳ tầng bậc nào, bạn vẫn phải xuất phát từ vị trí này thì bạn mới nhận được toàn bộ Công Năng cứu độ của Nguyện Lực. Điều này thể hiện cho tâm lượng Bi Mẫn thẩu hiểu tận cùng của Đức Từ Phụ.
Vế tiếp theo Ngài THỀ: “Nếu chúng sinh không toại nguyện – Ngài không thành Phật”.
Đây là mấu chốt cho sự Chắc Chắn. Phật đã THỀ là bằng chứng cho những gì Ngài cam kết.
Điều này không đơn giản như “lời hứa gió bay” của chúng sinh đâu bạn. Lời thề của Phật là cả pháp giới Chư Phật chứng minh, danh dự của Ngài, sinh mạng của Ngài, quả vị của Ngài chỉ đổi lấy sáu chữ Hồng Danh rồi tặng không cho bạn. Nếu không như thế sao gọi là Phật Trung Chi Vương.
Trong quá trình quán sát tư duy căn cơ của hết thảy chúng sinh, Tỳ Kheo Pháp Tạng thấy rằng căn tánh của chúng sinh dù có tập bằng cách nào cũng chỉ chìm trong biển khổ, không thể thoát ra. Vì sao? Cốt lõi:
– Cảnh giới của giải thoát là Niết Bàn Vô Vi, không tướng, ở đó mới không bao giờ có khái niệm khổ và luân hồi.
– Chúng sinh phàm phu sinh tử chìm đắm từ vô thỉ lại đến vô chung, “muốn cứu độ họ là phải làm thay cho họ, bởi họ không cách chi làm được”.
Vì thế Ngài tiếp tục thực hiện giai đoạn 2 là bước vào tu tập trong thời gian vô lượng để tích lũy công đức vào câu Phật Hiệu. Đây là lý do khi ta niệm Phật Hiệu là đã AN Sẵn rồi, Bình Sanh rồi. Lâm Chung đương nhiên Phật đón mà ta không cần phải lo trước.
Khi chúng ta thọ nhận Pháp này là Ngài đã thành Phật từ hơn 10 kiếp rồi chứ không phải ta “nghe” ở thời điểm Ngài đang phát nguyện. Như vậy rõ ràng chúng ta tiếp cận là lời của Đức Phật A Di Đà chứ không phải là lời của Bồ Tát Pháp Tạng. Vì thế ngay khi chúng ta Xưng Danh thì “Bình Sanh đã thành tựu”.
Nguyên lý tiếp dẫn là một cơ chế đã cài đặt từ trước (công đức trong câu Phật Hiệu đã đầy đủ), chúng sinh tin và xưng danh thì tức khắc khớp mạch.
Như vậy tiếp dẫn khi ta lâm chung, hay nhiếp thủ lúc hiện tại ta xưng niệm bản chất là như nhau, cả hai giai đoạn đều xuất phát từ sự tương ưng giao thoa điểm “Chập – Nhất Thể”.
Hiện tại chúng ta chuyên nhất Xưng Danh thì Tâm Quang của Phật ôm trọn “Tâm Ta” khiến cho ta luôn cảm thấy an lạc (AN này là nguyên do tạo nên Bình Sanh).
Thời điểm lâm chung, “Thần Thức” của ta tương ưng với sự phóng quang của Phật, vì lúc đó Ngài cùng Thánh chúng hiện thân đến gia trì và tiếp dẫn (Kinh A Di Đà nói).
Nghĩa là từ lúc hiện tiền bạn xưng danh thì Tâm bạn tương ưng Tâm Phật tức đã “thông đường”, nhưng do thân xác của bạn còn phải ở lại trả nốt phần nhiệm vụ của nó, vì thế mới nói “trên thì trọn một đời, dưới cho đến 10 niệm” là căn cứ vào thời điểm hành giả gặp pháp môn đồng thời cũng là thọ mạng của họ dài ngắn thế nào.
Như vậy thời điểm lâm chung là thần thức của bạn đã sẵn “thông lộ” từ lúc trước, nên sự xuất hiện của Phật A Di Đà và Thánh chúng là điều rất tự nhiên.
Sự khác biệt điển hình và mấu chốt của Tự Lực kèm Tha Lực và Tha Lực Hoàn Toàn chính là Tâm Thức và Tinh Thần của người tu trong 2 giai đoạn hiện tiền và kết thúc mạng chung.
Nếu Tâm Thức cập nhật trọn vẹn trạng thái nào thì Tinh Thần tác động bởi kết quả đó. Đây là sự cộng hưởng đồng điệu theo chuỗi “Cơ Pháp tương ưng” trong Nhị Chủng Thâm Tín của Tổ Thiện Đạo.
Tâm thế ở đây chính là nền móng của “Cơ bất lực – Pháp có cửa vào”.
Khi bạn nhận ra bản chất phàm phu ngũ ác chỉ là một sự trống rỗng về khả năng tự tu thì bạn đã chấp nhận Cơ bất lực của mình, lúc này bạn có một trạng thái “Ngộ” -> À! Vì ta là phàm phu ngũ ác sinh ra tại cõi đời ác trược, bản chất bên trong ta đã thai nghén sẵn sự bất lực rồi, kiểu gì nó cũng “sinh ra”. Không nuôi nổi nó thì BIẾU cho Phật, đây là Tâm Thái đã chuyển sang thành hành vi mở cửa cho Pháp Vào. Tinh Thần lúc này an chưa? AN.
Trong Kinh A Di Đà nói:
“Thời người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh chúng hiện thân ở trước người đó” (câu này mô tả Phật đến gia trì trước, tiếp theo là câu) -> “Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về Cõi nước Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà”.
Nghĩa là đoạn này được tách làm hai nhịp (Phật đến trước gia trì để người đó không bị điên đảo -> lúc tắt hơi thần thức của họ không bị chướng ngại và tức khắc vãng sanh).
Đây cũng chính là kết quả của sự gia trì hộ niệm bất thoái từ 2 nguồn năng lực khi hiện tiền họ nhất hướng chuyên xưng:
– Sáu phương chư Phật trong Kinh A Di Đà cam kết.
– Tâm Quang nhiếp thủ phóng quang ôm lấy người niệm Phật giữ chặt không rời (Kinh quán VLT và Pháp sự tán của Quán Tứ Thiếp Sớ nói).
Như vậy Lâm Chung của bạn có An Lạc hay không là từ khi hiện tiền tu tập bạn đã được nhiếp thủ “AN rồi”. Còn người lâm chung mới xác lập, là bởi khoảnh khắc đó nếu họ gặp rồi tin và niệm, thì 1 câu đến 10 câu là đủ (thần thức của họ ngay khi tác ý đến Phật Hiệu là được cứu). Đây cũng chính là Bình Sanh và Lâm Chung xảy ra “đồng thời” của căn cơ này.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.