Kinh Vô Lượng Thọ Phật

Kinh Vô Lượng Thọ là bản kinh duy nhất còn tồn tại khi pháp diệt tận, khắp thế gian không còn sự hiện diện của Phật pháp, do vậy thì biết bản Kinh này là tối quan trọng trong giáo pháp của Như Lai.

 

Kinh Vô Lượng Thọ mô tả chi tiết về Bốn mươi tám Đại Nguyện của Bồ tát Pháp Tạng, tiền thân của Đức Phật A Di Đà. Mô tả sự huyền diệu Thế Giới Cực Lạc, các các phẩm vị và cách để được vãng sanh…Đây là kim chỉ nam cho chúng sanh thời mạt, muốn thoát ly sanh tử luân hồi!

Đức Phật dạy rằng: “Ðời tương lai, lúc kinh pháp diệt tận. Ta dùng oai lực từ bi đặc biệt lưu kinh nầy lại một trăm năm. Có chúng sanh nào gặp kinh nầy thì tùy ý họ nguyện cầu, đều được độ thoát.” Lời này từ Kim khẩu của Thế Tôn cho ta thấy bản kinh này quan trọng đến nhường nào.

Kinh Vô Lượng Thọ
Kinh Vô Lượng Thọ

Kinh Vô Lượng Thọ

Pháp Sư Khương Tăng Khải dịch từ Phạn văn sang Hán Văn.

Hòa Thượng Trí Tịnh dịch từ Hán văn sang Việt Văn.

*

Như vậy, tôi nghe: một hôm đức Phật ở thành Vương Xá, trong núi Kỳ Xà Quật, cùng chúng đại Tỳ Kheo, một vạn hai ngàn người câu hội. Các Ngài nầy đều là bực đại Thanh Văn mà mọi người quen biết.

Pháp hội Thánh chúng

Ðó là Tôn giả A Nhã Kiều Trần Như, Tôn giả Mã Thắng, Tôn giả Ðại Danh. Tôn giả Hữu Hiền, Tôn giả Vô Cấu, Tôn giả Danh Văn, Tôn giả Thiện Xưng. Tôn giả Viên Mãn, Tôn giả Kiều Phạm Ba đề, Tôn giả Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp. Tôn giả Già Da Ca diếp, Tôn giả Na Ðề Ca Diếp. Tôn giả Ma Ha Ca Diếp, Tôn giả Xá lợi Phất, Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên.

Tôn giả Ma Ha Ca Chiên Diên, Tôn giả Ma Ha Kiếp Tân Na, Tôn giả Ma Ha châu Na. Tôn giả Phú Lâu Na, Tôn giả A Nâu Lâu Ða, Tôn giả Ly Bà Ða. Tôn giả Nan Ðà, Tôn giả La Hầu La, Tôn giả A Nan đà v.v… các Tôn giả nầy làm Thượng thủ.

Lại có chúng đại Bồ tát, các Ngài Phổ Hiền Bồ tát, Vãn Thù sư Lợi Bồ Tát. Di Lạc Bồ Tát, và chư đại Bồ Tát trong kiếp Hiền sau trước vây quanh.

*

Lại cùng Hiền Hộ v.v… mười sáu vị Chánh Sĩ câu hội. Đó là các Ngài Thiện Tri Duy Nghĩa Bồ tát, Huệ Biện Tài Bồ Tát. Quán Vô Trụ Bồ Tát, Thiện Hoa Thần Thông Bồ Tát, Quang Tràng Bồ Tát. Trí Thượng Bồ Tát, Tịch Căn Bồ Tát, Huệ Nguyện Bồ Tát. Hương Tượng Bồ Tát, Bửu Tràng Bồ Tát v.v… làm Thượng thủ.

Chư đại Bồ Tát nầy đều tuân tu hạnh Phổ Hiền. Đầy đủ tất cả hạnh nguyện Bồ Tát, an trụ trong tất cả công đức. Đến bờ Phật pháp rốt ráo kia, nguyện ở trong tất cả thế giới thành Ðẳng Chánh Giác. Lại nguyện sanh cung trời Ðâu suất, ở đó thọ chung giáng sanh ở hông bên hữu, hiện đi bảy bước, phóng ánh sáng lớn chấn động khắp thế giới mà xướng lên rằng: Nơi tất cả thế gian, ta là tôn quý hơn cả. Ðế Thích và Phạm Thiên đều đến thân cận cúng dường.

*

Lại hiện học tập lục nghệ hơn người, ở vương cùng nhàm chán ngũ dục. Thấy người già bịnh chết liền biết đời là vô thường. Rời bỏ ngôi vua vượt thành học đạo, cởi lụa là chuỗi ngọc mặc y hoại sắc, khổ hạnh sáu năm. Ở cõi ngũ trược nầy có thể thị hiện như vậy. Vì thuận theo thế gian, đến tắm tại sông Ni Liên rồi đi tới đạo tràng. Long Vương ca tụng nghinh tiếp.

Chư Bồ tát đi nhiễu bên hữu ngợi khen. Nhận lấy cỏ tự tay trải dưới cội cây Bồ đề rồi ngồi kiết già. Lại hiện quân ma bao vây làm hại. Dùng sức định huệ hàng phục mà oán. Thành bậc vô thượng Chánh giác. Phạm Vương thỉnh chuyển pháp luân dũng mãnh vô úy.

*

Âm thanh của Phật vang rền, đánh trống pháp, thổi loa pháp. Dựng tràng pháp, thắp đuốc pháp, nhiếp chánh pháp và các thiền định. Mưa pháp vũ nhuần thấm quần sanh, chấn sấm pháp khai ngộ tất cả quốc độ. Quang minh chiếu khắp thế giới, mặt đất rúng động, cung ma sụp đổ.

Ma Vương Ba Tuần kinh sợ, phá giặc phiền não, xé lưới tà kiến, xa rời ác pháp. Sanh lớn thiện pháp, với món đồ ăn của tín thí có thể ăn có thể tiêu. Vì điều phục chúng sanh mà tuyên dương diệu lý. Hoặc hiện mỉm cười phóng trăm ngàn tia sáng lên bực quán đảnh, thọ ký Bồ đề. Hoặc thành Phật đạo, hiện nhập Niết bàn. Khiến vô lượng hữu tình đều được quả vô lậu, thành thực thiện căn cho vô biên Bồ Tát. Trong tất cả cõi Phật đều có thể thị hiện như vậy.

*

Ví như nhà ảo thuật, biết rõ ảo thuật có thể hiện ra những tướng nam nữ v.v…ở trong các tướng ấy thiệt không có được.

Cũng vậy, chư Bồ Tát khéo học vô biên ảo thuật công đức, nên hay thị hiện biến hóa. Hay khéo biết rõ đạo biến hóa, nên ở các quốc độ hiện đại từ bi, đều có thể lợi ích tất cả quần sanh. Thành tựu vô biên hạnh nguyện Bồ Tát. Thông đạt bình đẳng vô lượng nghĩa môn. Tu hành đầy đủ tất cả pháp lành. Bình đẳng thẳng vào trong các cõi Phật. Thường được chư Phật khuyến tấn và gia hộ oai thần. Ðược tất cả Như Lai rõ biết ấn khả.

Vì giáo hóa chư Bồ Tát mà làm A Xà Lê. Thường tu tập thành tựu vô biên công hạnh. Thông đạt tất cả pháp giới hạnh. Hay biết rành rẽ hữu tình và quốc độ. Cũng thường đi đến cúng dường chư Phật. Hiện các thứ thân hình như là ảnh tượng. Khéo học pháp vô úy, phá lưới ma, trừ tà kiến. Qua khỏi quyến thuộc hiền não và bạn ma dân ma. Hơn hẳn bực Thanh Văn và Bích Chi Phật. Nhập môn không, vô tướng và vô nguyện, mà hay an trụ phương tiện thiện xảo.

*

Chẳng hề thích Niết bàn của nhị thừa. Ðược các tam muội vô sanh vô diệt và các môn đà la ni. Các căn quảng đại, biện tài quyết định. Nơi tạng pháp Bồ Tát hay biết rõ Phật hoa tam muội, tùy thời ngộ nhập. Ðủ biết tất cả các thứ thậm thâm thiền định. Tất cả chư Phật đều hiện ra trước. Trong khoảng một niệm đi khắp cõi Phật, quanh vòng qua lại vẫn chẳng khác thời gian, cứu vớt nạn khổ. Phân biệt hiển bày chơn thiệt bổn tế. Ðược Phật hiện tài, trụ hạnh Phổ Hiền.

Hay phân biệt rõ ngôn ngữ của chúng sanh. Vượt hơn tất cả pháp thế gian. Biết rành tất cả pháp xuất thế. Nơi tất cả vạn vật tùy ý tự tại. Với tất cả hữu tình làm bạn chẳng chờ thỉnh. Có thể chấp trì pháp tạng của tất cả Như Lai. An trụ chẳng dứt chủng tánh tất cả Phật.

Thương mến hữu tình mở bày pháp nhãn cho họ. Bít cửa ác đạo, mở cửa thiện đạo. Với tất cả hữu tình xem như cha mẹ anh em. Lại xem chúng sanh không khác thân mình. Tất cả pháp lành đều được rốt ráo. Vô lượng công đức của chư Phật đều đã được. Trí huệ thánh minh chẳng thể nghĩ bàn. 

*

Chúng đại Bồ Tát vô lượng vô biên như vậy đồng đến pháp hội.

Lúc bấy giờ sắc diện của đức Thế Tôn vui vẻ sáng rỡ.

Thừa oai thần của đức Phật, Tôn giả A Nan từ chỗ ngồi đứng dậy chỉnh lý y phục, trịch vai hữu, gối hữu chấm đất, chắp tay hướng lên đức Phật bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Hôm nay sắc diện của đức Thế Tôn vui vẻ sáng rỡ, trong sạch như gương sáng, từ nào chưa từng được thấy.

Bạch đức Thế Tôn! Tôi tự nghĩ rằng, hôm nay đức Thế Tôn an trụ chỗ an trụ của chư Phật. Hôm nay Ðức Thế Nhãn an trụ nơi hạnh của bực đạo sư. Hôm nay đức Thế Anh an trụ nơi đạo tối thắng. Hôm nay đức Thế Hùng hành công đức của Như Lai. Phải chăng hôm nay đức Thế Tôn nghĩ nhớ đến chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại?”.

*

Ðức Phật phán dạy: “Nầy A Nan! Sao ông biết được việc ấy, chư Thiên bảo ông, hay là ông tự thấy biết?”.

Ngài A Nan thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Tôi thấy sắc diện của đức Thế Tôn rạng rỡ ít khi có, nên mới bạch hỏi như vậy, chẳng phải là do chư Thiên mách bảo”.

Ðức Phật phán dạy: “Lành thay, lành thay! Nầy A Nan! Ông phát trí huệ biện tài hỏi được Như Lai việc ấy. Ông là Ðại Sĩ hi hữu như hoa Ưu Ðàm xuất hiện thế gian, có lòng đại bi lợi ích chúng sanh, nên thưa hỏi việc ấy.

Nầy A Nan! Ðức Như Lai Chánh đẳng Chánh giác, hay khai thị được vô lượng tri kiến. Tại sao? Vì Như Lai tri kiến vô chướng vô ngại.

Nầy A Nan! Như Lai Chánh đẳng Chánh giác, nếu muốn ở thế gian, có thể ở đến vô lượng vô số trăm ngàn ức na do tha kiếp, hoặc là tăng hơn số lượng trên, mà thân thể của Như Lai và các căn vẫn không tổn giảm. Tại sao vậy?

*

Vì Như Lai được tam muội tự tại rốt ráo. Nơi tất cả pháp là tự tại hơn hết.

Nầy A Nan! Ông phải lắng nghe, khéo suy nghĩ lấy. Ta sẽ vì ông mà phân biệt giải nói”.

Ngài A Nan thưa: “Vâng! Bạch đức Thế Tôn! Tôi mong muốn được nghe đức Phật chỉ dạy”.

Ðức Phật bảo Ngài A Nan: “Thuở xưa quá a tăng kỳ vô số đại kiếp. Có Phật xuất thế hiệu là Nhiên Ðăng Như Lai, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh.

Sau đó có Quang Viễn Phật, Nguyệt Quang Phật, Chiên Ðàn Hương Phật. Thiện Sơn Vương Phật, Tu Di Thiên Quang Phật, Tu Di Ðẳng Diệu Phật. Nguyệt Sắc Phật, Chánh Niệm Phật, Ly Cấu Phật. Vô Trước Phật, Long Thiên Phật, Dạ Quang Phật, An Minh Ðảnh Phật. Bất Ðộng Ðịa Phật, Lưu Ly Diệu Hoa Phật, Lưu Ly Kim Sắc Phật, Kim Tạng Phật. Viêm Quang Phật, Viêm Căn Phật, Ðịa Chủng Phật, Nguyệt Tượng Phật. Nhật Âm Phật, Giải Thoát Hoa Phật.

*

Trang Nghiêm Quang Minh Phật, Hải Giác Thần Thông Phật, Thủy Quang Phật. Ðại Hương Phật, Ly Trần Cấu Phật, Xả Yểm Phật, Bửu Viêm Phật. Diệu Ðảnh Phật, Dũng Lập Phật, Công Ðức Trì Huệ Phật, Tỳ Nhựt Nguyệt Phật. Vô Thượng Lưu Ly Quang Phật, Tối Thượng Thủ Phật, Bồ Ðề Hoa Phật, Nguyệt Minh Phật. Nhựt Quang Phật, Hoa Sắc Hương Phật, Thủy Nguyệt Quang Phật.

Trừ Si Minh Phật, Ðộ Cái Hạnh Phật, Tịnh tín Phật, Thiện Tú Phật. Oai Thần Phật, Pháp Huệ Phật, Loan Âm Phật. Sư Tử Âm Phật, Long Âm Phật, Xử Thế Phật. Chư Phật như vậy kế tiếp nhau xuất hiện ra đời.

Kế đó có đức Phật hiệu là Thế Tự Tại Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.

*

Lúc đó có Quốc Vương nghe đức Phật thuyết pháp, lòng rất vui đẹp phát tâm Vô thượng Bồ đề. Từ bỏ ngôi vua xuất gia làm Tỳ Kheo hiệu là Pháp Tạng. Đến chỗ đức Phật Thế Tự Tại Vương, cúi lạy chơn đức Phật, đi quanh bên hữu ba vòng, quỳ dài chắp tay nói kệ tụng khen rằng:

Sắc diện Phật rực rỡ

Oai Thần Phật vô cực

Ánh sáng chói như vậy

Không ai sánh bằng Phật

Mặt nhựt và mặt nguyệt

Cùng ma ni bửu châu

Ánh sáng bị che lấp

Chẳng khác gì đống mực

Dung nhan của Như Lai

Thế gian không ai sánh

Viên âm của Như Lai

Vang khắp đến mười phương

Giới, đa văn, tinh tiến

Tam muội và trí huệ

Oai đức không ai sánh

Rất thù thắng hy hữu

*

Ðế lý sâu, niệm lành

Pháp hải của chư Phật

Ðã cùng tận thâm áo

Tột bờ và suốt đáy

Vô minh và tham sân

Thế Tôn đã không hẳn

Ðấng nhơn hùng sư tử

Thần đức không thể lường

Công huân Phật rộng lớn

Trí huệ sâu vi diệu

Quang minh tướng oai nghi

Chấn động cõi Ðại Thiên

Nguyện tôi lúc làm Phật

Bằng với đấng Pháp Vương

Vượt khỏi dòng sanh tử

Không gì chẳng giải thoát

Bố thí và trì giới

Nhẫn nhục và tinh tiến

Thiền định các tam muội

Trí huệ là trên hết

*

Tôi thề được làm Phật

Làm khắp hết nguyện nầy

Tất cả sự khủng bố

Tôi sẽ làm an ổn

Giả sử có chư Phật

Số trăm ngàn muôn ức

Vô lượng đấng đại Thánh

Như số cát sông Hằng

Dầu cúng dường tất cả

Chư Phật Thế Tôn ấy

Vẫn chẳng bằng cầu đạo

Tâm vững chắc chẳng bỏ

Thí như hằng hà sa

Thế giới của chư Phật

Lại có bất khả kể

Vô số những quốc độ

Quang minh đều chiếu đến

Khấp hết những cõi ấy

Siêng tinh tấn như vậy

Sức oai thần khó lường

Nếu lúc tôi làm Phật

Cõi nước tôi đệ nhứt

*

Rất nhiều thứ kỳ diệu

Ðạo tràng rất siêu tuyệt

Cõi nước như Niết bàn

Không cõi nào sánh bằng

Tôi sẽ luôn thương nhớ

Ðộ tất cả chúng sanh

Người mười phương sanh về

Lòng vui mừng thanh tịnh

Ðã về đến nước tôi

Ðều sung sướng an ổn

Trông mong Phật chứng minh

Cho tôi được thành tựu

Do sức muốn tinh tiến

Tôi phát nguyện như trên

Mười phương chư Thế Tôn

Trí huệ lớn vô ngại

Khiến cho Thế Tôn nầy

Biết tâm niệm của tôi

Giả sử thân tôi ở

Trong những chốn khốn khổ

Tôi tinh tiến hành đạo

Chịu đựng chẳng hối tiếc.

*

Nầy A Nan! Tỳ Kheo Pháp Tạng nói kệ tụng xong, bạch đức Phật Thế Tự Tại Vương rằng: Bạch đức Thế Tôn! Tôi đã phát tâm Vô thượng Chánh giác, xin đức Thế Tôn rộng tuyên kinh pháp cho. Tôi sẽ tu hành nhiếp lấy Phật quốc thanh tịnh vô lượng trang nghiêm. Khiến tôi mau thành bực Chánh giác, nhổ hết gốc rễ sanh tử khổ lụy.

Thế Tự Tại Vương Như Lai nói với Pháp Tạng Tỳ Kheo rằng:

Công hạnh tu hành trang nghiêm Phật độ, ông tự biết lấy.

Tỳ Kheo Pháp Tạng thưa:

Bạch đức Thế Tôn! Nghĩa ấy sâu rộng chẳng phải cảnh giới của tôi. Ngưỡng mong đức Thế Tôn chỉ dạy công hạnh Tịnh độ của chư Phật Như Lai. Tôi được nghe rồi, sẽ y theo tu hành để hoàn thành sở nguyện.

*

Lúc ấy đức Phật Thế Tự Tại Vương biết Tỳ Kheo Pháp Tạng cao minh, chí nguyện sâu rộng, liền giảng dạy rằng:

Ví như biển cả kia, có một người lấy đấu múc nước trải qua kiếp số, còn có thể cạn đến đáy được châu báu vi diệu. Có người chí tâm tinh tiến cầu đạo chẳng thôi, tất sẽ kết quả, có nguyện gì mà chẳng được thành.

Rồi đức Thế Tự Tại Vương Phật nói rộng hai trăm mười ức quốc độ chư Phật, những là sự thiện ác của hàng thiên nhơn, những sự xấu tốt của cõi nước, và ứng theo tâm nguyện của Tỳ Kheo Pháp Tạng mà hiện rõ ra cho thấy cả.

Nghe và thấy các quốc độ nghiêm tịnh, Tỳ Kheo Pháp Tạng phát khởi thệ nguyện thù thắng vô thượng. Tâm Ngài tịch tịnh, trí Ngài rỗng rang, tất cả thế gian không có ai bằng. Trọn đủ năm kiếp, Ngài suy xét nhiếp lấy công hạnh trang nghiêm thanh tịnh nước Phật”.

*

Ngài A Nan thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Người cõi Phật xưa ấy thọ mạng bao lâu?”.

Ðức Phật nói: “Nầy A Nan! Ðức Phật Thế Tự Tại Vương thọ mạng bốn mươi hai kiếp.

Thuở ấy, Tỷ Kheo Pháp Tạng nhiếp lấy công hạnh thanh tịnh trang nghiêm hai trăm mười ức nước Phật và tu tập xong. Ngài đến trước đức Thế Tự Tại Vương Như Lai cúi lạy chơn Phật. Đi quanh bên hữu ba vòng chắp tay đứng lại bạch rằng:

Bạch đức Thế Tôn! Tôi đã nhiếp lấy công hạnh trang nghiêm thanh tịnh nước Phật.

Ðức Thế Tự Tại Vương Như Lai nói:

Nay ông nên trình bày, phải biết là đúng lúc, để phát khởi và làm vui đẹp tất cả đại chúng. Bồ Tát tu hành pháp ấy thì sẽ đầy đủ vô lượng đại nguyện.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *