Ý nghĩa sáu chữ danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật giúp người niệm nhất định được vãng sanh. Sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật gọi là Vạn Đức Hồng Danh. Kinh Vô Lượng Thọ nói: “Dù đức Phật Thích Ca dùng trí tuệ của Ngài giảng nói, xưng tán cả ngày đêm không ngừng trong suốt 1 đại kiếp cũng tuyên thuyết không hết, tán thán không hết.”
Người xưa nói “Cả Đại Tạng Kinh đều để cước chú sáu chữ hồng danh.” Có thấy ý nghĩa của sáu chữ danh hiệu quá sâu, quá rộng, chẳng thể nói năng, chẳng thể suy nghĩ. Nhưng đối với chúng ta biết rằng” Xưng Danh chắc chắn vãng sanh”, nên niệm Nam mô A Di Đà Phật cũng là đã biết hàm nghĩa chính của câu danh hiệu. Cũng giống như đứa trẻ, chẳng cần biết tình thương của mẹ bao la như thế nào, nó chỉ cần ngả vào lòng mẹ bú sữa là được rồi.
Cho nên sự niệm Phật vãng sanh của chúng ta đều ở trong bản nguyện của đức Phật A Di Đà. Hành trang công đức để vãng sanh đã có đủ ở trong câu danh hiệu. Đây là nguồn cội tột cùng! Công đức vãng sanh không thuộc về phía chúng sanh chúng ta, công phu sâu hay cạn, căn cơ cao hay thấp, công đức nhiều hay ít, đều không bàn ở đây, mà đều hoàn toàn dựa vào công đức bản nguyện của Phật A Di Đà…
Tuệ Tâm 2023.




PD. Diệu Hậu viết
“Ý nghĩa của Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật giúp người niệm nhất định được vãng sanh”.
Vì sao Danh Hiệu của Đức Phật A Di Đà lại có sức mạnh như vậy?
Nam Mô A Di Đà Phật.
Kính Bạch Tuệ Tâm cùng các Liên Hữu đồng tu.
Khi đã học mạch pháp của Tổ Thiện Đạo thì trong tâm chúng ta phải khóa chặt câu này: “Xưng Danh Chắc Chắn Vãng Sanh”, không lập mệnh đề.
Nghĩa là bạn không thể hỏi Đúng/Sai, không thể nói Tin/Nghi, không thể bảo Có/Không mà đó là CHẮC CHẮN, là NHẤT ĐỊNH. Ở mạch này không có cách nào khác là chúng ta phải “khai tâm mình” từ Bổn Nguyện 18. Làm thế nào để cảm thọ Bổn Nguyện này, chúng ta tu học pháp nghĩa ở mạch Thuần Chánh thì sẽ sáng tỏ.
Bởi vì chỉ có Mạch Thuần Chánh theo dòng Tổ Thiện Đạo mới cho chúng ta đầy đủ, chính xác, nghĩa lý về phương pháp tu tập, và ở đó chúng mới nhận được sự chuyển tải đúng hàm ý mà Đức Phật A Di Đà muốn chúng ta làm là gì. Tu học theo mạch này là phù hợp căn cơ của chúng sinh cõi Ta Bà phàm phu thời ngũ trược đầy tội ác.
Chúng ta không phủ nhận lối tu tập của các mạch khác, hay các Tổ Sư khác nhưng nó không phải là khả năng mà chúng ta lĩnh hội và thực hành được.
Có rất nhiều người tu tập Pháp Môn Niệm Phật nhưng không đi theo dòng Tổ Thiện Đạo thì rất khó cảm thọ được sự vi diệu, dễ dàng, đơn giản, mà lại chắc chắn: NHẤT ĐỊNH VÃNG SANH. Vì thế họ cho rằng một câu Phật Hiệu là chưa thể đủ.
Tổ Thiện Đạo cho chúng ta biết: “Nếu đứng trên góc độ Phàm Phu thì một câu Phật Hiệu là không thể đủ. Nhưng đứng ở góc độ của Phật A Di Đà thì một câu Phật Hiệu mới là Viên Mãn”. Ngài chọn Một phương pháp để “Một cách thôi nhưng cứu được Hết Thảy”, Ngài không thể thiết kế nhiều cách cho nhiều đối tượng, nếu như vậy thì Nguyện 18 sẽ không trở thành ĐỘC NHẤT, không thể có chức năng PHỔ ĐỘ KHẮP MỌI CĂN CƠ và Phật A Di Đà không thể gọi là “Phật TRUNG CHI VƯƠNG”
Phật Di Đà đã phải chờ đợi chúng ta tận 10 kiếp rồi: “Đức Phật A Di Đà Thành Phật (Nhẫn Lại) đến nay đã được 10 kiếp”. Và Ngài thị hiện “Tổ Sư” để tận lực khuyên nhủ, giải thích cho chúng ta:
Thế nào là Tha Lực, thế nào là Tự Lực,
Thế nào là Chánh Hạnh, thế nào là Tạp Hạnh,
Thế nào là Niềm Tin đúng đắn, thế nào là niềm tin sai lầm,
Thế nào là Chánh Định Nghiệp Xưng Danh,
Thế nào là Nhất Tâm bất loạn, …
Những liệt kê trên nếu đã học mà chúng ta vẫn chưa thể cảm thọ nổi thì rõ ràng chúng ta phải thấy là Mình đang vướng ở đây: CHƯA TIN.
Rất nhiều người tu Tịnh Độ hướng theo Pháp mạch của bên Thánh Đạo Môn là lối tu vừa tự lực, vừa tha lực nên họ không dám KHẰNG ĐỊNH kết quả Vãng Sanh.
Ở mạch Thuần Chánh chúng ta chỉ (thuần nhất) niệm Phật, (thuần túy) tiếp nhận Pháp thì không thể nào lại không Chắc Chắn. Chữ “thuần” ở đây thể hiện cho “Tâm Chuyên Hạnh Chuyên” và nó chính là “Chuyên trong Chuyên” của cụm từ Nhất Tâm Bất Loạn mà Tổ Thiện Đạo đã giải thích, vậy chúng ta không dùng tâm “thuần nhất” mà niệm thì lấy gì gọi là niềm tin Vững Chắc?
Đã gọi là “thuần túy”, “thuần nhất” thì bạn chỉ có mỗi một việc là “niệm Phật” (xưng danh). Bạn không cần phải dùng các cách để đối trị vọng tưởng phiền não làm gì, cũng không cần phải đối phó với tham sân si. Bạn không phải tìm xem tâm mình tịnh hay tán, không phải chất vấn liệu công phu của mình sâu hay cạn, số lượng niệm nhiều hay ít, mình đầy rẫy lỗi lầm thì Phật có chấp nhận không? Tất cả những vấn đề này không hề ảnh hưởng đến quang minh thiếp thủ của Phật A Di Đà mà chỉ sợ nhất là TÂM bạn không THUẦN NHẤT NIỆM PHẬT.
Chúng ta tu tập muốn vãng sanh về Cực Lạc thì nương theo ai? Nếu cứ bám chặt vào “suy diễn của tâm phàm phu” thì làm sao một đời mà gặp được Phật A Di Đà?
Bạn còn “lang thang” đi tìm xem làm thế nào để niệm cho đúng ý Phật thì nghĩa là câu chuyện đã theo ý của chính bạn đấy. Vì Một Lòng Không Tạp và Nhất Tâm Bất Loạn chỉ có thể là dùng tâm thuần túy, thuần nhất mà niệm Phật A Di Đà thôi.
Tín Nguyện Hạnh mà hầu hết chúng ta đang hành khi vào Đạo là xác lập ở bản thân người tu. Nghĩa là trước tiên người tu phải có niềm tin, sau đó là đến mong muốn, rồi bước cuối cùng mới hành trì, hoặc có thể cả 3 thứ phải duyên vào nhau đề khởi nhưng thực tế là vẫn chạy theo: Tín -> Nguyện ->Hạnh. Đây gọi là Tín Nguyện Hạnh “truyền thống” mang tính chất “tự lực”.
Đối với mạch Tổ Thiện Đạo thì 3 Tư Lương sẽ chạy theo trình tự Tín->Hạnh->Nguyện: Tin nhận Di-đà cứu độ, chuyên xưng Di-đà Phật danh, nguyện sanh Di-đà Tịnh Độ (khi người tu nghe danh hiệu Phật A Di Đà rồi ưa thích và trì niệm thì TÍN HẠNH NGUYỆN đồng thời đã đủ, nghĩa là Nương trực tiếp vào Bổn Nguyện Cứu Độ của Đức Phật Adi Đà)
Nếu nương theo Tín Nguyện Hạnh truyền thống chúng ta rất dễ vướng vào lối tu tự lực. Ở đó sẽ có cái Tôi, có đúng sai, có chấp pháp chấp ngã, thế nên chúng ta có phân biệt có những kiến giải của tâm phàm phu xen vào. Vì để “Tin” chúng ta sẽ chất vấn là mình đã tin chưa, tin thế nào, nguyện ra sao? Còn Ở mạch Thuần Chánh khi chúng ta (Tin nhận Di-đà cứu độ, chuyên xưng Di-đà Phật danh) thì ngay lập tức các mệnh đề trên sẽ đóng băng.
Chúng ta biết rằng quá trình lịch sử Pháp Nạn tại TQ kéo dài trong thời gian hơn 1.000 năm. Sự kiện này khiến cho việc Truyền Thừa dòng mạch Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo bị dán đoạn. Giai đoạn này các Tổ Sư không có tài liệu của mạch Thuần Chánh tham khảo nên tu học của các ngài là y cứ theo giáo lý của pháp môn khác để hành Tịnh Độ. Như vậy chỉ có căn cơ của các ngài mới tu nổi vì đó là lối tu tự lực.
(Tu học theo mạch Thuần Chánh nghĩa là y cứ vào giáo tông Tịnh Độ, quy hạnh Tịnh Độ thì mới là một dòng Thuần Chánh. Nhưng giai đoạn Phật Pháp loạn lạc, tài liệu của mạch Thuần Chánh không còn thì các Ngài sẽ phải nương vào giáo lý của tông phái mình đang theo, do đó pháp mạch không được gọi là Thuần Gốc).
Chúng ta muốn ngay một đời này tu học để giải thoát thì phải lấy Tam Tư Lương của mạch Tổ Thiện Đạo làm nền tảng, vì đó là mạch truyền thừa thuần túy từ giáo pháp của Bổn Sư. Trong rất nhiều chứ tác mà Tổ Thiện Đạo giải thích, Ngài đều chú trọng về hạnh Xưng Danh mà lược bớt đi phần Tín Nguyện, vì sao lại thế: Đối với sự cứu độ của Phật A Di Đà, thì Xưng Danh chính là Tín Nguyện thực tế nhất.
Bản thân Danh Hiệu Nam Mô Di Đà Phật đã đầy đủ: Tín Nguyện Hạnh.
Nam Mô: có nghĩa là Quy Mạng, cũng có nghĩa là Phát Nguyện Hồi Hướng.
-Quy Mạng tức: Tín
-Phát Nguyện Hồi Hướng tức: Nguyện.
-A Di Đà Phật là: Hạnh Phật
->Mình niệm Phật thì Hạnh của Phật chuyển hoá thành Hạnh của mình. Vì nghĩa này nên xưng danh chắc chắn được Vãng Sanh.
Trong Kinh ba La Mật nói rằng: “Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật thành tựu vô lượng vô biên công đức cho nên phải nói rằng: Danh Hiệu Phật tức chứa đựng công đức của hết thảy Phật Pháp, khai thị vô lượng vô biên diệu dụng, hiển thị vô lượng vô biên uy lực, giải ngộ vô lượng tri kiến giải thoát, siêu việt tư duy và mô tả”. Tiếp đó Kinh này cũng khẳng định “Nam Mô và A Di Đà là không thể tách rời”.
Trong Tư Tưởng Tịnh Độ của Tổ Thiện Đạo cho chúng ta cụ thể rằng:
– Bản nguyện của đức Phật A-di-đà lựa chọn xưng danh là dễ dàng nhất để làm nhân hạnh cho chúng sanh được vãng sanh, cũng chính là ‘bản nguyện xưng danh’.
– Vì bản nguyện xưng danh, nên chúng sanh xưng danh liền thuận với bản nguyện của Phật, nương vào nguyện lực của Phật, chắc chắn vãng sanh.
– Bản nguyện xưng danh là ‘trên suốt một đời, dưới cho đến mười niệm hay một niệm’ nhất tâm chuyên xưng.
Nguyên lý căn bản để nhất định vãng sanh là ở đâu?
– Chỉ cần miệng xưng thì được vãng sanh, chẳng có bất cứ yêu cầu nào thuộc tâm niệm ý nghiệp, rất dễ thực hành, bất cứ ai cũng có thể làm được.
– Chỉ cần miệng xưng mà được vãng sanh, đây là duy xưng độc đạt (chỉ cần mỗi việc xưng danh đã đủ để thành tựu).
– Chỉ cần xưng danh mà được thành tựu, tức là hoàn toàn tha lực, chẳng có mảy may tự lực.
– Chỉ riêng danh hiệu vận hành tức là hoàn toàn tha lực, không có một mảy may tự lực. Chỉ nói tín, nguyện, hạnh, quy kết ở hạnh nhất hướng chuyên xưng’.
…vv…
Nếu chọn cách niệm Kinh để tăng thêm hiệu lực về sự gia trì của Chư Phật và để củng cố cho nền tảng của mình, thì tại sao bạn không chọn Niệm Danh Hiệu nhỉ?
Bản thân công đức của danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật mới đủ công năng lực dụng để đưa mình về Cực Lạc thì tại sao lại không xây dựng MÓNG bằng chính câu Phật Hiệu?
Dùng câu Phật Hiệu để gia cố nền tảng chính là cái GỐC vững trắc nhất để mình Chắc Chắn Vãng Sanh, chứ không phải là các hạnh lễ lạy, đọc kinh, trì chú, tán thán cúng dường…
Vì chánh định nghiệp xưng danh mới là bổn nguyện của đức Phật A Di Đà, đã nói đến chánh định nghiệp thì nhất định duy nhất là một thứ tức: Trì Danh.
Kinh A Di Đà đã dạy: Chấp Trì DH Một Lòng Không Tạp thì Lâm Chung Phật A Di Đà cùng thánh chúng hiện thân đến đón.
Đây là kết thúc của một nhân quả. Niệm Phật – Thành Phật.
Nhân Quả là một chu trình Tự Nhiên của vạn pháp.
Nên nhân (niệm Phật) cứ tạo, và Quả (thành Thật) sẽ tự nhiên đến.
Pháp môn Tịnh Độ tu tập ở Hạnh Nhất hướng Xưng Danh, mới thể hiện triệt để hoàn toàn Tha Lực cứu độ của Phật A Di Đà. Và mới đúng tiêu chí của Bổn Nguyện.
Diệu ý này được biểu đạt một cách đặc biệt trong Bổn Nguyện thứ 18 đó là: Chỉ cần xưng thì chắc chắn Vãng Sanh.
Việc Ngài yêu cầu chỉ xưng niệm Danh Hiệu của Ngài không được xưng niệm Danh Hiệu Phật khác và không cần tu thêm các công hạnh khác, không phải là Ngài độc đoán mà Ngài muốn bảo toàn cho chúng ta an ổn trong cả một quá trình tu tập. Vì trên một chuyến xe về Cực Lạc chỉ có duy nhất Ngài cầm lái, nếu mình nhảy xuống sang xe khác thì sẽ không thể tới Cực Lạc được.
Cuối bài con xin một lần nữa nhắc lại: XƯNG DANH NHẤT ĐỊNH VÃNG SANH.
Đây là Slogan (khẩu hiệu) cho những ai Yêu Thích và có Duyên với Tổ Thiện Đạo.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam Mô A Di Đà Phật.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.