10 Phương chư Phật chứng thật vãng sanh. Chư Tổ bảo: “Pháp môn niệm Phật duy chỉ có Phật mới hiểu tường tận, phàm phu chúng ta chỉ nên ngửa mặt nghe lời Phật dạy, chớ vì nghe pháp sư giảng kinh mà chạy đông chạy tây. Lời Phật dạy trong kinh mà ta còn không tin lại đi tin lời phàm phu, thật chẳng phải là ngược đời lắm hay sao?”
Chư Phật làm chứng: “Bạn xưng danh ắt được vãng sanh”. Nghĩa là 10 phương chư Phật nhiều như cát sông hằng, đều đến làm chứng cho chúng ta. Các Ngài bảo: “Phàm phu tội nghiệp mà chịu xưng niệm danh hiệu Phật Di Đà thì đương nhiên được vãng sanh Thế giới Tây Phương Cực Lạc.”
Kinh A Di Đà nói: “Sáu phương chư Phật nhiều như cát sông hằng đều hiện tướng lưỡi dài trùm khắp tam thiên đại thiên thế giới nói lời thành thật rằng: “Hoặc Phật tại thế, hoặc sau khi Phật diệt độ, tất cả phàm phu tạo tội, nhưng chịu hồi tâm niệm A Di Đà Phật, nguyện sanh Tịnh Độ. Hoặc niệm suốt 100 năm, hay chỉ được bảy ngày, 1 ngày, 10 tiếng…thì khi mạng chung Phật và Thánh chúng hiện ra nghênh tiếp, liền được vãng sanh.”…
Tuệ Tâm 2023.




PD. Diệu Hậu viết
Nam Mô A Di Đà Phật.
Kính bạch Tuệ Tâm cùng các Liên Hữu đồng tu.
Tại sao Mười Phương chư Phật lại chứng thật vãng sanh là lý do ở đâu? Chính là Bổn Nguyện Siêu Thế của Ngài Tỳ Kheo Pháp Tạng, tiền thân của Đức Phật A Di Đà.
Đức Phật A Di Đà là một vị Cổ Phật. Ngài đã thị hiện vô số thân ở vô lượng thế giới để cứu độ chúng sinh. Đối với chúng sinh phàm phu tội chướng ở cõi Ta Bà ác trược, thì sự cứu độ của Ngài được “Ghi Dấu” qua 3 Gương điển hình đó là từ Tỳ kheo Pháp Tạng tu tập trở thành Phật A Di Đà, khi đã thành Phật A Di Đà rồi, Ngài lại hiện thân Tổ Sư Thiện Đạo đến thế giới này dẫn dắt chúng sinh “Nương Đúng theo Bổn Nguyện Siêu Thế Ấy”.
Quá trình cứu độ của Ngài từ lúc phát Thệ Nguyện cho đến khi Thành Tựu rồi Giáo Hóa chúng sinh qua các giai đoạn, Ngài đều được hết thảy 10 phương chư Phật tán thán khen ngợi gia trì và chứng minh:
1/ Trước hết chúng ta biết rằng khi Tỳ kheo Pháp Tạng phát 48 Đại Nguyện là khắp Pháp Giới chấn động, hoa trời rải khắp hư không. Hiện tượng này báo hiệu sự thành tựu của Ngài sẽ làm lợi lạc cho chúng sinh đời sau.
Năng lực của Ngài cũng được đức Phật Thế Gian Tự Tại Vương khẳng định khi giới thiệu cảnh giới của 210 ức cõi nước Phật để Ngài lựa chọn: “Ngươi tự suy nghĩ tu phương tiện nào để thành tựu được cõi Phật trang nghiêm. Việc tu hành như thế ngươi nên tự biết, với việc thanh tịnh cõi Phật, ngươi nên tự nhiếp”.
Nghĩa là đức Phật Tự Tại Vương đã nhìn thấu khả năng của Tỳ Kheo Pháp Tạng, vì thế việc giới thiệu cảnh giới của Chư Phật sẽ giúp cho Ngài Pháp Tạng biết rõ mình phải làm gì: “Đức Phật Thế Gian Tự Tại Vương biết rõ chí nguyện sâu rộng của Pháp Tạng, liền nói công đức nghiêm tịnh rộng lớn viên mãn cõi nước của hai trăm mười ức Đức Phật đúng theo tâm nguyện ông mong muốn”.
2/ Việc thành Phật của Ngài chỉ có một mục đích đó là (Nguyện Độ Sinh): “Đức Phật Như Lai kia đến không chỗ đến, đi không chỗ đi, không sinh không diệt, không có quá hiện vị lai, chỉ có MỘT NGUYỆN ĐỘ SINH” (Kinh VLT)
Kinh A Di Đà nói “Đức Phật ấy thành Phật tại cõi nước Cực Lạc đến nay đã hơn 10 kiếp”.
Ở thời điểm thuyết Kinh, Bổn Sư cho đại chúng biết rằng Chư Phật hiện tướng lưỡi rộng dài nói lời thành thật, các Ngài tán thán khen rằng “Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm, là một bộ Kinh công đức thù thắng không thể nghĩ bàn”.
Bộ Kinh này cốt lõi là gì?
“Nếu có Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhân nào, nghe nói đức Phật A Di Đà rồi chấp trì DH của Ngài từ 1-7 ngày Một Lòng Không Tạp. Thời người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh chúng hiện thân ở trước ngưởi đó. Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo liền được VS về cõi nước Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà”.
Chư Phật tán thán ở đây cũng chính là khen ngợi chúng sinh xưng niệm Danh Hiệu của Đức Phật A Di Đà, nương tựa hoàn toàn vào sự cứu độ của Ngài, thì được Ngài tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc, thoát ly sinh tử.
3/ Đức Phật A Di Đà có duyên sâu nặng với chúng sinh tại cõi Ta Bà, vì thế lời Thệ Nguyện Vĩ Đại ấy có thể nói là nhắm đến chúng sinh “Chỉ biết tạo nghiệp ác ở cõi này”. Thế nên khi đã thành tựu quả vị chánh giác rồi Ngài vẫn hướng về nơi đó và hiện diện với thân thế Tổ Sư.
Chúng ta đang được Ngài “Ẩn Thân gia trì” khai thị tu tập theo đúng Bổn Nguyện cứu độ thứ 18 là một ĐẶC ÂN mà không phải người tu tịnh độ nào cũng đủ duyên để gặp.
Ngài trở lại soạn Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ khải định cổ kim, hướng dẫn chúng sinh tu tập một cách đơn giản nhất, dễ dàng nhất, hiệu quả nhất, thành tựu ngay hiện tại, và hết mạng chung chắc chắn được về Cực Lạc. Quá trình soạn Kinh Sớ này, trước và sau đều được 10 chư Phật gia trì chứng minh ứng nghiệm.
Vì thế khi tu học pháp môn tịnh độ cầu nguyện vãng sinh Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, chúng ta không thể nào thiếu sự hiểu biết về LỘ TRÌNH CỨU ĐỘ trên.
Hơn nữa để nương tựa được hoàn toàn vào Bổn Nguyện thứ 18, chúng ta cũng không thể nào bỏ qua việc thọ nhận khai thị của Tổ Thiện Đạo.
4/ Khi chúng ta tiếp nhận mạch Tổ Thiện Đạo, sẽ có được dữ liệu về sự Truyền Thừa của mạch có cội nguồn từ đâu, có đảm bảo cho chúng ta tu tập để thành tựu hay không, có phù hợp với khả năng của mình hay không, có tương ưng với Thệ Nguyện cứu độ của Phật A Di Đà hay không. Ngoài ra, việc thể hội ở mạch Tổ Thiện Đạo mình cũng biết rằng mạch tu truyền thống Khó Tu vì thiên về tự lực. Còn mạch Thuần Chánh Dễ Tu vì nương tựa Tha Lực hoàn toàn.
Điều này được xác quyết qua 2 yếu tố:
– Khải định của Tổ Thiện Đạo trong Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ, nói rõ Mạch Thuần Chánh là pháp Cứu Độ bình đẳng vô điều kiện, là mục tiêu mà Đức Phật A Di Đà hướng đến chúng sinh căn cơ hạ liệt hạ chí nên là pháp Dễ Tu Dễ Thành Tựu. Đồng thời Ngài cũng chỉnh sửa quan điểm của các ĐS cho rằng Pháp niệm Phật chỉ dành cho bậc Thánh.
– Sự Kiện Lịch Sử Pháp Nạn, dẫn đến quá trình truyền thừa mạch Thuần Chánh bị dán đoạn, các chứ tác của mạch bị thất lạc suốt hơn một ngàn năm, nên lối tu của các ĐS ở thời điểm này là Pháp Khó Tu vì tự lực.
Nghĩa là Tịnh Độ có 2 mạch Tu: Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo và Các Tổ Sư từ nhiều tông phái quy về Tịnh Độ.
Với mạch Tổ Thiện Đạo dụng công tu tập mà Tổ khai thị chính là mình phải ở vị trí của chúng sinh hạ căn hạ trí, ngu si mê muội không có khả năng gì, thì mới nương được hoàn toàn vào Tha Lực của Phật A Di Đà. Bởi vì chỉ khi ở vị trí thấp nhất của sự phân cấp, bất lực nhất của khả năng, vô trí nhất của nhận thức, vô minh nhất của hiểu biết thì mới chết sạch bản ngã, mới xóa hết tư duy, suy nghĩ, đo lường, phân biệt.
5/ Để Vãng Sinh về Cực Lạc chúng ta phải dùng Công Đức mà đức Phật A Di Đà tu tập tích lũy từ Vô Lượng Kiếp rồi gắn chặt vào Danh Hiệu trao cho chúng ta, công đức ấy là cảnh giới Vô Tướng thì mới đủ điều kiện về Cực Lạc. Còn chúng ta dùng tâm chấp tướng, thì không thể có cách nào mà tu, cũng như không thể lấy công đức của mình gửi về Cực Lạc.
Ngài bảo chỉ cần Xưng Niệm DH của Ngài là đầy đủ tư lương rồi, vì trong DH hiệu ấy đã trọn vẹn, viên mãn quả vị Phật cho mình. Nên tất cả những gì chúng ta làm hàng ngày, tiếp xúc hàng ngày, suy nghĩ hàng ngày, chi phối hàng ngày… đều không liên quan đến câu Phật Hiệu, đều không ảnh hưởng đến sự cứu độ của Ngài.
– Chúng ta niệm Phật A Di Đà là để Vãng Sanh,
– Chúng ta sống và làm việc là vì báo ân Phật, vì chúng sinh mà làm.
Hai mục tiêu này khác nhau. Không liên quan đến nhau. Mình không vì thân làm mà tâm vướng bận, không vì miệng niệm Phật mà tâm phải đối trừ cái này, buông bỏ cái kia. Mọi chuyện diễn ra là bản chất là nhân quả của nó, ta niệm Phật A Di Đà là quả ta sẽ về Cực Lạc.
Nhiệm vụ của ta là Niệm Phật – Nhiệm vụ của Phật A Di Đà là đón mình.
Hiểu và thực hành được như vậy thì bạn không bị vướng vào ý niệm CHẤP rằng (làm thế nào để trở thành người NGU). Nghĩa là bạn phải tắt hết những tri thức, những kiến 🐜 giải, những suy lường, nhưng lo lắng, phiền muộn về được mất hơn thua thì mới gọi là VÔ TRÍ.
TẮT BẰNG CÁCH NÀO? “Chỉ quan đến câu Phật Hiệu”.
Bạn không cần dụng công đè nén, đối chọi, buông bỏ những thứ ấy, vì câu Phật Hiệu mới là nhân tố đưa mình về Cực Lạc. Công năng, lực dụng của danh hiệu sẽ phá tan tất cả những chướng ngại trên lộ trình đi của nó, vì thế phải hoàn toàn yên tâm mà xưng danh hiệu Ngài.
6/ Tại sao đức Phật A Di Đà lại yêu cầu chúng sinh chỉ cần xưng danh, vì Ngài CHỦ ĐỘNG phát nguyện cứu độ chúng sinh, Ngài cũng chủ động TẠO DỰNG SẴN CÔNG ĐỨC cho họ. Vì Ngài biết rằng họ KHÔNG THỂ TU TẬP được.
Chúng sinh chỉ cần dùng (HẠNH NIỆM) danh hiệu Ngài là có đầy đủ TÍN NGUYỆN. Khi Niệm tức là đã Tin, cũng tức là đã Nguyện.
Mục tiêu của việc niệm Phật A Di Đà là muốn về Cực Lạc. Trong tâm người tu VÌ VIỆC NÀY MÀ NIỆM, nên không nhất định phải đọc lời phát nguyện trên miệng. Lời phát nguyện đọc trên miệng chỉ là nghi thức và cũng sẽ chỉ là “hình thức” nếu như mình không Tin nhận hoàn toàn sự cứu độ của đức Từ Phụ.
Trong Kinh A Di Đà, đức Bổn Sư 3 lần khuyên phát nguyện, đây cũng là sau khi Ngài đưa ra những yếu tố lợi lạc thù thắng cho chúng sinh hiểu rõ. Nếu sanh tâm ưa thích muốn về thì phải Niệm Phật. Niệm Phật A Di Đà là chứng tỏ trong tâm đã có Nguyện chứ không phải Ngài bảo Phát Nguyện nghĩa dùng miệng đọc lên.
Chỉ những người tu theo mạch tự lực, dùng công phu của mình để hồi hướng về Cực Lạc thì họ mới cần phát nguyện bằng cách đọc lên. Còn đã tu Tha Lực hoàn toàn thì tự động Phật A Di Đà sẽ sắp xếp đón vì Ngài đi tìm chúng ta để “mang về”. Chúng ta niệm danh hiệu Ngài tức là đồng ý để Ngài đón.
7/ Người Tu Tịnh Độ không thể nào THIẾU sự gia trì hộ niệm, bất thoái của chư Phật. Đặc biệt nếu chúng ta tu theo Tha Lực Hoằng Nguyện của Đức Phật A Di Đà, thì Chư Phật Chứng Thành trong Kinh A Di Đà là một Phẩm ĐIỂN HÌNH về điều này.
Người thế gian có câu “Một người làm quan, cả họ được nhờ”
Phật Pháp nói “Người nào chuyên tâm Xưng Niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, sẽ luôn luôn được Mười Phương chư Phật gia trì, hộ niệm, che chở bảo vệ”. Nhưng một điều “Trớ Trêu” là người đó lại không tận dụng triệt để hết những đặc ân tuyệt vời ấy.
Chúng ta không thể nào dùng pháp thế gian để so sánh với pháp xuất thế, nhưng người tu hình như lại tin cái ông làm Quan hơn Tin Phật, vì sao nói thế? Chúng ta tu Pháp Môn Tha lực của đức Phật A Di Đà mà vẫn đi tìm những kỳ vọng và hy vọng ở nơi đây để nương tựa thì đó là Tin người Thế Gian hơn Tin Phật.
Trong Nguyện thứ 17 ở kinh VLT, Tỳ Kheo Pháp Tạng Nguyện rằng: “Khi con thành Phật, vô số chư Phật trong vô lượng cõi ở mười phương thế giới nếu không khen ngợi tên con, nói công đức quốc độ của con, thề không thành Chính giác”.
Đức Phật A Di Đà là Cổ Phật, Ngài thương chúng sinh nên thị hiện bồ tát phát nguyện để cứu độ họ, chứ không phải là bồ tát bình thường phát nguyện. Các bồ tát bình thường muốn tu thành Phật thì từ sơ địa phải tu thêm 3 đại A tăng kỳ kiếp nữa mới thành Phật, các Ngài là tu lợi tha, còn Bồ Tát Pháp Tạng là vì Tất Cả Chúng Sinh 10 phương mà Phát Nguyện.
Ngài hiểu rằng để cứu độ họ một cách hoàn mãn không đơn giản là chỉ 3 đại a tăng kỳ kiếp mà là Vô lượng Kiếp. Vì thế trước khi thực hiện công cuộc này, Ngài đã phải tư duy tận 5 kiếp để nghĩ cách, sau đó mới tiếp tục tu tập trải qua Tải Triệu Vĩnh Kiếp (nghĩa là thời gian tu tập của Ngài không thể dùng con số để tính, thì mới thành Phật A Di Đà).
Điều này cho thấy Ngài vì cứu độ chúng ta mà Tu, lấy sinh mạng của mình, quả vị của mình để chuộc huệ mạng cho tất cả chúng ta. Đây là tâm lượng mà không thể có một vị Phật thứ 2 làm được.
8/ Tại sao thời gian hoạch định của Ngài lại kỹ như thế, và thời gian để Ngài thực thi kế hoạch cũng dài như vậy là để “tích lũy công đức vô lậu đầy đủ, viên mãn trong câu Phật Hiệu cứu độ chúng ta”. Nhưng chúng ta không dùng công đức trong câu Phật Hiệu, mà lại tự dùng các hạnh tu khác để gửi về Cực Lạc thì có phải là thiếu niềm tin với Ngài hay không? Không tin ở đây chính là phỉ báng Phật đấy.
Kinh Địa Tạng có nói “chúng sinh trong cõi Nam Diêm Phù đề khởi tâm động niệm cất bước không chi chắng là tội”.
Ở Kinh A Di Đà ghi “chúng sinh đời mạt trong cõi Ta Ba đủ cả 5 điều ác”.
Hơn nữa cả Kinh VLT và Quán VLT cũng mô tả với hàm ý rằng “chúng sinh ở cõi Ta Bà thời mạt đầy đủ không thiếu một điều vô minh xấu ác nào”.
Nghĩa là nghiệp ác và lỗi lầm của chúng ta đã huân tập trong vô lượng kiếp rồi, nó làm cho mình bị vọng tưởng, phiền não, và 5 độc ăn sâu không thể nào dứt trừ được. Thế nên 1.400 đức Phật trong Kinh Bi Hoa từ chối không cứu. Kinh Địa Tạng nói “đó là những chúng Sinh Cang Cường khó độ” và là đây điều Khó trong Khó mà Đức Bổn Sư trăn trở.
Chúng sinh Vô Minh như thế, Cang Cường như thế, KHÓ ĐỘ như thế nên Phật A Di Đà mới phát THỆ NGUYỆN VĨ ĐẠI này. Ngài hướng đến tất cả khắp 10 phương chúng sinh để cứu họ mà không có giới hạn, không có phân biệt, không có điều kiện. Đặc biệt chúng sinh hạ căn hạ chí, lỗi lầm, vô minh, tạo ác được Ngài ưu ái cứu trước.
Chúng ta nên biết chỉ có công đức VÔ TƯỚNG mới về được Cực Lạc, chúng ta lại không thể dùng tâm chấp tướng để TU. Vì thế muốn thâm nhập được Cảnh Giới Vô Vi đó, chúng ta phải phụ thuộc hoàn toàn 100% vào Công Đức của Phật A Di Đà, chứ cũng không thể nương được vào bất kỳ vị Phật nào khác.
Với lòng Bi Mẫn không thể đo lường của Phật A Di Đà thì năng lực của Ngài vượt qua tất cả các chư Phật là điều đương nhiên không thể bàn luận. Do đó cả 10 phương chư Phật đều chứng thật công đức của Ngài, tán thán Ngài, ca ngợi Ngài, ủng hộ Ngài và Tôn Vinh Ngài là VUA PHẬT.
Chúng ta phải vô cùng vui vẻ, hoan hỉ, sung sướng tin tưởng điều vi diệu thù thắng này mà yên tâm tu tập. Bởi đã NIỆM Phật A Di Đà thì thân tâm an lạc là lý do được Ngài “để ý”.
Mình đã phó thác hết cho Ngài, niềm tin của mình kiên cố ở câu Danh Hiệu là chắc chắn được vãng sanh. Không có bất kỳ công đức nào bằng công đức trong câu Phật Hiệu. Nếu mình tác ý đến bất kỳ điều gì ngoài câu Phật Hiệu đều là tự lực.
Chúng ta còn đoc Kinh, còn trì chú, còn dẹp vọng tưởng phiền não, còn “cố gắng” buông nọ bỏ kia, hay còn quan tâm đến phước thiện để gửi về Cực Lạc… thì tất cả đều là do:
– Chưa hiểu về quá trình đức Phật A Di Đà tu tập trong vô lượng kiếp tích lũy công đức vào trong danh Hiệu để làm gì,
– Chưa hiểu ý nghĩa của câu Nam Mô A Di Đà Phật là gì,
– Chưa hiểu mục đích cứu độ Bình Đẳng vô điều kiện là gì,
– Chưa nhận rõ mục tiêu ưu tiên chúng sinh hạ căn hạ trí,
– Chưa thực hành đúng tiêu chí “chấp trì một lòng không tạp”,
– Chưa xác lập được thế nào là CHÁNH ĐỊNH NGHIỆP XƯNG DANH PHÙ HỢP VỚI BỔN NGUYỆN.
– Chưa thấm nhuần được tại sao lại gọi là BẢN NGUYỆN XƯNG DANH.
Tóm lại nếu chưa vào được Nội Hàm của BỔN NGUYỆN, thì niềm tin chưa tuyệt đối, còn xa ĐÍCH lắm.
9/ Vì chưa phân định rạch ròi ranh giới của Yếu Môn và Hoằng Nguyện, nên mình cho rằng đang tu Tha Lực, nhưng thực chất là PHA. Chỉ cần 1 chút nhỏ xíu của tự lực thì cũng ko phải là nương tựa Tuyệt đối. Sợ nhất là ko nhận ra mình đang (tự kèm tha). Trong 3 Kinh Tịnh Độ đều quy kết rất rõ là chỉ chuyên NIỆM PHẬT, vì thế Tổ Thiện Đạo mới nói “Xưng Danh là chánh định nghiệp PHÙ HỢP Bổn Nguyện”.
Chỉ có Tổ Thiện Đạo mới khẳng định đanh thép rằng Phàm Phu và Thánh Nhân đều được về Báo Độ (tức Thường Tịch Quang)? Vì đều nương vào Một Cách, vì mục đích của Phật là cứu độ Bình Đẳng Vô Điều Kiện (VĐK là chỉ cần Xưng Danh thì mới phù hợp cho 10 phương chúng sinh, mới là bình đẳng).
Và khi Quán Kinh Sớ của Ngài ra đời thì không ai còn nói: Tịnh Độ chỉ dành cho căn cơ Thánh Nhân? Vì mục tiêu của PHẬT là ưu ái căn cơ thấp nhất, nên trong Nguyện 18 và phần Nhân Hạnh Vãng Sanh chỉ yêu cầu duy nhất là Niệm Phật (chữ NIỆM này là dùng miệng để XƯNG). Nghĩa là PHẬT áp dụng từ căn cơ hạ liệt, hạ trí, hạ ngu (đối tượng là trẻ em, người già, người vô trí, súc sinh, người ác ở thời khắc lâm chung mới tin, vì những căn cơ này ngoài xưng danh, thì họ chả biết làm gì).
Y theo lời dạy của Tổ Thiện Đạo là mình phải dụng công từ những hạng này mới thấy Dễ Tu, mới tận dụng được toàn bộ Công Năng của danh hiệu. Tức mình phải trở về MO, mới đúng là tin Căn Cơ-Giáo Pháp.
Hơn nữa, dòng truyền thừa mạch Thuần Chánh bị đứt đoạn, giáo pháp của mạch bị thất lạc tận 1.300 năm, sự kiện này nên hiểu do thời điểm đó căn cơ chúng sinh không thể tiếp nhận, vì thế phải đưa đến nơi nào đã đủ duyên (là do Phật sắp xếp). Đến nay giáo pháp được quay về do căn cơ hiện tại có thể tu (cũng là do chư Phật biết mà gia trì). Nên ai gặp được là một nhân duyên vô cùng hy hữu. Mạch các Tổ không sai, nhưng căn cơ của chúng ta, thời đại của chúng ta không thể áp dụng được.
Tổ Thiện Đạo nói “Bởi Pháp Quá Dễ, Dễ đến mức người ta không thể TIN NỔI”. Nên điều nguy hiểm nhất là nghi ngờ, đại kỵ nhất là xen tạp.
Nhưng chúng ta có biết khi Kinh Pháp diện tận, thì cũng chỉ có duy nhất câu Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật còn lại để cứu độ những chúng sinh cuối cùng hay không?
Danh Hiệu A Di Đà Phật cũng đồng là danh hiệu Chung của tất cả 3 thời 10 phương chư Phật, nên niệm “một Phật A Di Đà” là niệm toàn thể Chư Phật.
Thực chất của việc chư Phật tán thán khen ngợi chứng minh gia trì hộ niệm là cho cả 3 đối tượng.
– Trước hết là vì Thệ Nguyện cứu độ vĩ đại của Đức Phật A Di Đà.
– Thứ hai là Đức Bổn Sư đã làm được 2 việc khó: Thành Phật tại cõi Ta Bà, thuyết kinh Khó Tin.
– Thứ ba Thiện Nam, Thiện Nữ tin tưởng và xưng niệm Danh Hiệu Phật A Di và muốn được về nước của Ngài.
Trong Pháp Môn Tịnh Độ mình phải xác lập được niềm tin ở cả 3 Ngôi đó là
– Tin Phật Thích Ca không nói dối
– Tin Phật Di Đà không nguyện suông
– Tin Chư Phật không nói 2 lời.
Và để quy về niềm tin cuối cùng thì chúng ta NHẤT ĐỊNH CHỈ NIỆM DH PHẬT A Di ĐÀ cầu VS Cực Lạc, là đúng với bổn ý của cả 3 Ngôi trên.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phât. Nam Mô A Di Đà Phật.
Diệu Hậu.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.