Chú Đại Bi Tâm Đà Ra Ni

Chú Đại Bi là một báu vật vô giá của Phật pháp, dành cho cho hết thảy chúng sanh trong pháp giới. Bởi là một “siêu tốc thánh địa Đà ra ni”, nên sức phá nghiệp chướng của chú Đại Bi là vô cùng vô tận. Lại bởi” được mười phương đạo sư đều đến vì làm chứng minh, nên tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt. Ngay đến cả tội cực nặng, không thể sám hối, như Ngũ nghịch cũng được tiêu trừ

Có nhiều trang web đã đăng tải Chú Đại Bi. Tuệ Tâm thoạt đầu cũng không định đăng lên, nhưng thay đổi quyết định sau khi phát hiện ra ba điều quan trọng:

  1. Một số bản Chú Đại Bi dạng PDF và trực tiếp trên web. Do lỗi biên tập mà thiếu mất câu chú “ma ha phạt xà da đế”.
  2. Nhiều người muốn học thuộc chú nhưng học rất lâu mà không thuộc. Tuệ Tâm biên tập lại bố cục của bài Chú theo cách mà Hòa Thượng Trí Thoát tụng. Nếu vừa nghe video vừa tụng đọc theo bố cục này, sẽ rất nhanh thuộc mà không bị lẫn lộn các câu.(Ngày xưa Tuệ Tâm cũng học theo cách này nên nay chia sẻ lại với các đồng tu)
  3. Nhiều người bởi phân vân chuyện “tụng chú Đại Bi bằng tiếng Phạn hay tiếng Việt tốt hơn”. Phạm vào điều tối kỵ khi tụng chú, chẳng được hưởng sự thanh lương nơi giáo pháp của Như Lai.( Bạn xem rõ hơn ở dưới).
Kinh Chú Đại Bi
Chú Đại Bi Tâm Đà Ra Ni

Chú Đại Bi

Nam mô hắc ra đát na, đá ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô Yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da.

Ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da bà lô Yết đế, thất Phật ra lăng đà bà.

Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng. Tát bà tát đa, na ma bà đà, ma phạt đặc đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế.

Di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng. Câu lô câu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế.

Đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, giá ra giá ra. Ma mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da.

*

Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra. Tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ. Bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na.

Ba dạ ma na ta bà ha, tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha.

Tất ra tăng a mục khư da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ ta bà ha.

Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ ta bà ha. Ma bà rị thắng yết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô kiết đế thước bàn ra dạ, ta bà ha.

Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ. Ta bà ha

Chú Đại Bi tiếng Phạn và điều tối kỵ cần tránh.

Phật tử sơ cơ, nhiều người hay có suy nghĩ rằng: Phải tụng chú Đại Bi tiếng phạn mới tốt hơn và nhanh linh ứng. Điều này không đúng! Bởi trong Phật pháp, điều kiện để được cảm ứng gói gọn trong hai chữ Chí Tâm: “Chí tâm là điều quan trọng nhất”. Nếu chí tâm cung kính tụng chú Đại Bi. Dù bạn tụng bằng tiếng nào cũng đều linh nghiệm như nhau, không có sai khác!

Như khi xưa lúc đức Phật còn tại thế. Ngài giảng pháp bằng Phạm âm, mà tất cả pháp giới, từ vô hình đến hữu hình.. Từ Thiên nhân, người, Quỷ thần, Súc sanh, Ngạ quỷ… loài nào nghe cũng đều hiểu hết.

*

Trong kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni. Tổ Thiền Tâm cũng đã giải thích điều này rất rõ, nhưng ít ai để tâm lưu ý. Thành ra vướng phải điều tối kỵ khi tụng chú: Khởi nghi tâm phân biệt hơn kém. Xin hãy đọc kỹ lời Tổ dặn: “Theo trong Hiển Mật Viên Thông, người tu Chân ngôn về sắc trần cần phải rõ rệt. Như quán nước phải ra nước, quán lửa phải ra lửa, chớ không thể khác được.

Riêng về thinh trần thì dù tiếng tăm đọc tụng có trại với Phạm Âm đôi chút cũng không sao. Miễn có lòng tin tưởng chí thành là được công hiệu. Vì thế, từ trước đến nay, hàng Phật tử ở Trung Hoa cho đến VN ta. Khi đọc tụng chú, thật ra đều trại với chánh âm, song vẫn cảm được oai thần công đức không thể nghĩ bàn. Vậy người học Phật, muốn trì chú, đừng lấy điểm này làm nghi, mà mất phần lợi ích.

Cách tụng chú Đại Bi đúng pháp

Trong kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni. Tổ Thiền Tâm có dạy rõ cách tụng Chú Đại Bi đúng pháp. Đây là nói về “cách lập đàn kiết giới tụng niệm để cầu cho được mau hiệu nghiệm. Nếu người thường tụng trì, không bắt buộc phải theo lệ ấy“. Tuy vậy, nếu bạn thường xuyên trì tụng thì trong 2 phương diện này, gắng giữ được phần nào lại càng hay phần đó. Vậy trì chú Đại bi đúng pháp là sao? Trong đây xin chia ra hai phương diện:

1.Về mặt giữ gìn giới hạnh

Người trì chú cần phải giữ trai giới, trừ sát, đạo, dâm, vọng. Kiêng cữ rượu, thịt, hành, hẹ, tỏi cùng các thức ăn hôi hám. Thân thể thường phải năng tắm gội, thay đổi y phục cho sạch sẽ, chớ để trong người có mùi hôi. Khi đại tiểu xong, phải rửa tay đọc chú. Trước khi trì chú phải súc miệng cho sạch.

Lại nữa, trong thời gian kiết thất trì chú, người ấy chớ nên nói chuyện hí hước tạp nhạp. Không nên khởi tâm hờn giận, hoặc tham tưởng sự ăn uống ngủ nghỉ hay sự dục lạc ngoài đời. Phải giữ lòng thanh tịnh, tin tưởng, thành kính.

2.Về mặt lập đàn tụng niệm

Theo đúng pháp, người trì chú nào phải thờ vị Bổn Tôn của chú ấy. Như trì chú Đại Bi thì phải thờ tượng Thiên Nhãn. Hoặc tượng Quán Âm 24 tay, 18 tay, 8 tay, 4 tay. Hoặc ít lắm là tượng Quán Âm thường cũng được. Nên để tượng day mặt về phương Tây.

Theo quyển Bách Lục Thỉnh Quán Âm Nghi. Nếu có tượng Bổn Sư nên để tượng Thích Ca hướng về phương Nam, tượng Quán Âm hướng về phương Đông. Đàn tràng nên lựa chỗ vắng lặng sạch sẽ. Thường dùng hương, hoa, nước trái cây, cùng các thứ ăn uống cúng dường tôn tượng. Nếu có phương tiện, treo tràng phan, bảo cái lại càng tốt. Thời gian cầu nguyện hoặc 7 ngày, 21 ngày, 49 ngày nên giữ cho đúng. Trước khi vào đàn, phải kiết giới y như kinh đã chỉ dạy.

*

Trong một ngày đêm, chia ra làm 3, 4 hoặc 6 thời, tụng niệm tiếp tục. Tiếng tụng cần phải rành rẽ, rõ ràng. Ngoài ra, nghi thức lễ bái, trì niệm cũng cần phải biết và học thuộc trước. Trên đây là nói về cách lập đàn kiết giới tụng niệm để cầu cho được mau hiệu nghiệm. Nếu người thường tụng trì, không bắt buộc phải theo lệ ấy. Nhưng trong 2 phương diện trên, gắng giữ được phần nào lại càng hay.

Bạn có thế tham khảo thêm về cách tụng chú Đại Bi của Giáo hội Phật giáo:

Quán Thế Âm Bồ Tát
Quán Thế Âm Bồ Tát

Chú Đại Bi Linh Nghiệm

1. Thanh Biện Luật sư, người xứ Tây Thiên Trúc, sức học uyên bác, rất thâm về vô tướng tông. Các ngoại đạo nghe danh, đến vấn nạn đều bị ngài dùng nghĩa không mà phá tất cả. Có một lần, luận sư gặp một nhà ngoại đạo nổi tiếng là giỏi. Hai bên tranh biện nhau hơn nửa ngày, ngoại đạo bị khuất lý mà vẫn cố chấp không chịu thua. Do đó, tự thân bỗng biến thành đá. Đến 6 tháng sau, nghe sấm nổ mới phục nguyên lại thành người như trước.

Về sau, ngài xem bộ luận về Hữu Tướng Tông của Hộ Pháp Đại Sư. Đem nghĩa học của mình đối chiếu vẫn không phá hoại được, mới than rằng: ‘Nếu không phải đức Di Lặc ra đời, thì ai giải quyết được mối nghi ngờ của ta?’ Nhân đó, ngài đến trước tượng Quán Tự Tại Bồ Tát, tụng chú Đại Bi tâm đà ra ni 3 năm.

*

Một đêm, đức Quán Thế Âm Bồ Tát, hiện sắc thân tốt đẹp đến hỏi: ‘Ngươi tụng chú để mong cầu điều chi?’ Luận sư đáp: ‘Con nguyện lưu trụ thân đợi đến lúc Từ Thị Như Lai ra đời để thưa hỏi về giáo nghĩa’. Bồ Tát nói: ‘Thân người mong manh, cõi đời hư huyễn. Sao không tu thắng hạnh cầu mong lên trời Đâu Suất, chẳng là mau gặp gỡ hơn ư?’

Ngài thưa: ‘Đức Di Lặc tuy hiện trụ nơi nội viện cung trời thứ tư, nhưng chưa thành Phật. Vì thế con muốn đợi đến lúc ngài hiện thành chánh giác nơi cõi nhơn gian. Chí con đã quyết định, không thể lay chuyển’.

Bồ tát bảo: ‘Đã như thế, ngươi nên đi qua thành phía nam xứ Đại An Đạt La, thuộc về miền nam Thiên Trúc. Cách đó không xa, có một tòa sơn nham, chính là chỗ ở của thần Chấp Kim Cang. Sau khi đến nơi, ông nên đối trước sơn nham tụng chú Chấp Kim Cang Thần đà ra ni, sẽ được toại nguyện’.

*

Luận sư vâng lời, đi đến nơi, hành trì như thế. 3 năm sau, thần hiện ra và hỏi: ‘Ông cầu nguyện điều chi?’ Đáp : Tôi vưng lời đức Quán Thế Âm Bồ Tát mách bảo, đến đây trì tụng. Nguyện lưu thân này sống mãi đợi đến khi Phật Di Lặc ra đời. Xin tôn thần cho tôi được thành tựu như ý muốn’.

Chấp Kim Cang thần bảo: ‘Trong sơn nham này có cung điện của thần A Tu La. Ông nên gia trì chú Đại Bi trong hạt cải trắng, rồi liệng vào thì cửa đá sẽ mở. Sau khi ấy, ông nên đi thẳng vào trong, sẽ có phương tiện để cho ông trụ thân lâu dài mà chờ đợi’. Luận sư hỏi:  “Trong cung động, cách biệt ngoài trần, khi Phật ra đời làm sao tôi được biết?” Thần nói: ‘Chừng ấy, tôi sẽ cho ông hay’.

Ngài Thanh Biện lại y lời, tinh thành tụng chú Đại Bi. Gia trì trong hạt cải 3 năm, rồi liệng vào sơn nham. Bỗng thấy vách đá mở ra, trong ấy hào quang chiếu sáng. Lúc bấy giờ, có rất đông đại chúng tề tựu đến xem, bàn bàn luận luận quên cả trở về. Luận sư tướng trạng an lành, buớc vào cửa đá, rồi day lại nói:

*

‘Tôi nguyện cầu đã lâu, muốn trụ thân này chờ đức Từ Thị ra đời. Nhờ sức thánh linh, bổn nguyện từ đây đã toại. Vậy đại chúng nên theo tôi, để được ngày kia thấy Phật nghe pháp. Trong chúng nghe nói sợ hãi, cho là hang loại độc long, đi vào chắc mất thân mạng. Luận sư đôi ba phen gọi bảo, chỉ có 6 người chịu đi theo mà thôi. Ngài từ tạ rồi dẫn 6 người thong thả đi vào trong, cửa đá liền khép lại.

Lúc ấy đại chúng ở ngoài thấy vậy hết sức hối tiếc, trách mình đã nghĩ nói lỗi lầm. (trích Đường Tây Vực Ký)

2. Nước Ma Già Đà xứ Tây Thiên Trúc, có một người phật tử tại gia, tánh ưa sắc đẹp. Một hôm, nhân xem kinh thấy nói hàng A Tu La, người nam tuy xấu, nhưng người nữ lại xinh tốt tuyệt bậc. Trong lòng sanh niệm mến thích, ước làm sao cùng được kết mối lương duyên. Không bao lâu, lại nghe nhiều vị bảo trong núi nọ có cung điện A Tu La rất nguy nga tráng lệ, báu lạ như thiên cung. Liền quyết tâm trì chú Đại Bi 3 năm, cầu mong được viếng cảnh mầu để thỏa lòng ước nguyện khi trước.

*

3 năm đã mãn, người ấy từ tạ thân hữu, và gọi một tên đệ tử cùng đi theo. Khi thầy trò đi đến trước núi, chí tâm tụng chú cầu nguyện. Bỗng cửa đá vụt mở, trong ấy lộ ra cung điện có quỷ thần canh giữ cực nghiêm. Vị phật tử liền bước đến nói rõ bổn nguyện của mình: Trì chú muốn kết duyên cùng thần nữ A Tu La. Xin nhờ thông báo, và thỉnh ý giùm.

Kẻ giữ cửa vào thưa lại. A Tu La nữ nghe nói tỏ ý vui đẹp, hỏi: Đi đến có mấy người? Đáp: Thưa hai người. Thần nữ bảo: Ngươi ra thuật lại ý ta đã thuận. Thỉnh người trì chú mau vào, còn ông đồng bạn hãy tạm đứng ngoài cửa. Kẻ giữ cửa ra thưa lại, vị Phật tử liền đi vào trong.

Nhìn theo thầy mình đi rồi, người đệ tử còn đang bàng hoàng, bất giác bỗng tự thấy đã trở về đứng ở phía nam của nhà mình hồi nào không hay. Từ ấy về sau, ông này đã mấy lần đến chỗ cũ, song chỉ thấy vách đá đứng sững. Mây khói mịt mù, không còn được nghe biết tin tức gì bên trong nữa. Nhân đó, người đệ tử phát tâm lìa nhà tu hành, nguyện trọn đời ở nơi già lam cúng dường ngôi Tam bảo.

*

Khi ngài Huyền Trang sang Ấn Độ du học, đến trụ ở chùa Na Lan Đà, nghe chính người đệ tử này thuật chuyện lại (trích Tây Quốc Chí).

3. Đời nhà Tống, Huệ Tài pháp sư, người huyện Lạc Thanh, đất Vĩnh Gia. Xuất gia hồi thuở còn bé. Sau khi thọ đại giới, ngài đi tham học nhiều nơi mà không thông hiểu. Tự hận mình nghiệp chướng sâu dày, pháp sư thường tụng chú Đại Bi cầu cho được trí huệ. Hành trì đã lâu, một đêm ngài nằm mộng thấy một vị phạm tăng cao vài trượng, cởi áo ca sa đắp lên mình. Sau khi thức dậy, pháp sư thấy tâm trí tỏ sáng. Những kinh nghĩa đã nghe từ trước đến giờ, một lúc đều nhớ rõ ràng thông suốt.

Về sau, ngài tham yết Từ Vân Sám chủ, hằng theo phục dịch gần bên, chỗ giải ngộ càng thêm sâu sắc. Niên hiệu Trị Bình năm đầu, ngài trụ ở Pháp Huệ bảo các, được vua tứ hiệu Quảng Từ. Không bao lâu, pháp sư lại thối cư về ở bên tháp Lôi Phong, tinh tu về môn Tịnh Độ.

Ngài thường đứng co một chân trì chú Đại Bi 108 biến, lấy đó làm thường khóa. Lại đứng dở chân 1 ngày 1 đêm niệm thánh hiệu Di Đà. Một đêm, pháp sư mộng thấy mình đến chỗ cảnh giới sáng suốt, nhiều cung điện lâu các trang nghiêm, có người bảo: ‘Tịnh độ trung phẩm là nơi thác sanh của ông’.

*

Mùa xuân niên hiệu Nguyên Phong năm đầu, ngài vì hàng đạo tục ngàn người, truyền giới ở Lôi Phong. Khi vừa mớì làm phép yết ma, nơi đỉnh tượng đức Quán Thế Âm bỗng phóng ánh sáng rực rỡ, đèn đuốc cùng ánh mặt trời thảy đều lu mờ. Ngài Thủ Nhứt Thiền Sư ở chùa Tịnh Từ vì đó làm bài Giới Quang Ký. Ngày 21 tháng 5 niên hiệu Nguyên Phong thứ 6. Pháp sư tắm gội thay y phục lên giảng tòa, đề bài kệ khen Phật, rồi bảo đại chúng: ‘Ta chắc chắn được sanh về Tịnh Độ’, nói xong, ngồi yên lặng mà tịch, thọ được 86 tuổi. (trích Phật Tổ Thống Ký)

4. Đời nhà Thanh, Ngô doãn Thăng người ở Huy Châu, huyện Hấp. Lúc tuổi trẻ thường qua lại buôn bán ở 2 châu Tô, Hàng. Một hôm, nhân có dịp đi qua Hồ Khâu, tình cờ gặp vị tăng đang hóa trai. Vị này nhìn chăm chú vào mặt ông một lúc lâu rồi nói: Ngươi cũng có căn lành, nhưng tiếc vì đến lúc 29 tuổi bị nạn chết đắm. Biết làm sao? Doãn Thăng sợ quá, cầu phương pháp giải thoát. Vị tăng trầm ngâm giây phút rồi bảo: Từ đây về sau, ngươi nên giới sát, phóng sanh, niệm Phật và trì chú Đại Bi, may ra có thể khỏi được.

*

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *