Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật

Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật là một trong Tịnh Độ tam kinh. Dù với căn tánh người thời nay, hiếm người có thể y theo kinh mà thành tựu được phép quán. Tuy vậy kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật xác quyết hai điều vô cùng quan trọng:

  1. Vô Lượng Thọ Như Lai có tám muôn bốn ngàn tướng, mỗi tướng có tám muôn bốn ngàn vẻ đẹp tùy hình, và mỗi vẻ đẹp lại có tám muôn bốn ngàn tia sáng. Những tia sáng ấy soi khắp các cõi ở mười phương, thâu nhiếp tất cả chúng sanh niệm Phật.
  2. Chín phẩm vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, từ Thượng Phẩm thượng sanh cho đến Hạ phẩm hạ sanh. 
Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật

Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật

Hòa Thượng Cương Lương Gia Xá dịch từ Phạn văn sang Hán văn

Hòa Thượng Thích Thiền Tâm dịch từ Hán văn sang Việt văn

Nghi thức tụng niệm

Tán hương

Lư hương vừa nhen nhúm

Pháp giới đã được xông

Chư Phật trong hải hội đều xa hay

Theo chỗ kết mây lành

Lòng thành mới ân cần

Chư Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

Khai kinh

Phật pháp thâm sâu rất nhiệm mầu

Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu

Con nay nghe thấy chuyên trì tụng

Nguyện giải Như Lai nghĩa nhiệm mầu.

Nam mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ-Tát Ma Ha Tát (3 lần)

Kinh Quán Vô Lượng Thọ

Như thế tôi nghe, một thời đức Phật ở tại non Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ kheo. Nơi chúng hội đây, lại có ba vạn hai ngàn vị đại Bồ tát. Trong ấy Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp vương tử là bậc thượng thủ.

Bấy giờ trong Vương Xá đại thành có vị Thái tử tên là A Xà Thế, nghe theo lời xúi giục của kẻ ác hữu Điều Đạt, bắt vua cha là Tần Bà Sa La giam trong ngục kín dày đến bảy lớp cửa. Thái tử lại ra lịnh cấm các quan, không cho một ai được đến thăm.

Quốc Thái phu nhân là Vi Đề Hy, vì mến tưởng vua, bà lo nghĩ phương chước cứu giúp. Bà tắm gội sạnh sẽ, lấy bột nhồi với sữa và mật thoa dính nơi thân, đổ đầy nước trái nho vào các hạt chuỗi Anh Lạc, rồi lén đem các thức ấy dâng cho vua. Tần Bà Sa La vương thọ dụng thức ăn uống xong, xin nước súc miệng, rửa mặt. Đoạn chắp tay hướng về núi Kỳ Xà Quật kính lễ đức Thế Tôn và thưa rằng: “Ngài Đại Mục Kiền Liên là bạn thân của tôi, xin khởi lòng từ bi truyền cho tôi giới Bát Quan Trai“.

Khi ấy ngài Mục Kiền Liên biết được, liền bay đến chỗ Tần Bà Sa La vương lẹ như chim ó, chim cắt. Mỗi ngày truyền giới Bát Quan Trai cho vua. Đức Thế Tôn cũng sai Tôn giả Phú Lâu Na vì vua thuyết pháp. Như thế trải qua hai mươi mốt ngày. Nhờ được ăn uống và nghe pháp, nên dung sắc vua hòa nhã tươi vui.

*

Lúc đó A Xà Thế đến hỏi người giữ cửa rằng: “Phụ vương ta hôm nay còn sống chăng?” Viên thủ ngục đáp: “Tâu đại vương! Do Quốc Thái phu nhân thoa bột với mật vào thân và đựng nước trái nho trong hạt chuỗi đem cung phụng. Lại có hai Sa môn là Mục Kiền Liên, Phú Lâu Na bay đến truyền giới thuyết pháp không thể ngăn cấm, nên hiện tại đức vua vẫn bình yên”. A Xà Thế nghe xong, nổi giận bảo: “Mẹ ta là giặc vì đã làm bạn với kẻ giặc. Bọn Sa môn kia là hạng người xấu, dùng chú thuật làm cho tên ác vương ấy nhiều ngày không chết!” Nói đoạn, rút gươm muốn đến giết mẹ.

Đang khi ấy, có hai vị đại thần thông minh tài trí là Nguyệt Quang, Kỳ Bà, thấy thế vội quỳ xuống làm lễ và can gián rằng: “Tâu đại vương! Chúng tôi nghe trong kinh Tỳ Đà La nói từ thuở kiếp sơ đến nay những ác vương tham ngôi báu mà giết hại cha có một vạn tám ngàn người. Song chưa từng nghe có ông vua nào giết mẹ. Nay nếu đại vương làm việc ác nghịch trái đạo này, tức là để vết nhơ cho dòng giống Sát Đế Lợi, nào khác gì hạng Chiên Đà La. Bọn thần không nỡ ở lại trông nhìn cảnh tượng ấy, vậy xin từ nay bái biệt!.” Nói xong đứng lên đưa tay đè chuôi gươm rồi thối lui quay đi.

*

A Xà Thế nghe qua kinh sợ bảo: “Các ông không vì ta sao?” Kỳ Bà thưa: “Nếu đại vương muốn cho chúng tôi ở lại giúp đỡ, xin đừng giết hại Quốc Thái”. A Xà Thế nghe nói, tỏ vẻ ăn năn vội cất gươm bỏ ý nghĩ giết mẹ. Sai nội quan cầm Quốc Thái phu nhơn trong thâm cung, không cho ra ngoài nữa.

Vi Đề Hy bị u cấm, sầu lo tiều tụy, xa trông về non Kỳ Xà Quật đảnh lễ Phật và bạch rằng: “Đức Như Lai Thế Tôn! Lúc trước Ngài thường bảo hiền giả A Nan đến thăm viếng và khuyên dạy con. Nay con có việc lo buồn, không làm sao còn được thấy oai nghi trang trọng của đấng Thiên Nhơn Sư nữa! Xin đức Thế Tôn thương xót cho hai vị tôn giả Mục Liên, A Nan đến dạy dỗ con”. Bạch xong lời ấy, bà thương khóc nước mắt rơi xuống như mưa, hướng về chỗ Phật thường ngự, cúi đầu đảnh lễ.

Bấy giờ đức Thế Tôn đang ở núi Kỳ Xà Quật biết rõ tâm niệm bà Vi Đề Hy, liền bảo hai tôn giả Mục Kiền Liên, A Nan theo lời yêu thỉnh bay đến cấm thất. Và chính Ngài cũng ẩn thân tại núi Kỳ Xà Quật, hiện ra nơi vương cung. Khi bà Vi Đề Hy lễ xuống vừa ngước đầu lên, đã thấy đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn ngồi trên tòa sen bá bảo. Thân sắc tử kim rực rỡ bên tả có Mục Liên, bên hữu có A Nan đồng đứng hầu.

*

Trên hư không, các Phạm Vương, Đế Thích và Hộ Thế chư thiên mưa nhiều thứ hoa đẹp ở cõi trời phơi phới bay xuống để cúng dường Phật.

Vi Đề Hy phu nhân thấy đức Thế Tôn, liền tự bứt chuỗi Anh Lạc đeo nơi thân, gieo mình phủ phục xuống đất, khóc lóc và thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Kiếp trước con có tội chi nay sanh ra đứa con ác này. Và đức Như Lai lại có nhân duyên gì, mà cùng với Đề Bà Đạt Đa đồng làm quyến thuộc? Cúi xin đức Thế Tôn vì con giảng giải rộng những cõi nào không còn lo buồn khổ lụy để con được vãng sanh về đó.

Hiện nay con rất nhàm chán cõi Diêm Phù Đề nhơ khổ. Bởi cõi này dẫy đầy chúng địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, cùng nhiều điều lỗi lầm xấu ác. Con nguyện kiếp sau không còn thấy người dữ, không còn nghe tiếng ác nữa! Nay con gieo năm vóc trước đức Thế Tôn, tha thiết cầu xin sám hối! Nguyện đấng Đại Từ soi ánh huệ nhật, chỉ dạy cho con phép quán để sanh về chỗ nghiệp lành thanh tịnh.“

*

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn, từ nơi tướng bạch hào giữa đôi mi, phóng ra ánh sáng vàng rực rỡ soi khắp vô lượng thế giới ở mười phương. Hào quang ấy trở lại trụ trên đảnh của Phật, hóa thành đài vàng như núi Tu Di. Những cõi nước trong sạch nhiệm mầu của chư Phật mười phương đều hiện rõ nơi tòa quang minh đó. Trong vô số quốc độ ảnh hiện ấy, có cõi do bảy báu hợp thành, có cõi thuần là hoa sen. Có cõi tráng lệ như cung trời Đại Tự Tại, có cõi sáng suốt như gương pha lê.

Vô lượng Tịnh Độ hiện bóng nơi đài quang minh, mỗi miền một vẻ rất rõ ràng, cực nghiêm đẹp. Sau khi dùng thần thông hiển thị các cõi trang nghiêm xong. Đức Thế Tôn bảo bà Vi Đề Hy nên tùy ý mình lựa quốc độ nào mà tâm mình ưa thích.

Bà Vi Đề Hy phu nhơn quan sát kỹ các Phật quốc rồi thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Các Tịnh Độ ấy tuy đều nghiêm sạch và có ánh quang minh. Nhưng nay con chỉ thích được sanh về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà. Cúi xin đức Thế Tôn dạy con phép tư duy và chánh thọ”.

Khi ấy đức Thế Tôn liền mỉm cười, từ nơi miệng tuôn ra năm sắc quang minh, mỗi tia sáng đều chiếu đến đỉnh đầu vua Tần Bà Sa La. Lúc đó vua Tần Bà Sa La tuy bị giam cầm song tâm nhãn không chướng ngại. Từ nơi xa trông thấy đức Thế Tôn liền cúi đầu đảnh lễ, đạo căn tự nhiên tăng tiến, chứng được quả A Na Hàm.

*

Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Vi Đề Hy: “Ngươi có biết chăng? Phật A Di Đà cách đây không xa. Ngươi nên hệ niệm và quán sát kỹ cõi nước kia, tất tịnh nghiệp sẽ được thành tựu. Nay ta vì ngươi nói rộng các thí dụ, cũng khiến cho đời vị lai, tất cả phàm phu muốn tu tịnh nghiệp, được sanh về thế giới Cực Lạc ở phương Tây.

Muốn sanh về cõi ấy, phải tu ba thứ phước: Một là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, giữ lòng từ bi không giết hại, tu mười nghiệp lành. Hai là thọ trì Tam Quy, giữ vẹn các giới, đừng phạm oai nghi. Ba là phát lòng Bồ Đề tin sâu lý nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại Thừa, khuyến tấn người tu hành. Ba điều như thế gọi là tịnh nghiệp.”

Đức Phật lại bảo: “Vi Đề Hy nên biết ba thứ phước này là chánh nhân tịnh nghiệp của chư Phật trong ba đời: Quá khứ, vị lai và hiện tại”.

Đức Thế Tôn khen Vi Đề Hy và bảo A Nan: “Lành thay, Vi Đề Hy! Hôm nay người đã khéo hỏi việc ấy! Hãy chú tâm lắng nghe và suy nghĩ kỹ. Như Lai sẽ vì tất cả chúng sanh bị giặc phiền não bức hại đời vị lai mà nói ra nghiệp thanh tịnh.

*

Này A Nan! Ông nên ghi nhớ và thọ trì pháp này, rồi tuyên thuyết cho đại chúng cùng biết. Nay ta sắp dạy Vi Đề Hy và chúng sanh đời sau phép quán thế giới Cực Lạc ở phương Tây. Do nhờ sức Phật, hành giả sẽ được thấy cõi nước thanh tịnh kia như người cầm gương sáng tự trông thấy mặt mình. Khi hành nhơn thấy sự vui rất mầu nhiệm ở cõi kia rồi, sanh lòng vui mừng, liền được trụ vào Vô Sanh Pháp Nhẫn”.

Phật bảo Vi Đề Hy: “Ngươi là phàm phu, tâm tưởng yếu kém, chưa được thiên nhãn, không thể ở xa mà trông thấy cõi Cực Lạc. Chư Phật Như Lai có phương tiện lạ khiến cho ngươi được thấy cõi kia”.

Vi Đề Hy thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Hôm nay con nhờ sức Phật được thấy quốc độ kia. Nếu sau khi Thế Tôn tịch diệt, những chúng sanh trược ác không lành, bị ngũ khổ bức não. Phải làm thế nào để được thấy Phật A Di Đà và cõi Cực Lạc?”

*

Đức Phật bảo: “Vi Đề Hy! Ngươi và chúng sanh nên chuyên tâm, buộc niệm một chỗ, để tưởng cảnh giới Tây phương. Phương pháp quán tưởng ấy như thế nào? Phàm tất cả những người, nếu không phải bị mù từ lúc sơ sanh, đều thấy mặt trời lặn. Vậy ngươi nên ngồi ngay thẳng, hướng về phương Tây, tâm chú định một chỗ không được di động. Rồi quán tưởng mặt trời sắp lặn hình như cái trống treo. Khi đã thấy hình tướng ấy, phải chú tưởng cho thuần thục. Làm sao lúc nhắm mắt, mở mắt đều được thấy rõ ràng. Môn Nhật Quán này là phương pháp quán tưởng thứ nhứt.

Kế lại quán tưởng nước, thấy một vùng nước trong suốt đứng lặng. Phải thấy cho rõ ràng, ý đừng phân chia rối loạn. Khi thấy tướng ấy rồi nên tưởng nước đóng thành băng. Đã thấy băng trong ngần sáng ánh, lại tưởng đó là đất lưu ly. Đây là môn thủy tưởng, cũng là phép quán thứ hai.

*

Môn tưởng này thành rồi, tiếp quán thấy đất lưu ly trong ngoài chói suốt. Dưới ấy có tràng kim cương thất bảo vàng ánh đỡ đất lưu ly. Tràng này có đủ tám góc theo tám phương. Mỗi mỗi phương diện do trăm thứ báu hợp thành. Mỗi mỗi bảo châu có ngàn tia sáng, Mỗi mỗi tia sáng có tám vạn bốn ngàn màu, chói đất lưu ly như ngàn ức mặt trời, nhìn không thể xiết!

Trên đất lưu ly có dây hoàng kim xen lẫn cùng thất bảo, phân chia các khu vực rành rẽ trang nghiêm. Mỗi mỗi thứ báu có năm trăm sắc kỳ quang. Các ánh sáng này hình như hoa, hoặc như trăng, sao, chiếu lên hư không kết thành đài quang minh lơ lửng. Ngàn muôn lâu các do trăm thứ báu hợp thành. Mỗi mỗi lâu đài, hai bên đều có trăm ức tràng hoa cùng vô lượng nhạc khí để trang nghiêm. Tám thứ gió nhẹ mát từ những đài quang minh thổi ra, cổ động các nhạc khí, diễn thành tiếng: Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã.

Khi môn tưởng này đã thành, phải quán mỗi mỗi chi tiết cho cực rõ ràng. Nhắm mắt, mở mắt đều có thể thấy, không để tan mất. Duy trừ giờ ăn ngủ, ngoài tất cả thời đều ghi nhớ việc ấy. Tưởng được như thế gọi là thấy cõi Cực Lạc về phần thô. Nếu được tam muội, hành giả sẽ thấy rõ ràng cảnh tướng của đất nước kia, không thể kể xiết. Đây là môn địa tưởng, thuộc về phép quán thứ ba.”

*

Đức Phật bảo ngài A Nan: “Ông nên ghi nhớ lời dạy của ta, để vì tất cả chúng sanh muốn thoát khổ đời sau truyền thuyết môn địa quán này. Nếu thành tựu phép tưởng đây sẽ trừ được tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Khi xả báo thân, kẻ ấy quyết định sanh về tịnh quốc, nơi lòng không còn nghi ngại”.

Quán như thế, gọi là chánh quán. Nếu tưởng sai khác, là tà quán.

Đức Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy: “Môn địa tưởng đã thành, kế tiếp quán cây báu. Muốn tu phép quán này, phải tưởng rành rẽ bảy lớp hàng cây, mỗi cây cao tám ngàn do tuần, đầy đủ hoa lá thất bảo. Mỗi mỗi hoa lá hiển phát những quang sắc báu lạ. Trong sắc lưu ly chiếu ánh sáng vàng, trong sắc pha lê chiếu ánh sáng đỏ. Trong sắc mã não chiếu ánh sáng xa cừ, trong sắc xa cừ chiếu ánh sáng lục chân châu. Đại khái các cây, hoa, lá đều bằng san hô, hổ phách. Hoặc tất cả thứ dị bảo, trang nghiêm rực rỡ.

Trên mỗi mỗi cây có bảy lớp lưới diệu chân châu che phủ. Giữa mỗi tầng lưới có năm trăm ức cung điện diệu hoa, nghiêm đẹp như cung Phạm vương. Trong đó có các thiên đồng, mỗi vị trang nghiêm bằng các chuỗi ngọc gồm năm trăm ức hạt Thích Ca Tỳ Lăng Già Ma Ni. Ánh sáng của những hạt ngọc này chiếu xa đến một trăm do tuần. Vô cùng rực rỡ như quang minh của trăm ức vầng nhật nguyệt hòa hợp. Ngoài những hạt ngọc nghiêm sức còn xen lẫn các châu báu khác. Màu sắc đều là bậc thượng.

*

Những cây báu ấy hàng hàng đối nhau, lá lá thuận nhau. Giữa khoảng các lá sanh hoa đẹp mầu, trên hoa tự nhiên có trái thất bảo. Mỗi mỗi lá cây rộng hai mươi lăm do tuần. Có ngàn màu sắc, và trăm thứ đường gân hình như chuỗi Anh Lạc của chư Thiên. Các hoa chói lộ sắc vàng Diêm Phù Đàn, rực rỡ như những vòng lửa, uyển chuyển giữa lá. Từ hoa lạ nổi sanh trái quý hình như bình báu của trời Đế Thích. Và từ trái mầu chiếu ánh sáng rực rỡ hóa thành tràng phan cùng vô lượng bảo cái. Trong bảo cái ảnh hiện tất cả Phật sự của ba ngàn thế giới và y, chánh mười phương cõi Phật.

Khi thấy bảo thọ rồi, nên theo thứ lớp quán thân cây, cành, lá, hoa, quả, mỗi mỗi đều cho rõ ràng. Đây là môn thọ tưởng, thuộc về phép quán thứ tư.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *