Tín Cơ và Tín Pháp vô cùng quan trọng đối với hành giả tu Tịnh Độ. Có thể nói đây chính là cánh cửa đầu tiên để nhập vào Đạo. Nếu không thông suốt được hai vấn đề này, hành giả sẽ không thể nào thâm nhập được Pháp.
Tín Cơ và Tín Pháp nghĩa là tin sâu vào Cơ và Pháp. Cơ nghĩa là căn cơ của chúng sanh, Pháp tức là Pháp của Phật. Cơ Pháp còn có ý nghĩa là Pháp phải phù hợp với căn cơ của chúng sanh và thời tiết nhân duyên. Nếu căn cơ và giáo pháp không phù hợp thì chúng sanh vô phương giải thoát.
Tu học Phật Pháp quan trọng nhất là nhận biết được mình thuộc hạng Căn Cơ nào, để mà tìm giáo pháp phù hợp. Vì thế nên chư Tổ thường dạy: “Pháp không có thấp cao, hợp cơ là pháp diệu”. Theo Tông Tịnh Độ, Cơ là Chúng Sanh, Pháp là đặc điểm chỉ cho giáo pháp của đức Phật A Di Đà…
Tuệ Tâm 2023.




PD. Diệu Hậu viết
CĂN CƠ – GIÁO PHÁP.
Nam Mô A Di Đà Phật!
Kính bạch Tuệ Tâm và các Huynh Đệ đồng tu.
Khi học mạch Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo, Niềm Tin về Căn Cơ của chúng sinh và Giáo Pháp của Đức Phật A Di Đà là quan trọng nhất. Cách khai thị của Tổ Thiện Đạo về niềm tin ở mạch này cũng khác biệt hẳn với quan điểm ở các mạch tu khác. Do đó nếu ai không cảm thọ được ý Tổ thì chắc hẳn sẽ cho rằng mạch này khó tu.
Tổ Thiện Đạo dạy rằng có Niềm Tin đúng đắn, và có Niềm Tin sai lầm. Vậy thế nào là niềm tin đúng đắn, thế nào là niềm tin sai lầm?
-Niềm tin đúng phải đặt trên 2 yếu tố là Tin Cơ và Tin Pháp.
-Niềm tin sai lầm là không nhận ra bản chất của Cơ và Pháp trong việc ứng dụng tu tập.
Tương ưng giữa Cơ và Pháp Tổ có nói: Bất luận là tu học pháp môn nào nếu căn cơ của chúng ta phù hợp với pháp môn đó thì sẽ thành tựu, nếu Cơ và Pháp không rõ ràng thì chẳng thể nhận được lợi ích. Do đó người tu phải Quán Cơ -Trạch Pháp, phải tin sâu vào Cơ và Pháp. Cơ là căn cơ, là khả năng của chúng sinh. Pháp ở đây là chỉ cho sự cứu độ của Đức Phật A Di Đà.
1/Tin vào Căn Cơ là thế nào?
Có 3 điểm mà chúng ta phải nhìn nhận ra được đó là: Căn cơ từ quá khứ, căn cơ ở hiện tại, và căn cơ trong tương lai.
– Từ quá khứ, chúng ta thường bị chìm đắm lưu chuyển trong sanh tử, vì nghiệp lực vẫn tạo thì còn phải luân hồi tiếp.
– Hiện tại vẫn đang hiện diện trong sanh tử. Tội ác là nhân, sanh tử là quả. Ngày nay bị như vậy vì quá khứ vốn không tốt.
– Nghĩ về tương lai thì sao? Cũng chẳng có cơ hội nào để thoát ra!
Xuyên suốt cả 3 thời, bản thân mình đều là một chúng sinh mang đầy tội ác, thế nên tiếp tục vẫn phải trong vòng xoáy sinh tử (nghĩa là chúng ta không chịu quay đầu, quá khứ, hiện tại luôn là phàm phu tội ác, thế nên tương lai cũng ko thể có cơ hội nào thoát ly).
Lúc này mới thực sự nhận thức được khả năng của mình là vô lực – Đây là sự thật. Đối với sự thật này chúng ta phải nhận thức được bản chất của nó.
Vì sao người tu không thể có tâm Xả Ly – Hân Nguyện mạnh vì không nhìn ra điểm này.
Bản chất và thực trạng là như vậy, mình nhìn ra được thì gọi là Tin sâu.
Tổ dạy phải tin sâu vào căn cơ là muốn chúng ta hoàn toàn thất vọng nơi bản thân, đây chính là chỗ tông Tịnh độ hạ thủ. Như vậy khi đã nhìn thấu căn cơ cả 3 thời quá khứ, hiện tại, tương lai là mình không có cách nào để tự giải thoát, thì lúc này Niềm Tin được dồn hoàn toàn vào năng lực cứu độ của Phật A Di Đà. Nghĩa là Niềm Tin vào Pháp sẽ được xác lập chắc chắn.
Do đó Quán Cơ tức NHẬN RA bản thân mình là hàng phàm phu tội chướng sâu nặng, không có cách nào, không có khả năng gì để thoát ly (tin mình vô lực gọi là Tin Cơ)
2/Tin vào Giáo Pháp là thế nào:
– Trước hết phải xác lập Đức Phật, rồi mới đến Pháp.
– Tin vào Phật: là tin nhận sự cứu độ của Đức Phật A Di Đà.
– Tin vào Lời Hứa của Phật: hiện tại Ngài đã thành Phật (lời hứa đó là chắc chắn).
– Tin vào Pháp: là tin 48 nguyện của Ngài, đặc biệt là Nguyện 18 tiếp dẫn vãng sinh.
– Tin vào tác dụng của Nguyện: có công năng nhiếp thọ (cứu độ) chúng sinh.
– Tin vào hàm nghĩa của Bổn Nguyện: Xưng Danh Nhất Định Vãng Sanh.
Khi đã tin vào Phật (Thệ Nguyện của Ngài) rồi thì chúng ta phải thực sự tin tưởng, hoàn toàn yên tâm, không mảy may nghi ngờ. Nhất định tin thì nhất định vãng sanh. Nhất hướng chuyên xưng là nhất định không nghi ngờ không lo lắng.
Vì thế Trạch Pháp là “Hoàn Toàn Lựa Chọn Năng Lực Cứu Độ của Đức Phật A Di Đà”. Tin rằng Bản nguyện của Ngài mới cứu được chúng ta, chỉ duy nhất một mình Ngài (tin Phật “có Lực” gọi là tin Pháp).
3/Tin sai lầm là gì? Tín đúng đắn là sao?
– Tin sai lầm là chúng ta cho rằng phải dẹp phiền não, phải dẹp vọng tưởng tạp niệm, phải có trí tuệ, phải có căn cơ thì mới được VS. Đó là niềm tin sai lầm.
– Niềm tin đúng đắn chính là nhận ra rằng mình không thể có khả năng gì, hoàn toàn phải phụ thuộc vào Phật……
Sở dĩ chúng ta được vãng sanh mấu chốt là từ Bổn Nguyện cứu độ của Đức Phật A Di Đà. Chúng ta phải chắc chắn là bản thân mình không thể làm cách nào để tự tu, nên phải chuyển toàn bộ tâm ý về phía Đức Phật A Di Đà. Phải chắc chắn điều thứ Nhất là mình hoàn toàn không có khả năng gì thì mời dồn toàn bộ tâm nguyện nương hết vào điều thứ Hai là tin vào Phật A Di Đà.
Niềm Tin đúng ở mạch này là phải đặt trên 2 yếu tố (phế bỏ Mình, xác lập Phật) thì mới gọi là TIN PHẬT TRỌN VẸN (nghĩa là chúng ta phải hủy bỏ hoàn toàn các tác ý tự tu của mình để trở thành người không biết gì hết, không hiểu gì hết, không mong cầu gì cả. Khi đó chúng ta sẽ hưởng trọn vẹn sự cứu độ vô điều kiện của Ngài. Đây là sự ưu ái tối đa mà Ngài dành cho hạng chúng sinh Hạ Căn Hạ Trí).
Hai loại tin sâu vào Cơ và Pháp nhằm nói rõ cho chúng ta phải hoàn toàn tin cả vào Cơ và Pháp, không thể thiếu một.
Vì sao mình lại phải tin vào cả Cơ và Pháp? Đây là mấu chốt để chúng ta hiểu rõ ý nghĩa về “Niềm Tin Đúng Đắn” mà Tổ dạy, có 4 điểm như sau:
1/Tin Cơ mà không tin Pháp: Nếu cho rằng bản thân tạo nhiều tội lỗi, nghiệp chướng sâu nặng, trong tâm còn nhiều vọng tưởng phiền não, tu tập còn chưa thanh Tịnh nên không được Phật cứu, đây là tư tưởng tự ti mặc cảm thiếu niềm tin vào Pháp.
(Tổ Thiện Đạo khai thị, người cầu về Cực Lạc phải có tư tưởng là chắc chắn được sanh. Mỗi giây mỗi phút đều phải nghĩ như thế, khẳng định là như vậy (ý nói đã nương vào năng lực của Đức Phật A Di Đà thì Nhất Định được vãng sanh, chứ không phải do chúng sinh gò mình tu tập).
2/Tin Pháp chẳng tin Cơ: Bản thân có tin vào sự cứu độ của Phật A Di Đà nhưng lại không tự nhận thức được mình thuộc loại căn cơ nào. Do đó đã tin Phật A Di Đà thì phải niệm DH Ngài và Nương vào Bổn Nguyện cứu độ của Ngài (tin Cơ và tin Pháp phải thực hành tu tập đồng thời).
3/Không tin Cơ cũng không tin Pháp: Đây là đại trà chúng sinh không tin nhân quả không tin luân hồi thì sẽ triền miên trong khổ đau.
4/Tin Cơ lại tin Pháp: Là tin căn cơ của mình không có khả năng tự tu để giải thoát. Vì thế phải nương nhờ vào năng lực cứu độ của Phật A Di Đà thì mới giải thoát được.
Niềm Tin theo Mạch Tổ Thiện Đạo là xác lập ở đây, phải tin vào cả 2 mục này thì mới gọi là “Niềm Tin Đúng Đắn”.
Tin sâu vào Cơ và Pháp thì tu tập luôn được AN ỔN, CHẮC CHẮN.
Khi học Mạch Tổ Thiện Đạo chúng ta sẽ thấy Vãng Sanh không có gì là khó nếu chúng ta xác định được 2 tiêu chí này:
– Chúng ta là chúng sinh phàm phu sinh tử, sinh ra trong cõi Ta Bà đầy ác trược, do đó TÂM còn vọng tưởng, phiền não, tạo nghiệp là chuyện của nó, vì đó là bản chất của chúng sinh Luân Hồi, không làm cách nào để loài trừ được, nên ĐỪNG SỢ.
– Thệ nguyện cứu độ của Đức Phật A Di Đà sẽ phá tan tất cả những vướng mắc của chúng ta, vì để về CL là công năng của Câu Phật Hiệu, chứ không phải là từ sự tu tập của mình, thế nên ấp ủ hết tất cả vào Ngài. Nên nhớ Bổn Nguyện cứu độ của Ngài là “Hết thảy 10 phương chúng sinh đều được cứu độ một cách: BÌNH ĐẲNG VÔ ĐIỀU KIỆN”.
Trước đây vì chưa hiểu chúng ta sẽ bị dày vò băn khoăn, lo lắng, không yên tâm, công phu luôn phiền não… niềm tin không chắc chắn…
Tổ nói chúng ta vốn là phàm phu thì cứ như vậy mà tu, không phải lo lắng gì cả, không cần để ý đến những phiền muộn, cứ chuyên nhất hướng về câu Phật Hiệu, nương vào câu Phật Hiệu, bám vào câu Phật Hiệu. Vì Danh Hiệu Phật A Di Đà mới là Nhân để vãng sanh còn vọng tưởng cứ mặc kệ nó, không cần đối trị.
– Trên phương diện làm sao cho Tâm được An, thì đã có 10 phương Chư Phật gia trì, hộ niệm bất thối nên không cần lo lắng.
– Trên phương diện tu hành, Đức Phật A Di Đà ngày đêm phóng Quang Minh nhiếp thủ không bỏ, vì thế hiện tại niệm là hiện tại được chắc chắn vãng sanh.
– Do đó tất cả những vấn đề mà mình đang lo lắng kia, nó không thể chướng ngại được. Chúng ta đã có chỗ dựa vững chắc như vậy rồi thì tại sao là không AN?
Tổ khai thị tiếp: bạn đừng quan tâm đến phiền não vọng tưởng, bạn đừng quan tâm đến công phu sâu cạn, bạn đừng quan tâm đến niệm Phật được nhiều hay ít, bạn đừng quan tâm đến tâm đã thanh Tịnh hay chưa… Thậm chí Ngài nói tất cả các pháp Thiện lành, các Kinh Chú, cho đến các Danh Hiệu Phật khác cũng không thể nào so sánh được với Danh Hiệu A Di Đà Phật. Vậy thì tại sao mình lại không Một Lòng mà Niệm Phật?
Bổn nguyện của Phật A Di Đà chỉ yêu cầu mình Xưng Danh của Ngài thì cứ như vậy mà làm, NHƯ THỊ mà y giáo.
Muốn rõ ràng hơn về niềm tin vào Cơ và Pháp, chúng ta phải định hình, tức Tự Lượng và Nhìn Thấu căn cơ của mình là gì:
– Tự lượng căn cơ: Hai loại tin sâu về Cơ và Pháp giúp cho chúng ta kiến lập chính xác đối với tịnh độ. Chúng ta chẳng tự oán, chẳng tự trách, cũng không ngạo mạn tự đắc không mong cầu viển vông, đây là thực tế nhất. Đem căn cơ như vậy của chúng ta mà niệm Phật, tự cam chịu ngu si thật thà niệm, chẳng tự chuốc khổ não, chẳng mơ tưởng quá cao, như vậy là nhìn rõ ràng căn cơ của tự thân.
– Nhìn thấu buông xuống: Nhìn thấu căn cơ của tự thân, buông xuống quan điểm tu tự lực. Bản thân mình là kẻ không có cơ hội xuất ly, nên phải tùy thuận để Phật cứu độ, tâm tự tại như vậy sẽ an ổn để niệm Phật. Chúng ta hoàn toàn hướng về phía Đức Phật A Di Đà, chỉ nhìn về phía Đức Phật A Di Đà, không nhìn về phía chúng ta.
Ngoài niềm tin về căn cơ và giáo pháp thì người tu học phải chốt được các tiêu chí về niềm tin như sau:
1/ Bình Sanh Nghiệp Thành: Ngay hiện tại khi chúng ta niệm DH Nam Mô A Di Đà Phật thì công đức vãng sanh đã được ghi nhận, đến lúc lâm chung là nghiệp vãng sanh hoàn tất nên tự nhiên được Phật A Di Đà và Thánh Chúng tới đón.
2/ Cả Đời Niệm hay khi Lâm Chung chỉ niệm được 1 Niệm cũng đều được cứu.
3/ Hiện tại đã Niệm thì chắn chắn được vãng sanh, nhất định được vãng sanh nên khi lâm chung dù chúng ta có chết ở bất kỳ tình trạng nào, hoàn cảnh nào, cách thức nào đều không hề gì.
4/ Thánh Nhân hay phàm phu được vãng sanh về Báo Độ Cực Lạc.
5/ XƯNG DANH NHẤT ĐỊNH VÃNG SANH.
=>Tất cả những tiêu chí này đều quy kết từ hàm nghĩa trong cụm từ “Cứu Độ Hết Thảy Chúng Sinh Một Cách Bình Đẳng Vô Điều Kiện”. Nếu cảm thọ được Diệu ý này chúng ta rất dễ dàng Thâm Nhập Bổn Nguyện.
Lòng Tin của chúng sinh và Giáo Pháp của Phật Di Đà phải là một thể không hai.
Sự cứu độ của Phật A Di Đà là Nhân để chúng sinh được vãng sinh thế giới Cực lạc.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam Mô A Di Đà Phật.
Diệu Hậu.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.