Kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni

Kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni là bản kinh cho chúng ta thấy bi tâm vô cùng vô tận của đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài là Cổ Phật, đã thành đạo từ rất nhiều kiếp sâu xa về trước, vì bi tâm độ sanh khẩn thiết mà hiện thân Bồ Tát, để ngày nay chúng ta may mắn được nhận một món quà vô giá: Chú Đại Bi, một bài “chú được 10 phương đạo sư đều đến vì làm chứng minh, nên tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt, ngay cả tội cực nặng như Ngũ Nghịch”.

Kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni
Kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni

Kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni

Sa môn Dà Phạm Đạt Mạ dịch từ Phạn văn sang Hán văn

Hòa thượng Thích Thiền Tâm dịch từ Hán văn sang Việt văn

Như thế tôi nghe, một thời đức Phật Thích Ca Mâu Ni (2) ngự nơi đạo tràng Bảo Trang Nghiêm. Trong cung điện của Quán Thế Âm Bồ Tát ở tại non Bổ Đà Lạc Ca (3), đức Phật ngồi nơi tòa sư tử. Tòa này trang nghiêm thuần bằng vô lượng ngọc báu tạp ma-ni, xung quanh treo nhiều tràng phan bá bảo.

Khi ấy, đức Như Lai ở trên pháp tòa, sắp muốn diễn nói môn tổng trì đà ra ni (5). Có vô lương số Bồ Tát ma ha tát câu hội, các vị ấy là: Tổng Trì Vương Bồ Tát. Bảo Vương Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát. Đại Thế Chí Bồ Tát, Hoa Nghiêm Bồ Tát, Đại Trang Nghiêm Bồ Tát. Bảo Tạng Bồ Tát, Đức Tạng Bồ Tát, Kim Cang Tạng Bồ Tát. Hư Không Tạng Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát (7). Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (8)…

*

Những vị Bồ Tát như thế đều là bậc quán đảnh đại pháp vương tử (9). Lại có vô lượng vô số đại thanh văn đều là bậc A La Hán (10), tu hạnh thập địa câu hội. Trong ấy, ngài Ma Ha Ca Diếp (11) làm thượng thủ. Lại có vô lượng Phạm Ma La Thiên (12) câu hội. Trong ấy, ngài Thiện Tra Phạm Ma (13) làm thượng thủ. Lại có vô lượng chư thiên tử ở cõi trời Dục giới câu hội. Trong ấy, ngài Cù Bà Dà thiên tử (14) làm thượng thủ.

Lại có vô lượng hộ thế tứ thiên vương câu hội (15) trong ấy, ngài Đề Đầu Lại Tra (16) làm thượng thủ. Lại có vô lượng Thiên, Long, Dạ xoa, Càn Thát Bà. A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Dà, Nhơn, Phi nhơn (17) câu hội. Trong ấy, ngài Thiên Đức đại long vương làm thượng thủ. Lại có vô lượng chư thiên nữ ở cõi trời Dục giới câu hội, trong ấy, ngài Đồng Mục Thiên nữ làm thượng thủ.

*

Lại có vô lượng Thần Hư không, Thần Giang hải, Thần Tuyền nguyên. Thần Hà chiểu, Thần dược thảo, Thần Thọ lâm, Thần xá trạch. Thần cung điện, cùng Thủy thần, Hỏa thần, Địa thần, Phong thần. Thổ thần, Sơn thần, Thạch thần v.v.. đều đến tập hội.

Bấy giờ, đức Quán Thế Âm Bồ Tát ở trong đại hội, mật phóng ánh thần thông quang minh, chiếu sáng 10 phương sát độ và cõi tam thiên đại thiên thế giới này đều thành sắc vàng. Từ thiên cung, long cung cho đến cung điện của các vị tôn thần thảy đều chấn động. Biển cả, sông nguồn, núi Thiết Vi (18), núi Tu Di (19), cùng thổ sơn, hắc sơn, cũng đều rung động dữ dội. Ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, tinh tú, và châu báu và lửa đều bị ánh kim quang rực rỡ kia lấn át làm cho ẩn mất không hiện.

Lúc đó, ngài Tổng Trì Vương Bồ Tát thấy tướng trạng hy hữu ấy, lấy làm lạ cho là việc chưa từng có. Liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính chắp tay, dùng lời kệ hỏi Phật, để biết tướng thần thông kia do ai làm ra. Kệ rằng:

*

Ai thành chánh giác trong ngày nay?

Khắp phóng ánh sáng như thế này,

Mười phương sát độ thành sắc vàng

Cả cõi đại thiên cũng như vậy,

Ai được tự tại trong ngày nay?

Phổ diễn thần lực ít có này.

Không ngằn cõi Phật đều rung động,

Cung điện long thần cũng long lay,

Sức thần thông này ai làm ra

Là ánh quang minh đấng Phật Đà

Là của bồ tát, đại thanh văn,

Hay trời Đế Thích, cùng Phạm ma?

Nay trong chúng hội đều sanh nghi,

Chẳng biết đây là nhân duyên gì?

Muốn cầu hiểu rõ, tâm thành kính,

Hướng trông về ngôi đại từ bi.

*

Đức Phật bảo Tổng Trì Vương Bồ Tát:

‘Thiện nam tử! Các ông nên biết trong pháp hội này, có vị Bồ Tát Ma Ha Tát, tên là Quán Thế Âm Tự Tại, từ vô lượng kiếp đến nay đã thành tựu tâm đại từ bi, lại khéo tu tập vô lượng Đà la ni môn. Vị Bồ Tát ấy vì muốn làm cho chúng sanh được lợi ích an vui, nên mới mật phóng sức thần thông như thế.

Đức Như Lai vừa nói lời ấy xong. Quán Thế Âm Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục nghiêm chỉnh, chắp tay hướng về Phật mà thưa rằng: ”Bạch đức Thế Tôn. Tôi có chú Đại Bi tâm đà ra ni, nay xin nói ra. Vì muốn cho chúng sanh được an vui, được trừ tất cả bịnh, được sống lâu, được giàu có. Được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn. Được thành tựu tất cả thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi. Được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu. Cúi xin Thế Tôn từ bi doãn hứa.

*

Đức Phật bảo: Thiện nam tử! Ông có tâm đại từ bi, muốn nói thần chú (20) để làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh. Hôm nay chính là lúc hợp thời, vậy ông nên mau nói ra. Như Lai tùy hỉ chư Phật cũng thế.

Quán Thế Âm Bồ Tát lại bạch Phật: Bạch đức Thế tôn! Tôi nhớ vô lượng ức kiếp về trước, có Phật ra đời, hiệu là Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai, Đức Phật ấy vì thương nghĩ đến tôi và tất cả chúng sanh nên nói ra môn Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni. Ngài lại dùng tay sắc vàng xoa nơi đầu tôi mà bảo: Thiện nam tử! Ông nên thọ trì tâm chú này và vì khắp tất cả chúng sanh trong cõi nước ở đời vị lai, mà làm cho họ được sự an vui lớn.

Lúc đó tôi mới ở ngôi sơ địa, vừa nghe xong thần chú này liền chứng vượt lên đệ bát địa. Bấy giờ tôi rất vui mừng, liền phát thệ rằng:

Nếu trong đời vị lai, tôi có thể làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh với thần chú này, thì xin khiến cho thân tôi liền sanh ra ngàn tay ngàn mắt.

*

Khi tôi phát thệ rồi, thì ngàn tay ngàn mắt đều hiện đủ nơi thân. Lúc ấy, cõi đất 10 phương rung động 6 cách (21). Ngàn đức Phật trong 10 phương đều phóng ánh quang minh soi đến thân tôi, và chiếu sáng 10 phương vô biên thế giới. Từ đó về sau, tôi ở trong vô lượng pháp hội của vô lượng chư Phật, lại được nghe và thọ trì môn đà ra ni này.

Mỗi lần nghe xong, tôi khôn xiết vui mừng, liền được vượt qua sự sanh tử vi tế (22) trong vô số ức kiếp. Và từ ấy đến nay, tôi vẫn hằng trì tụng chú này, chưa từng quên bỏ. Do sức trì tụng ấy, tùy theo chỗ sanh, tôi không còn chịu thân bào thai, được hóa sanh nơi hoa sen, thường gặp Phật nghe pháp. Nếu có vị Tì khưu, Tỳ khưu ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di (23) hay đồng nam, đồng nữ nào muốn tụng trì chú này, trước tiên phải phát tâm từ bi đối với chúng sanh, và sau đây y theo tôi mà phát nguyện:

*

Nam mô đại bi Quán Thế Âm,

nguyện con mau biết tất cả pháp.

Nam mô đại bi Quán Thế Âm,

nguyện con sớm được mắt trí huệ.

Nam mô đại bi Quán Thế Âm,

nguyện con mau độ các chúng sanh,

Nam mô đại bi Quán Thế Âm,

nguyện con sớm được phương tiện khéo.

Nam mô đại bi Quán Thế Âm,

nguyện con mau lên thuyền bát nhã.

Nam mô đại bi Quán Thế Âm,

nguyện con sớm được qua biển khổ,

Nam mô đại bi Quán Thế Âm,

nguyện con mau được đạo giới định.

*

Nam mô đại bi Quán Thế Âm,

nguyện con sớm lên non Niết Bàn.

Nam mô đại bi Quán Thế Âm,

nguyện con mau về nhà vô vi.

Nam mô đại bi Quán Thế Âm,

nguyện con sớm đồng thân pháp tánh.

Nếu con hướng về nơi non đao,

non đao tức thời liền sụp đổ.

Nếu con hướng về lửa, nước sôi,

nước sôi, lửa cháy tự khô tắt.

Nếu con hướng về cõi địa ngục,

địa ngục liền mau tự tiêu diệt,

Nếu con hướng về loài ngạ quỷ.

Ngạ quỷ liền được tự no đủ,

Nếu con hướng về chúng Tu La,

Tu la tâm ác tự điều phục,

Nếu con hướng về các súc sanh,

súc sanh tự được trí huệ lớn.

*

Khi phát lời nguyện ấy xong, chí tâm xưng danh hiệu của tôi. Lại chuyên niệm danh hiệu bổn sư tôi là đức A Di Đà Như Lai (24). Kế đó tiếp tụng đà ra ni thần chú này. Nếu chúng sanh nào, trong một ngày đêm tụng năm biến chú, sẽ diệt trừ được tội nặng trong ngàn muôn ức kiếp sanh tử.

Quán Thế Âm Bồ Tát lại bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn! Nếu chúng sanh nào trì tụng thần chú Đại Bi mà còn bị đọa vào 3 đường ác, tôi thề không thành chánh giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được sanh về các cõi Phật, tôi thề không thành chánh giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được vô lượng tam muội biện tài (25) tôi thề không thành chánh giác.

*

Tụng trì thần chú Đại Bi tất cả sự mong cầu trong đời hiện tại, nếu không được vừa ý, thì chú này không được gọi là Đại Bi tâm đà ra ni, duy trừ cầu những việc bất thiện, trừ kẻ tâm không chí thành. Nếu các người nữ chán ghét thân nữ, muốn được thân nam. Tụng trì thần chú Đại Bi, như không chuyển nữ thành nam, tôi thề không thành chánh giác. Như kẻ nào tụng trì chú này, nếu còn sanh chút lòng nghi, tất không được toại nguyện.

Nếu chúng sanh nào xâm tổn tài vật, thức ăn uống của thường trụ (26) sẽ mang tội rất nặng, do nghiệp ác ngăn che. Giả sử ngàn đức Phật ra đời cũng không được sám hối, dù có sám hối cũng không trừ diệt. Nếu đã phạm tội ấy, cần phải đối 10 phương đạo sư sám hối, mới có thể tiêu trừ. Nay do tụng trì chú Đại Bi liền được trừ diệt. Tại sao thế? Bởi khi tụng chú Đại Bi tâm đà ra ni, 10 phương đạo sư đều đến vì làm chứng minh, nên tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt.

*

Chúng sanh nào tụng chú này, tất cả tội thập ác ngũ nghịch (27), báng pháp, phá người, phá giới, phạm trai, hủy hoại chùa tháp, trộm của tăng kỳ (28), làm nhơ phạm hạnh (29). Bao nhiêu tội ác nghiệp nặng như thế đều được tiêu hết. Duy trừ một việc: kẻ tụng đối với chú còn sanh lòng nghi. Nếu có sanh tâm ấy, thì tội nhỏ nghiệp nhẹ cũng không được tiêu, huống chi tội nặng? Nhưng tuy không liền diệt được tội nặng, cũng có thể làm nhân bồ đề về kiếp xa sau.

Bạch đức Thế Tôn! Nếu các hàng trời, người tụng trì thần chú Đại Bi, thì không bị 15 việc chết xấu, sẽ được 15 chỗ sanh tốt. Thế nào là 15 việc chết xấu?

*
  1. Không bị chết do đói khát khốn khổ.
  2. Không bị chết do gông tù đánh đập.
  3. Không bị chết vì oan gia thù địch.
  4. Không bị chết giữa quân trận chém giết nhau.
  5. Không bị chết do cọp sói cùng ác thú tàn hại.
  6. Không bị chết bởi rắn rít độc cắn.
  7. Không bị chết vì nước trôi lửa cháy.
  8. Không bị chết bởi phạm nhằm thuốc độc.
  9. Không bị chết do loài sâu trùng độc làm hại.
  10. Không bị chết vì điên cuồng mê loạn.
  11. Không bị chết do té cây, té xuống núi.
  12. Không bị chết bởi người ác trù ếm.
  13. Không bị chết bởi tà thần, ác quỷ làm hại.
  14. Không bị chết vì bịnh ác lâm thân.
  15. Không bị chết vì phi mạng tự hại.

Tụng trì thần chú Đại Bi, không bị 15 việc chết xấu như thế.

*

Sao gọi là 15 chỗ sanh tốt?

  1. Tùy theo chỗ sanh, thường gặp đấng quốc vương hiền lành.
  2. Tùy theo chỗ sanh, thường ở cõi nước an lành.
  3. Tùy theo chỗ sanh, thường gặp thời đại tốt,
  4. Tùy theo chỗ sanh, thường gặp bạn lành.
  5. Tùy theo chỗ sanh, thân căn thường được đầy đủ.
  6. Tùy theo chỗ sanh, đạo tâm thuần thục.
  7. Tùy theo chỗ sanh, không phạm cấm giới.
  8. Tùy theo chỗ sanh, thường được quyến thuộc hòa thuận, có ân nghĩa.
  9. Tùy theo chỗ sanh, vật dụng, thức ăn uống thường được đầy đủ.
  10. Tùy theo chỗ sanh, thường được người cung kính giúp đỡ.
  11. Tùy theo chỗ sanh, tiền của châu báu không bị kẻ khác cướp đoạt.
  12. Tùy theo chỗ sanh, những việc mong cầu đều được toại nguyện.
  13. Tùy theo chỗ sanh, long thiên, thiện thần thường theo ủng hộ.
  14. Tùy theo chỗ sanh, thường được thấy Phật nghe pháp.
  15. Tùy theo chỗ sanh, khi nghe chánh pháp ngộ giải nghĩa sâu.

Nếu kẻ nào trì tụng chú Đại Bi, sẽ được 15 chỗ sanh tốt như thế! Cho nên tất cả hàng trời, người, đều nên thường tụng trì, chớ sanh lòng biếng trễ.

*

Khi đức Quán Thế Âm Bồ Tát nói lời ấy rồi, liền ở trước chúng hội, chắp tay đứng thẳng, nở mặt mỉm cười, nói chương cú màu nhiệm Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni rằng:

Nam mô hắc ra đát na, đá ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô Yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da.

Ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da bà lô Yết đế. Thất Phật ra lăng đà bà.

Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa. Na ma bà đà, ma phạt đặc đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế.

Di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra. Ma hê ma hê, rị đà dựng, câu lô câu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế.

Đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, giá ra giá ra. Ma mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da.

*

Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị. Tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ. Di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na.

Ba dạ ma na ta bà ha, tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha.

Tất ra tăng a mục khư da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ ta bà ha.

Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ ta bà ha. Ma bà rị thắng yết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô kiết đế thước bàn ra dạ, ta bà ha.

Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ. Ta bà ha

*

Bồ tát thuyết chú xong, cõi đất 6 phen biến động, trời mưa hoa báu rơi xuống rải rác. Mười phương chư Phật thảy đều vui mừng, thiên ma ngoại đạo sợ dựng lông tóc. Tất cả chúng hội đều được quả chứng. Hoặc có vị chứng quả Tu đà hoàn, có vị chứng quả Tư đà hoàn, hoặc có vị chứng quả A na hàm (30), có vị chứng quả A la hán, hoặc có vị chứng được sơ địa, nhị địa, tam địa, tứ địa, ngũ địa cho đến thập địa, vô lượng chúng sanh phát lòng bồ đề.

Khi ấy Đại Phạm thiên vương từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục nghiêm chỉnh, chắp tay cung kính bạch với đức Quán Thế Âm bồ tát rằng: Lành thay đại sĩ! Từ trước đến nay, tôi đã trải qua vô lượng phật hội, nghe nhiều pháp yếu, nhiều môn đà ra ni, song chưa từng nghe nói chương cú thần diệu Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni này. Cúi xin đại sĩ vì tôi, nói hình trạng tướng mạo của đà ra ni ấy. Tôi và đại chúng đều ưa thích muốn nghe.

*

Quán Thế Âm Bồ tát bảo Phạm vương:

Ông vì phương tiện lợi ích cho tất cả chúng sanh, nên hỏi như thế, nay ông khéo nghe, tôi sẽ vì ông mà nói lược qua.

Này Phạm vương! Những tâm đại từ bi, tâm bình đẳng, tâm vô vi, tâm chẳng nhiễm trước. Tâm không quán, tâm cung kính, tâm khiêm nhường, tâm không tạp loạn. Tâm không chấp giữ, tâm vô thượng Bồ Đề. Nên biết các thứ tâm này đều là tướng mạo của môn đà ra ni này. Vậy, ông nên y theo đó mà tu hành.

Phạm vương thưa: Tôi và đại chúng hôm nay mới hân hạnh được biết tướng mạo của môn đà ra ni này. Từ đây chúng tôi xin thọ trì chẳng dám lãng quên.

Bồ tát lại nói tiếp: Nếu kẻ thiện nam, thiện nữ nào tụng trì thần chú này, phải phát tâm Bồ Đề rộng lớn. Thề độ tất cả muôn loài, giữ gìn trai giới, đối với chúng sanh khởi lòng bình đẳng, và thường nên trì tụng chớ cho gián đoạn. Lại nên ở nơi tịnh thất, tắm gội sạch sẽ. Mặc y phục sạch, treo phan, đốt đèn. Dùng hương hoa, cùng các thứ ăn uống để cúng dường. Buộc tâm một chỗ, chớ nghĩ chi khác, y như pháp mà tụng trì.

*

Lúc ấy, sẽ có Nhựt Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát cùng vô lượng thần tiên đến chứng minh, giúp thêm sự hiệu nghiệm. Bấy giờ ta cũng dùng ngàn mắt chiếu soi, ngàn tay nâng đỡ. Khiến cho kẻ ấy từ đó về sau có thể hiểu suốt tất cả sách vở thế gian, thông đạt các điển tịch Vi Đà (31) và tất cả pháp thuật ngoại đạo.

Chúng sanh nào tụng trì thần chú này, có thể trị lành tám muôn bốn ngàn thứ bịnh ở thế gian. Hàng phục các thiên ma, ngoại đạo, sai khiến được tất cả quỷ thần. Những kẻ tụng kinh tọa thiền ở nơi non sâu, đồng vắng, bị sơn tinh, tạp mị, các quỉ vọng lượng làm não loạn phá hoại, khiến cho tâm không an định, chỉ cần tụng chú này một biến, các quỷ thần ấy thảy đều bị trói.

Nếu hành giả có thể tụng trì đúng pháp, khởi lòng thương xót tất cả chúng sanh, lúc ấy ta sẽ sắc cho tất cả thiện thần, long vương, kim cang mật tích thường theo ủng hộ, không rời bên mình, như giữ gìn tròng con mắt hoặc thân mạng của chính họ.

*

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *