Ngũ Nghịch Thập Ác hồi đầu niệm Phật cũng được vãng sanh. Tội phước nhiều hay ít đều chẳng liên quan gì đến chuyện vãng sanh của bạn cả. Chỉ cần bạn từ ngày phát nguyện niệm Phật đến ngày xả bỏ thân mạng này, chuyên Xưng Danh Hiệu đức Phật A Di Đà, không chán bỏ thì dù trước đây có gây tội nghiệp nặng đến đâu di chăng nữa, cũng vẫn chắc chắn được vãng sanh.
Trong Quán Kinh Sớ, Đại Sư Thiện Đạo dạy: “Tất cả phàm phu, chẳng luận tội phước nhiều hay ít, thời gian lâu hay mau, chỉ cần trên thì suốt trăm năm, dưới đến 10 niệm, nhất tâm chuyện niệm danh hiệu Phật A Di Đà, nhất định vãng sanh chẳng chút nghi ngờ.”
Lại trong Pháp Sự Tán, Tổ bảo: “Chẳng bàn tội phước nhiều hay ít. Tâm Tâm niệm Phật chớ sinh nghi. Vô vấn tội phước thời đa thiểu. Tâm Tâm niệm Phật mạc sinh nghi.” Quan điểm thông thường cho rằng người niệm Phật phải tu phước mới có thể vãng sanh, người tạo tội niệm Phật e không thể vãng sanh.” Đây là rơi vào trường hợp luận tội phước, thật vô cùng sai lầm!
Tuệ Tâm 2023.




Cung Kính viết
Nam mô A Di Đà Phật
Theo con đoán âm Hán thì lời dạy của Tổ Thiện Đạo là “Vô vấn tội phước thời đa thiểu. Tâm Tâm niệm Phật mạc sinh nghi”
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật!
Chắc là vậy, để Tuệ Tâm sửa lại nhé. Cảm ơn bạn!
PD. Diệu Hậu viết
“Ngũ Nghịch Thập Ác hồi đầu niệm Phật cũng được vãng sanh”
Nam Mô A Di Đà Phật.
Kính Bạch các Liên Hữu đồng tu.
Đầu tiên phải nói rằng:
“Hạ phẩm hạ sanh mặc dù được coi là thấp nhất, nhưng vẫn là kết quả của lòng yêu thương từ bi vô hạn của Phật A Di Đà. Nó thể hiện sự bình đẳng không phân biệt, không bỏ sót bất kỳ chúng sanh nào, kể cả những chúng sanh có căn lành kém cỏi nhất. Hạ phẩm hạ sanh là một phần quan trọng, thể hiện ý chí kiên định, năng lực vượt trội của Ngài trong việc giúp chúng sanh giác ngộ và giải thoát. Nó khuyến khích mọi người hãy hướng về Tịnh độ và thực hành pháp môn niệm Phật với lòng tin và hy vọng rằng: Niệm Phật Chắc Chắn Vãng Sanh”.
Trong tác phẩm Cứu Độ Vô Điều Kiện của PS Huệ Tịnh đã mô tả rất chi tiết căn cơ hạ phẩm hạ sanh. Ở đó PS muốn chuyển thông điệp cho chúng ta rằng Pháp Môn Niệm Phật theo dòng mạch Thuần Chánh có 4 tính chất về sự đơn giản dễ dàng đó là” thiển dị, dung dị, an dị, giản dị.
Bồ Tát Long Thọ nói Niệm Phật là pháp Dị Hành Đạo. Sự “dễ dàng” này có thể hiểu là: Không cần các phương pháp tu tập phức tạp, không đòi hỏi các hình thức nghi lễ rườm rà. Ai cũng có thể thực hành được, bất kể tuổi tác, trình độ, hoàn cảnh, căn cơ. Tạo sự an tâm, an lạc, và giúp người tu tập có thể thực hành niệm Phật trong bất kỳ hoàn cảnh nào, không cần phải rời bỏ cuộc sống thường nhật.
Pháp môn này tập hợp cả 2 tích chất Thắng – Dị: Thắng là thù thắng, viên mãn. Dị là dễ dàng, đơn giản. Tuy nhiên, chính sự đơn giản dễ dàng này lại là “Niệm Nghi” cho hầu hết số người niệm Phật cầu vãng Sanh Cực Lạc. Họ không thể tin rằng chỉ niệm một câu Danh Hiệu Phật lại có thể mang lại hiệu quả cao như vậy.
Khi tiếp nhận Pháp Mạch Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo chúng ta mới thấy rằng: Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà chính là: “Chỉ Cần Xưng Danh thì Nhất Định Vãng Sanh”.
Vậy chúng ta phải đứng từ đâu để chấp nhận được câu này?
Vì sao Tổ Thiện Đạo lại khuyên chúng ta phải khế nhập từ căn cơ hạ liệt, hạ trí?
Vì sao Ngài lại đề xướng Niềm Tin đúng đắn phải đi từ 2 khía cạnh là căn Cơ và Giáo Pháp?
1/ Điểm xuất phát của Pháp môn Tịnh độ trong Đạo Phật là từ 48 Đại Nguyện của Tỳ kheo Pháp Tạng. Ngài chính là tiền thân của Đức Phật A Di Đà. Về Đức Phật A Di Đà cũng không phải Ngài thành Phật tại Cõi nước Cực Lạc cách đây 10 kiếp, mà từ Vô Lượng Kiếp trong quá khứ lâu xa Ngài đã thành Phật rồi.
Nhưng lòng Bi Mẫn tột cùng khi thấy chúng sinh quá vô minh và khổ đau nên Ngài thị hiện Pháp Tạng để phát 48 Đại Nguyện. Trong đó có Bổn Nguyện thứ 18 và cũng là Bi Nguyện. Ở đó chúng sinh 10 ác 5 nghịch xiển đề phỉ bảng chánh pháp là những chúng sinh căn cơ xấu ác, cang cường đến 10 phương chư Phật cũng không thể cứu. Chỉ có một mình Đức Phật A Di Đà đứng ra bão lãnh và phát nguyện cứu họ.
Vì thế Bi Nguyện này thể hiện cho Tâm Lượng Đại Từ, Đại Bi, Đại Trí, Đại Lực của Đức Phật A Di Đà, nghĩa là Năng Lực, Trí Tuệ và Tâm Lượng của Ngài vượt xa chư Phật và cũng muốn nói rằng đó là (Ý riêng/Biệt Nguyện) của Ngài.
2/ Tổ Thiện Đạo dạy: Chúng sinh phải tự thấy mình là tội nhân ở hàng hạ căn hạ chí để tận dụng được toàn bộ sự ưu ái của Đức Phật A Di Đà (đây cũng thể hiện là chúng sinh đó đã hoàn toàn nương tựa vào Ngài). Tại sao những chúng sinh Thập Ác Ngũ Nghịch Xiển Đề Phỉ Báng Chánh Pháp, căn cơ hạ liệt hạ chí như vậy lại là tiền đề để Tổ Soạn Quán Kinh Sớ?
Chỉ có sự cứu độ những chúng sinh này mới Tôn Vinh Ngài là Vua trong tất cả 10 phương Chư Phật. Và Yếu Chỉ trong Quán Kinh Sớ mới được gọi là Tổng Chỉ của Tông Tịnh Độ. Thẩm thẩu được Nguyện 18, thì việc Chấp Trì Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật với tiêu chí Một Lòng Không Tạp thật sự là không có bước cản, phá vỡ và chặt đứt tất cả mọi pháp khác.
Ở Bổn nguyện 18 này Đức Phật A Di Đà cho chúng ta một cơ hội duy nhất để tương ưng với Tâm Bi Nguyện đó chính là: CHỈ CẦN XƯNG DANH.
Vì sao lại đơn giản như thế: Ngài biết rõ khả năng chúng sinh thời trược ác tại cõi Ta bà là không làm cách nào tự tu mà giải thoát. Do đó chỉ có một cách duy nhất là nương tựa hoàn toàn vào năng lực của Ngài. Dựa bằng cách nào: Xưng Danh Hiệu của Ngài.
3/ Điểm nòng cốt của Pháp môn tịnh độ là tin sâu vào Cơ và Pháp. Nghĩa là chúng sinh phải nhận ra khả năng (không có) của mình để nương và Giáo Pháp (có khả năng) của Phật.
Trước hết, chúng ta phải hủy bỏ tất cả các tác ý tự tu của bản thân (căn cơ), thì mới hướng tâm trí duy nhất về phía Phật A Di Đà (giáo pháp): Niềm tin đúng đắn là ở đây, niềm tin thâm tín là như vậy.
Không có khả năng gì là lúc mình bất lực nhất (vô lực), lúc này phải cần cầu thỉnh sự giúp đỡ của Phật (có lực). Khi ở ranh giới cuối cùng của sự sống và cái chết, ở khoảnh khắc cả thân tâm đang tan rã, ở mức cùng cực của sự tuyệt vọng, thì chúng ta vẫn có Phật Di Đà tiếp nhận. Ngài thấu hiểu chúng ta như vậy, nên Ngài mới nói: “Các Con, đừng tự mình vùng vẫy như thế, mà hãy để trách nhiệm đó cho Ta. Chỉ Cần Xưng Danh Hiệu của Ta, thì nhất định Ta đến Cứu”.
Như ở trên, chúng ta biết rằng Hạ Phẩm Hạ Sanh là hạng căn cơ biểu thị được toàn bộ tâm nguyện cứu độ 10 phương chúng sinh của Phật A Di Đà. Vì từ căn cơ này mới thể hiện đầy đủ hàm nghĩa đích thực của câu “Vô Duyên Đại Từ Đồng Thể Đại Bi” trong Phật Giáo.
Chư Tổ nói: “ải quan trọng nhất của người tu chính là xác lập đúng cửa của Tha Lực tuyệt đối. Bước qua được ngưỡng này thì việc tu tập mới chắc chắn”.
Đại sư Ấn Quang cũng dạy: “nắm chặt một câu Nam Mô A Di Đà Phật suốt đời thì thành Phật có dư”.
Nhưng đây là một Vấn Nạn KHÓ, nếu người tu chưa đủ căn lành trong đời này thì họ sẽ không thể TIN, nên họ đang hành (nửa Tha, nửa Tự) mà vẫn không nhận ra.
Đối với pháp môn Tịnh độ, tính nghiêm trọng của vô minh không phải là ở tham sân si mà là ở sự Nghi Ngờ. Bởi vì chúng ta nghi ngờ sự cứu độ của đức Phật A Di Đà, nên chúng ta mới không chấp nhận được Một Câu Danh Hiệu mà Ngài yêu cầu. Chúng ta chưa thể cảm thọ được thế nào là: Tự Nguyện cứu độ – Bình Đẳng Cứu Độ -Vô điều kiện cứu độ – Một cách Cứu độ…
Tự Nguyện: là Ngài chủ động, chứ không phải chúng ta thỉnh cầu,
Bình đằng: là Ngài không phân biệt căn cơ nào, hoàn cảnh nào,
Vô điều kiện: là không cần chúng sinh phải làm bất cứ yêu cầu gì,
Một cách: là chỉ cần Xưng Danh.
-> Tất cả các tiêu chí này đưa ra là vì Ngài Muốn cứu 10 phương chúng sinh cho nên phải dùng chung một cách. Và chỉ duy nhất cách này thì Ngài mới cứu được chúng sinh khổ não nhất, cùng cực nhất, vô trí nhất và cũng bởi 10 phương chư Phật bất lực nên chỉ với Một Cách này thì Ngài mới đưa hết thảy tất cả chúng sinh ra khỏi biển khổ.
Khi mô tả thực trạng của chúng sinh Thập ác ngũ nghịch xiển đề phỉ báng chánh pháp ở thời khắc Lâm Chung, lúc đó mọi với họ thứ dường như là TUYỆT VỌNG: Sự đau đớn tột cùng về thể xác do các căn đang tan rã trả cho Tứ Đại.
Sự hoảng loạn như tê liệt tâm trí khi muôn cảnh giới vây quanh áp đảo bủa vây. Thế nên “Một Niệm bằng miệng” lúc này chính là HỌ GỌI Quang Minh nhiếp Thủ của Phật Di Đà phóng tới.
Ranh giới mong manh đó thì “Một Niệm” bằng miệng: là mức độ yêu cầu đơn giản nhất, là số lượng xưng niệm ít nhất, là thực hiện ở thời hạn gắn nhất, là phát khởi trong lúc thân tâm bại hoại nhất. Đến đây chúng ta đã thấy BI TÂM, BI NGUYỆN của Phật Di Đà là như thế nào rồi.
Căn cơ hạ phẩm hạ sanh là điểm hy vọng cuối cùng của chúng ta, nhưng không phải mình chờ đến lúc lâm chung mới niệm, nếu nghĩ như vậy là sai rồi. Hiện tại mình đã gặp và Tin Nhận thì phải Niệm Ngay, phải hoàn toàn yên tâm là Xưng Danh Nhất Định Vãng Sanh. Căn cơ xấu ác trí muội như vậy mà vẫn được cứu muốn nói rằng kể cả chúng ta, nếu đã từng có lỗi lầm như vậy thì đừng sợ.
Chúng ta phải biết quay đầu nương vào Thệ nguyện của Đức Phật A Di Đà, vì Nguyện thứ 18 không chỉ là Bổn nguyện mà là còn BI TÂM BI NGUYỆN. Thế nên chỉ có Tổ Thiện Đạo mới chuyển tải đúng thông điệp mà Đức Phật A Di Đà muốn gửi đến chúng ta.
Phần cuối của Kinh A Di Đà, Bổn Sư có nói: “… Ta ở trong đời ác ngũ trược thật hành việc khó này: đặng thành bậc Vô Thượng Chánh Giác và vì tất cả thế gian nói kinh pháp khó tin này, đó là rất khó”
Chúng ra hiểu rằng Pháp đã ứng cơ hợp thời thì Ngài mới thuyết, nên vấn đề trong chúng sinh, ai là người TIN thì người đó sẽ thấy Dễ. Pháp Khó nhưng Bổn Sư đã thuyết nghĩa là KHÓ TIN, chứ không phải KHÓ TU.
Vì khi kết thúc Pháp Hội, các đệ tử đều tin nhận mà không có ai thưa hỏi thêm nữa: “Xá- Lợi- Phất cùng các vị Tỳ kheo, tất cả trong đời: Trời, Người, A- Tu- La, v…v… nghe lời của Đức Phật dạy, đều vui mừng tin nhận đảnh lễ Phật mà lui ra”.
Bạn Tin nghĩa là bạn đã thâm nhập được nội hàm của Bổn Nguyện 18. Bạn hiểu Bổn Nguyện giống như bạn đã NGHE RÕ Phật A Di Đà nói gì. Đây là điểm tựa để bất luận khi gặp trở ngại thử thách nào, cũng không thể làm cho niềm tin của chúng ta chao đảo ngả nghiêng. Điểm tựa này chứng minh bạn có thực sự nương vào Giáo Pháp của Đức Phật A Di Đà hay không.
Bạn Tin rồi thì bạn chỉ niệm duy nhất Danh Hiệu của Ngài thôi nhé, như vậy sẽ chẳng thể có một thế lực hay chướng ngại nào cản được bạn:
Vì bạn ngày đêm được Quang Minh của Ngài Nhiếp Thủ,
Chư Phật vòng trong vòng ngoài che chở bạn,
2 Vị Đại Bồ Tát là Quán Âm, Thế Chí luôn bên cạnh bạn,
25 vị Đại Bồ Tát khác ngày ngày theo sát bạn,
10 phương chư Phật, Bồ Tát, Hộ Pháp đều tháp tùng người Niệm Danh Hiệu Phật A Di Đà…
Viên mãn như thế đấy, nhưng tại sao bạn còn lo lắng chứ? Nếu bạn vẫn cứ chông chờ ở một điều gì khác thì nói thật là không phải 10 phương chư Phật bó tay mà đến cả Đức Phật A Di Đà cũng từ chối bạn đấy.
Chúng ta không tin chính là đang hoài nghi sự cứu độ của Phật A Di Đà, hoài nghi trí Phật. Nghi ngờ sự cứu độ của Phật A Di Đà, là tội lớn nhất trong tất cả các tội.
Do đó cảm thọ được Bổn Nguyện cũng có nghĩa là bạn đã: Tin Phật A Di Đà, nghe lời Phật Thích Ca và hiểu ý 10 phương Chư Phật. Có 3 điều chủ chốt để chúng xác lập được hàm ý của Nguyện 18 đó là:
1/ Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật từ đâu mà có.
2/ Công năng, công đức, lực dụng của Danh Hiệu.
3/ Vì sao dùng Danh Hiệu của Phật A Di Đà thì mới về được Cực Lạc.
Trong Kinh Vô Lượng Thọ nói Tỳ Kheo Pháp Tạng đã lựa chọn từ 210 ức Cõi nước Phật, rồi tìm ra những đặc điểm tốt đẹp nhất, viên mãn nhất, thù thắng nhất để kiến lập nên Cõi Nước Cực Lạc. Và khi thành tựu thì chính là kết quả từ Đại Nguyện, Đại Hạnh, Đại Lực của Ngài.
Đại Nguyện đó là quá trình Ngài trải qua 5 kiếp quán sát, tư duy căn cơ của hết thảy chúng sinh, phát khởi 48 Thệ nguyện, khai mạch Pháp đến từng chúng sinh và tạo mầm bồ đề cho họ, rồi Ngài thiết kế danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật để làm phương pháp cứu độ.
Đại Hạnh là công cuộc tu hành trong vô lượng kiếp, quá trình này Ngài đã thành tựu Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật đầy đủ, viên mãn công đức cứu độ chúng sinh. Công đức này được gói gọn và nén chặt trong câu Phật Hiệu rồi tặng cho chúng sinh, thế nên công đức Vãng sanh mà chúng sinh muốn có là phải xưng niệm Danh Hiệu của Ngài.
Từ Đại Nguyện, Đại Hạnh đó đã tạo nên Đại Lực Vĩ Đại của Ngài là có khả năng nhiếp thọ hết thảy khắp pháp giới chúng sinh. Có khả năng cứu độ cả những chúng sinh mà 10 phương Chư Phật đều không cứu được.
Thế nên mới nói Hạ phẩm hạ sanh là sinh mạng của Phật A Di Đà, là cốt tủy của Bổn Nguyện, là tinh túy của Pháp môn niệm Phật.
Nương vào Nguyện Lực của Phật A-di-đà thì nhất định vãng sanh”.
Đại Nguyện, Đại Hạnh và Đại Lực Vĩ Đại của Ngài chính là SỨC của NGUYỆN THỨ 18:
“Oai thần và quang minh tối tôn đệ nhất chiếu khắp vô lượng vô số vô biên cõi Phật …. Nếu ở tam đồ chịu khổ cùng cực thấy được quang minh này liền được dừng khổ, mạng chung được giải thoát. Chúng sinh nào nghe được oai thần công đức quang minh này ngày đêm khen nói chí tâm không nghỉ, tùy theo ý nguyện được sinh về Cực Lạc”.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam Mô A Di Đà Phật.
Diệu Hậu.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.