Tông chỉ của Tông Tịnh Độ nghĩa là gì? Tông Chỉ của Tông Tịnh độ là giáo lý mang tính cốt lõi, nền tảng, không thể thay đổi, không thể chuyển biến, không thể thêm hay bớt của người tu Tịnh Độ, được khái lược trong 4 câu:
Tin Nhận Di Đà Cứu Độ.
Chuyên Xưng Di Đà Phật Danh
Nguyện Sanh Di Đà Tịnh Độ
Độ Khắp Mười Phương Chúng Sanh.”
Đây cũng chính cốt lõi trong tư tưởng Tịnh Độ của Đại Sư Thiện Đạo. Theo đó: Tin Nhận Di Đà Cứu Độ, là nói Pháp môn Tịnh Độ, là pháp môn cứu độ của đức Phật A Di Đà. Phật giáo lấy Từ Bi, cứu khổ cứu nạn làm nền tảng. Vì thế đức Phật Thích Ca xuất hiện trên thế gian là vì muốn cứu độ chúng sanh thoát khỏi lục đạo luân hồi. Trong 84000 pháp môn Ngài thuyết đều vì cứu độ chúng sanh nhưng trừ Pháp Môn Tịnh Độ ra, tất cả đều lấy tự lực làm chánh, nghĩa là lấy Tam Vô Lậu Học, Giới Định Huệ làm nền tảng. Chỉ riêng có Tịnh Độ Pháp Môn nương nơi tha lực của Phật làm yếu chỉ hành trì…
Tông Chỉ của Tông Tịnh Độ giảng giải
Tám vạn bốn ngàn pháp môn đức Phật thuyết ra này đặc điểm đều riêng khác, giống như chúng ta bị kẻ địch bao vây, vô cùng nguy cấp, bàng hoàng không nhúc nhích mà có người đến cứu. Người ấy cho chúng ta một phương pháp, giống như cho chúng ta một thứ vũ khí. Nếu kẻ thân thể cường tráng, kẻ ấy đang lúc tay không nay lại cầm vũ khí, lại có sức mạnh thì có thể đột phá vòng vây, tự mình có thể thoát khỏi hoàn cảnh nguy hiểm. Đây là dù cho có người đến cứu kẻ ấy, nhưng kẻ ấy cũng có thể tự cứu lấy mình. Vì kẻ ấy cầm vũ khí, tự mình có thể đột phá khỏi vòng vây.
Ngoài ra còn có một hạng người thân thể rất yếu, không có sức mạnh, dù đưa cho vũ khí cũng không thể sử dụng, vì cầm không nổi. Người đến cứu chỉ cần nói: “Anh hãy đi theo tôi, tôi sẽ dẫn anh, thậm chí vác anh lên vai, như thế thì mới vượt qua được vòng vây, thoát cảnh nguy hiểm.” Người thứ hai này có thể nói là hoàn toàn thuần túy, triệt để được cứu độ.
*
Đức Phật Thích Ca đến thế gian này giảng nói 84000 pháp môn, trừ pháp môn tịnh độ này ra, các pháp môn khác đều là tự cứu. Đều là Phật cấp cho chúng ta vũ khí giới định huệ. Vũ khí giới định huệ này chúng ta có cầm nổi hay không? Giống như thanh đao Thanh Long Yểm Nguyệt nặng hơn 80 kg của Quan Công, tuy sắc bén nhưng chúng ta cầm không nổi, vì thế không sử dụng được. Có cố cầm cũng chỉ thêm phiền phức mà thôi.
Nếu thân thể chúng ta cường tráng, lại có thể sử dụng tự tại thì mới có thể đột phá vòng vây. Vòng vây đại biểu cho cái gì? Chúng ta bị các thứ nghiệp chướng, do đã gây tạo từ vô lượng kiếp đến nay. Đức Phật Thích Ca cấp cho chúng ta 84000 vũ khí giới định huệ, mỗi người một món. Chúng ta được cấp phát Ngũ giới, Thập giới, Bồ Tát giới…các môn Thiền Định…Các pháp khai ngộ, giới định huệ đều có nhưng chúng ta có cầm nổi hay không?
*
Có người nói: Tôi trì ngũ giới không nổi, ăn chay không nổi. Đa số người đời không có sức tu trì Ngũ giới, ăn chay. Mục đích tu trì giới định huệ là đạt đến diệt trừ Tham sân si, điều này lại càng khó, khó chồng thêm khó. Nếu như người có sức mạnh giống như các Đại Đức Tổ Sư thì có thể dùng vũ khí giới định huệ, chặt đứt phiền não tham sân si, đánh bại nghiệp chướng phiền não thì có thể dựa vào Tự Lực, tự mình cứu mình. Lúc đó đức Phật để cho người ấy tự cứu lấy họ ra khỏi sanh tử luân hồi.
Nhưng nói một cách nghiêm túc, Ngũ giới chúng ta còn trì không nổi thì nói chi đến Bồ Tát giới. Bồ Tát giới phải phát Bồ Đề Tâm mới thành Bồ Tát…
Tuệ Tâm 2023.




Nguyen Hung viết
Nam mô A Di Đà Phật!
Diệu Hậu.PD viết
THẾ NÀO LÀ TÔNG CHỈ CỦA TÔNG TỊNH ĐỘ.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Kính bạch Tuệ Tâm cùng các chư Liên Hữu.
Người tu học Pháp Môn Niệm Phật A Di Đà cầu vãng sanh Cực Lạc, vì sao cứ loanh quanh trong một rừng kiến thức, kiến giải mà không vào được cửa Tịnh Độ Gốc Thuần Chánh là bởi không nhận thức rõ đâu là TÔNG CHỈ CỦA TÔNG TỊNH ĐỘ đúng nghĩa.
1. Bản chất của Tông Chỉ.
Nói đến TÔNG CHỈ chúng ta sẽ được tiếp cận rất nhiều cách giải thích, hay quy chuẩn, tiêu chí. Nhưng cốt lõi nếu tu tập vẫn lơ tơ mơ thì đó là đi sai Tông Chỉ.
Trong pháp môn niệm Phật A Di Đà, nương hoàn toàn vào Tha Lực cứu độ của Đức Từ Phụ, thì Tông chỉ chính là “Y NGUYỆN – TIN NHẬN”.
Nguyện 18: “Nếu con thành Phật, chúng sinh trong mười phương dốc lòng tin tưởng, muốn sinh về cõi nước con cho đến mười niệm, nếu không được toại nguyện, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác”.
• Y NGUYỆN: Là căn cứ vào tiêu chí cốt lõi nhất mà Phật A DI Đà đưa ra: CHO ĐẾN MƯỜI NIỆM -> đây là khả năng ta làm được.
• TIN NHẬN: Là Ngài nói rằng “Nếu chúng sinh không được toại nguyện, thì Ngài không thành Phật” -> đây là lời Thề của Phật A Di Đà.
Như vậy, cả hai bên: Tin Nhận (Ta) và Y Nguyện (Phật) đúng như thế thì Tâm ta và Tâm Ngài tạo thành tần sóng tương thích Cơ Pháp hòa làm một. Đương nhiên phía Phật là không thể SAI LỆNH.
Bản chất, cốt lõi, tinh túy, và kết quả của Thệ Nguyện thứ 18 kể cả phía Phật hay phía chúng sinh, thì điểm giao nhau chính là “CHO ĐẾN 10 NIỆM”. Đây là hai cơ chế hoạt động nhưng theo một Nguyên Lý: NHẤT THỂ.
Do đó TÔNG CHỈ dù có định nghĩa bằng phương diện giáo lý nào, phân tích ở khía cạnh nào thì kết thúc BẠN gặp PHẬT A DI ĐÀ chỉ bằng 6 chữ “Hồng Danh”.
2. Tông Chỉ của Tông Chỉ (Dòng Tổ Sư Thiện Đạo).
Với mạnh tịnh độ Thuần Chánh của Tổ Sư Thiện Đạo sở dĩ gọi là “TÔNG CHỈ của TÔNG CHỈ”, vì dòng tu nay được truyền thừa thuần túy nguyên vẹn bởi giáo nghĩa của Đức Bổn Sư. Qua các đời từ Bồ Tát Long Thọ đến Tổ Thiện Đạo không bị pha tạp, thêm bớt, hiểu lệch. Bản ý của Bổn Sư hoàn hoàn đồng lập với Hoằng Nguyện của Phật A Di Đà.
Mục đích mục tiêu cứu độ của Phật A Di Đà được công khai phủ sóng Khắp Pháp giới nhưng chỉ Cảnh Giới Phật Phật đạo đồng mới thấu hết. Vì thế GỐC “giáo lý” mà chúng sinh phàm phu nương tựa là từ Pháp nghĩa của Bổn Sư. Nhưng GỐC để “phó thác” huệ mạng của mình lại là đức Từ Phụ. Đây là lý do vì sao Tổ Thiện Đạo trở lại thế gian này để khai thị chúng sinh phải hiểu NGUỒN GỐC một cách rành mạch.
• Tại sao Gốc (giáo lý) lại từ Bổn Sư? Đức Bổn Sư thị hiện giáo hóa tại cõi Ta Bà ô trược này cũng không phải khi đó Ngài mới tu tập để thành Phật (Ngài từng nói trong kinh Phạm Võng rằng “Ta thành Phật đây là lần thứ 8 ngàn”). Việc giáo hóa và phát nguyện của tất cả Chư Phật với chúng sinh đều có nhân duyên và thời điểm. Đức Bốn Sư thị hiện tại cõi này vì bản hoài và tâm nguyện ban đầu là muốn họ đều được giải thoát, nhưng do thiện căn và nghiệp lực của chúng sinh quá cang cường, khó độ nên từ Một Cách, Ngài phải phương tiện thành Nhiều Cách.
• Tại sao Gốc (nương tựa phó thác) lại là Đức A Di Đà? Đức Phật A Di Đà cũng không phải từ Tỳ Kheo Pháp Tạng tu tập, mà Ngài là Cựu Chánh Đẳng Chánh Giác. Ngài là bậc Nhất Thiết Chủng Trí, có khả năng cứu độ hết thảy mà không phải khoanh vùng từng nhóm. Phương châm của Ngài là: MỘT CÁCH – CỨU TẤT.
3. Quy mô Chiến dịch Pháp giới.
Vì thế khi Ngài Phát Nguyện thứ 18, thì Nguyện Ấy rung chuyển cả Hành Tinh. Tất cả 10 phương chư Phật đều tán thán, khen ngợi nể phục và Tôn Vinh.
Sự kiện này một lần nữa chấn động khi đức Bổn Sư độc thuyết kinh A Di Đà. Đây là tiến trình mà Bổn Sư chuyển tải (từ Nguyện thứ 17 của Kinh Vô Lượng Thọ) cho chúng sinh tại cõi Ngũ Trược này.
• Nguyện thứ 17 nói gì: “Nếu tôi thành Phật, mười phương vô lượng chư Phật chẳng đều ngợi khen xưng tụng danh hiệu của tôi, thì tôi chẳng lấy ngôi Chánh Giác.”
Lời Nguyện này giống như một Hiệu Lệnh của Vua Phật, 10 phương chư Phật có trách nhiệm giúp Ngài lan tỏa Danh Hiệu, để hết thảy chúng sanh đều được cứu.
Nguyện 17 là tiền đề để tất cả chư Phật dù giáo hóa ở cõi nào, thời đại nào cũng phải lấy nền tảng Xưng Danh của Nguyện thứ 18. Thế nên Chư Tổ mới nói Ba thời 10 phương chư Phật đều lấy Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật làm giáo án của mình.
Những sự kiện mang tính chất Quy mô Pháp giới ấy, chứng minh một điều rằng không phải một mình đức Phật A Di Đà cứu chúng ta, không phải một mình Bổn Sư khuyên chúng ta mà cả Pháp Giới Chư Phật cũng tham gia chiến dịch.
Nhưng chúng sinh phải nắm chặt lấy Phao Cứu Độ từ Vị Tổng Chỉ Huy ném cho mình, vì Ngài là người XUẤT LỆNH.
Đây là GỐC để chúng sinh phó thác tin nhận, thi hành. Chỉ có ở khía cạnh này thì Hạnh Xưng Danh của chúng ta mới là một đầu CỘNG MẠNG DI ĐÀ.
4. Đối chiếu Mạch Truyền Thống và Mạch Thuần Chánh.
Nếu ta đối chiếu Tông chỉ theo mạch tu tịnh độ Truyền Thống và mạch tu tịnh độ Thuần Chánh sẽ khác nhau một trời một vực:
TỰ LỰC kèm THA LỰC / khác biệt hoàn toàn với THA LỰC TUYỆT ĐỐI.
4.1/ Tông chỉ Truyền Thống:
Quy trình Tam Tư Lương: TÍN -> NGUYỆN -> HẠNH là 3 tầng tâm thế phụ thuộc vào nhau, đan chéo với nhau, bổ xung cho nhau.
• Tin là bạn hỏi mình đã tin chưa, nhiều hay ít, sâu hay cạn?
• Nguyện là bạn hỏi mình đã nguyện tha thiết chưa, đã ưa đã thích Cực Lạc chưa, nơi ấy là thế nào?
• Hạnh là bạn ra sức niệm Phật thật nhiều để dẹp loạn, trừ vọng… cố gắng làm nhiều thiện lành để giảm chướng, tăng phước.
-> Lộ trình tu tập này gắn chặt với tiến trình tâm thức của hành giả, nó giúp họ có đủ nội lực để khẳng định sức đóng góp của bản thân cho công cuộc vượt thoat của mình. Vì 3 Tư Lương là “kiềng 3 chân, không thể thiếu chân nào”, nên Chư Tổ nói rằng:
Không có TÍN NGUYỆN thì niệm Danh Hiệu đến rát cổ bỏng họng, cũng uổng công.
Không có TÍN NGUYỆN thì niệm Danh Hiệu đến mức mưa không lọt, gió không vào, vẫn không về được Cực Lạc.
Cách nói này là chư Tổ khế nhập từ Căn Cơ Thánh Nhân, nên không thể áp dụng cho hàng phàm phu ngũ ác. Vì thế Tông Chỉ theo mạch truyền thống là: TỰ hoặc TỰ kèm THA.
4.2/ Tông chỉ Thuần Chánh:
Quy trình Tam Tư Lương: TÍN ->HẠNH ->NGUYỆN. Mạch này lấy HẠNH làm Thể (tức là 1 đã bao gồm cả 3). Khi bạn dùng Hạnh Xưng Danh thì TÍN và NGUYỆN đã đầy đủ.
Cơ chế:
Khi bạn Tin Phật A Di Đà, thì bạn mới niệm Danh Hiệu Ngài (tức có Hạnh), đã niệm thì (Nguyện sẵn trong đó) vì mục đích tu tập của bạn là VỀ CỰC LẠC. Trong tâm bạn chỉ có một ý niệm duy nhất, ý niệm này thường trực trong bạn, bạn không bị các mong cầu khác chi phối, không bị ảnh hưởng của được mất hơn thua, thành công hay đổ vỡ.
Bạn dùng Danh Hiệu để san bằng mọi khoảng rỗng, bạn không phải xem mình tu đúng hay sai, tịnh hay động… không cần thêm pháp này, bỏ hạnh kia… Bạn cũng dừng được tất cả những lo lắng, tính toán, phòng bị cho kết quả lâm chung của mình, bạn HOÀN TOÀN PHÓ THÁC vào DANH HIỆU.
Đây là sức mạnh của Năng Lượng từ “Bản Thể Danh Hiệu” khi bạn xưng niệm mà có (tức hộ niệm gia trì bất thoái của chư Phật trong Kinh A Di Đà). Tâm thế của bạn An Lạc, Thấu Rõ, nghĩa là Từ Trường của Tâm Quang Phật A Di Đà đã thiếp thủ bạn.
Bạn thấy đấy chỉ cần Hạnh Xưng Danh thôi, TÍN TÂM trong bạn là: BẤT ĐỘNG.
Do đó mạch tu này là Nương Tha Lực Hoàn Toàn vào Thệ Nguyện thứ 18 của Phật A Di Đà, nó phù hợp tuyệt đối với căn cơ hạ ngu hạ chí thời ngũ ác chúng ta.
4.3/ Sự khác biệt CHÍ CỐT đặc trưng:
• MỘT CÁCH – NHIỀU CÁCH
• DỄ HÀNH – KHÓ HÀNH
• THA LỰC – TỰ LỰC
• HOẰNG NGUYỆN – YẾU NGUYỆN
• BÌNH SANH – KHÔNG XÁC ĐỊNH.
– Niềm tin ở mạch Truyền Thống đến từ Bên Trong (cái Ta) của chúng sinh nên nó bất ổn, không thật nay tin, mai ngờ. Nó là hư huyễn, có tướng trạng.
– Niềm tin ở Mạch Thuần Chánh là từ Lực Bên Ngoài (Phật A Di Đà), niềm tin này giúp bạn đạt đến SỰ THẬT NHƯ NÓ LÀ. Nó vốn thế, hiển nhiên NHƯ THỊ.
– Tín Nguyện Hạnh ở mạch Truyền Thống là bạn phải tích lũy, gom góp trong một quá trình. Khi nó đủ mạnh tùy vào nhân duyên và cấp độ tu tập của bạn như thế nào, nên mới có sự do đếm, nhiều ít, sâu cạn, đầy với. Đây là tâm thức còn trong giới hạn hữu tướng, còn khoảng cách, nên không thân cận, không gần gũi với Phật A Di Đà, còn mệt mỏi lắm, còn Xa Đích lắm.
– Tín Hạnh Nguyện trong mạch Thuần Chánh là do năng lực của Câu Phật Hiệu tác động lên thân tâm của chúng ta. Chỉ có Tam Tư Lương vận hành bởi câu Phật Hiệu thì niềm tin của bạn mới tới điểm Như Thị.
Tổ Thiện Đạo dạy Nam Mô A Di Đà Phật tách làm hai vế:
Nam Mô. Là Nưong tựa, là Quay về, là Tín Tâm. Cũng nghĩa là phát nguyện hồi hướng.
A Di Đà Phật. Là Hạnh của Phật A Di Đà.
Khi ta niệm Nam Mô A Di Đà Phật thì hạnh của Phật A Di Đà chuyển hoá thành Hanh của ta. Hạnh này mới là Công Đức Vô Tướng để đưa chúng ta về Cực Lạc bạn ạ.
Do vậy Tu và Tin ở hai mạch này là mô tả đường DỄ đi và KHÓ đi, kết quả Chắc Chắn và Không Xác Lập, chọn thế nào bạn tự hỏi bản thân.
Chúng ta nên biết sự khác biệt giữa Tông Chỉ của 2 mạch là bởi mạch truyền thừa Thuần Chánh bị gián đoạn do lịch sử Pháp nạn tại Trung Quốc thời đại vua Đường Vũ Tông. Đây là Pháp nạn Hội Xương (842–846). Sự kiện này khiến cho việc tiếp nối mạch Thuần Chánh bị đứt gãy, tài liệu và các chứ tác của mạch cũng bị thất lạc. Nguyên nhân cơ bản này, khiến cho các Tổ Sư đời sau không có nền tảng của giáo lý Thuần Chánh để y cứ, các Ngài dựa vào sự tu học của bản thân, dựa vào tông phải mình tu tập, quan điểm khế nhập của các Ngài là từ căn cơ Thánh Nhân. Chúng sinh phàm phu thời ngũ ác không thể áp dụng được.
Mạch Thuần Chánh đứt gãy, các tài liệu thất lạc sang Nhật Bản kéo dài hơn 1.000 năm. Thế nên giai đoạn này tại Trung Quốc mạch tu của các Tổ Sư được truyền lại qua rất nhiều thế hệ nên nó ngẫu nhiên trở thành mạch Truyền Thống xưa nay.
Ngày nay chúng ta gặp lại mạch Thuần Chánh là một nhân duyên vô cùng hi hữu.
Quay lại Nguyện 18 ta sẽ thấy: Nó đơn giản đối với người đơn giản, nó phức tạp với người dùng logic để hiểu.
Thệ Nguyện chỉ Xưng Danh. Phật nói Xưng Danh là Xưng Danh – Tất cả chỉ có vậy.
Đức Bổn Sư chuyển tải lại cũng chỉ MỘT CÁCH, Ngài Phó Chúc cũng MỘT CÁCH, Ngài Hoài Niệm cho chúng sinh vẫn Cách Ấy.
Vậy đến Bản Sư còn Y Lời, thì phàm phu tư cách gì mà Trái Lệnh?
5. Một Cách > 84 Ngàn Cách.
Tại sao Một Cách lại > mạnh hơn 84 ngàn cách? Bạn đừng trách Phật sao dạy con nhiều thế. Nếu nói CHỈ MỘT bạn có nghe không?
84 ngàn cách là 84 ngàn lần cái tâm bi mẫn, thấu hiểu, thương cảm, đau xót mà Bổn Sư dành cho tâm NGU – NGÃ của chúng ta.
Nói 84 ngàn là con số biểu trưng thôi bạn ạ, còn diễn tả về nghiệp chướng, tập khí, phiền não của chúng sinh thì trùng trùng không kẽ hở – vô tận.
Hơn thế nữa Phật A Di Đà thị hiện thân thế Tổ Sư Thiện Đạo, đích thân khai thị pháp dễ nhất, phù hợp nhất, chắc chắn nhất cho chúng ta, đây là HOẰNG Ý RIÊNG BIỆT cho Hạ Căn đấy bạn ạ.
“Bí mật” gì của Đức Từ Phụ, Tổ cũng “Mở Hết” cho hạng phàm phu tội chướng thấy rõ. Bạn không nhận ra vì bạn ở “trên cao quá đấy”, bạn vươn cao sức mình để tự tu thì làm sao hiểu kẻ đang (nằm rạp xuống đáy).
Vì thế: Lời Khải Định trong Tứ Thiếp Sớ của Tổ chính là CỐT LÕI của TÔNG CHỈ TÔNG TỊNH ĐỘ.
“Tin Nhận Di Đà Cứu Độ.
Chuyên Xưng Di Đà Phật Danh.
Nguyện Sanh Di Đà Tịnh Độ.
Độ Khắp Mười Phương Chúng Sanh.”
Đây là TÔNG CHỈ, chúng sinh chỉ cần vận hành MỘT HẠNH XƯNG DANH thì:
“Phàm Phu Nhập Báo, Bình Sanh Nhiệp Thành, Hiện Sanh Bất Thoái”.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.