Đây là điểm cốt lõi thứ 3 trong “Tư Tưởng Tịnh Độ của Đại Sư Thiện Đạo”: Cách phân biệt Thánh Đạo Môn và Tịnh Độ Môn. Điểm phân biệt này vô cùng quan trọng đối với hành giả tu Tịnh Độ.
Người học Phật dựa vào Tự Lực thì ở cõi này đoạn hoặc chứng chân, thành tựu Phật đạo là Thánh Đạo Môn. Nương vào sức Phật, vãng sanh Tịnh Độ, đoạn hoặc chứng chân, thành tựu Phật đạo là Tịnh Độ Môn.
Thánh Đạo Môn là Đạo khó hành, là pháp môn tự lực. Tịnh Độ Môn là đạo dễ hành, là pháp môn dựa vào Bản Nguyện cứu độ của đức Phật A Di Đà. Chúng ta vô thỉ kiếp đến nay, dù hàng ngàn đức Phật đã xuất thế nhưng vẫn trôi lăn trong sanh tử là vì chưa từng phân biệt rõ ràng vấn đề này. Do không phân biệt rõ nên dù niệm Phật cầu vãng sanh nhưng không nương nơi Phật lực, lại chỉ nương nơi Tự lực của chính mình. Kết cục sanh tử thế nào vẫn y nguyên như thế, thật vô cùng đáng tiếc!
Cách để phân biệt được Pháp Sư Tịnh Tông giảng giải vô cùng chi tiết và dễ hiểu..
Tuệ Tâm 2023.




PD. Diệu Hậu viết
THÁNH ĐẠO MÔN VÀ TỊNH ĐỘ MÔN
“Thản nhiên giữa dòng nghiệp: Bản lĩnh của người phó thác”.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật
Kính bạch Tuệ Tâm cùng các Huynh Đệ.
Để hiểu tại sao hành giả có thể “Thản nhiên giữa dòng nghiệp”, chúng ta cần phân định rõ hai con đường:
1/Thánh Đạo Môn: lộ trình tự lực phá mê bằng Giới ĐịnhTuệ tại cõi Ta Bà.
2/ Tịnh Độ Môn: lộ trình dựa hoàn toàn vào bản nguyện của Phật A Di Đà để giải thoát trong một đời.
Bài viết này sẽ làm rõ bản lĩnh của người chọn cánh cửa Tịnh Độ…
Để tiếp nối dòng chảy của “Bộ Tư Tưởng Tịnh Độ”, hôm nay chúng ta trao đổi với một nền tảng quan trọng bậc nhất: Sự phân định giữa Thánh Đạo và Tịnh Độ.
Nếu Thánh Đạo là con đường tự thân lội ngược dòng nghiệp, thì Tịnh Độ chính là bản lĩnh phó thác để thản nhiên đi trên đại nguyện của Đức Từ Phụ.
Trước hết, để thấy rõ sự khác biệt giữa hai cửa Thánh Đạo – Tịnh Độ, chúng ta cần xác lập giáo lý gốc của Đức Bổn Sư và cội nguồn lời Phát Nguyện của Đức Phật A Di Đà. Cốt lõi cho chúng ta trong tu tập đó là:
1/ Giáo lý của Đức Bổn Sư.
Trong 49 năm Thuyết Pháp với 84 ngàn cách, Bổn Sư nhằm khai thị dẫn dẵt phương tiện tùy theo căn cơ của chúng sinh. Đây là lối tu Thánh Đạo dùng GIỚI ĐỊNH TUỆ để Phá Mê.
Lộ trình tu tập không phải chỉ một đời, mà thời gian không thể tính được.
Ngoài 84 ngàn phương tiện này, có một Pháp Cứu Cánh giúp chúng sinh tu tập MỘT ĐỜI GIẢI THOÁT. Đó là Pháp Niệm Danh Hiệu Phật A Di Đà Cầu Vãng Sanh Tây Phương Cực Lạc, nương tựa hoàn toàn vào Tha Lực cứu độ của Ngài.
2/ Đối với Thệ Nguyện Xuất Thế của Đức Phật A Di Đà.
Ngài chỉ có một Mong Muốn Duy Nhất đó là: NGUYỆN ĐỘ SINH.
Với Ngài đã NGUYỆN CỨU là “CỨU HẾT THẢY”. Vì thế Hàm Nghĩa của Nguyện thứ 18 với những điểm Thù Thắng Cứu Độ Viên Mãn ở mọi Tiêu Chí:
– Mục Đích cứu độ: “Mười Phương Chúng Sinh”.
– Mục Tiêu cứu độ: Căn cơ Hạ Liệt Hạ Chí Hạ Ngu (được ưu ái)
– Điểm khởi động: “Trước hết” tức bắt đầu từ căn cơ Hạ Liệt Hạ Chí Hạ Ngu nhất.
– Phương pháp cứu độ: MỘT CÁCH ÁP DỤNG CHO TẤT CẢ.
– Phương châm cứu độ: Chủ Động, Bình Đẳng và Không có Điều Kiện.
– Phương tiện cứu độ: Chúng Sinh chỉ cần Xưng Danh Hiệu của Ngài.
– Thực Thi kế hoạch: Sau quá trình quán sát, tư duy trong 5 kiếp, Ngài đã PHÁT 48 THỆ NGUYỆN và ĐẶC BIỆT NGUYỆN THỨ 18, có sức mạnh LAY CHUYỂN CẢ PHÁP GIỚI.
Để hội tụ những đặt điểm trên thì cách đó phải mang tính chất:
Đơn Giản, Dễ Dàng, Vắn Tắt, Phổ Cập, Thuận Lợi, Chắc Chắn để bất kỳ ai cũng làm được, bất kỳ nơi đâu cũng thực hành được, bất kỳ thời gian nào thời đại nào cũng áp dụng được, mà không bị ràng buộc/phụ thuộc điều gì…
3/ Sự Chứng Thành, tán thán của Mười Phương Chư Phật (Hội đồng Pháp Giới).
– Mười Phương Chư Phật nhận thấy rằng Lời Phát Nguyện thứ 18 là một Sự kiện KINH THIÊN ĐỘNG ĐỊA, không có một vị Phật nào ngoài Phật A Di Đà làm được. Việc này đã tôn vinh Ngài là PHẬT TRUNG CHI VƯƠNG.
– Cũng bởi chỉ có Phật A Di Đà mới làm được, nên khi Bổn Sư trụ thế tại Cõi Ta Bà thuyết giảng Diệu Pháp này, thì Chư Phật Mười Phương một lần nữa “chấn động”, vì đó là Pháp KHÓ NÓI KHÓ TIN mà Bổn Sư lại trao truyền cho hàng chúng sinh chỉ biết tạo Nghiệp Ác.
– Hai Sự Kiện Chấn Động trên là những Minh Chứng Thù Thắng nhất để Chư Phật Mười Phương Đồng khen ngợi, tán thán đức Phật A Di Đà, Đức Bốn Sư và đồng hộ trì, hộ niệm cho những chúng sinh XƯNG DANH HIỆU PHẬT A DI ĐÀ cầu vãng sanh Cực Lạc.
-> Những “Điểm Cốt Lõi Nổi Bật” như vậy, giúp người MỘT LÒNG TIN NHẬN luôn có tâm thế AN NHIÊN. Bởi họ đã tương cảm được “Mình là con ở cùng nhà với Phật A Di Đà”. Khi đã là CON CỦA VUA PHẬT thì bạn nghĩ xem họ có THẢN NHIÊN ĐỐI DIỆN VỚI NGHIỆP LỰC hay không? “Sự Chứng Thành của Mười Phương Chư Phật” là một thông điệp VIÊN MÃN cho thấy chúng sinh tu tập theo đúng BỔN NGUYỆN PHẬT A DI ĐÀ luôn sống trong tự tại.
II- Thản nhiên trong nghiệp là gì?
– Chúng ta phải nắm rõ cội nguồn của trạng thái tâm lý “Thản Nhiên” này không phải do mình có năng lực đặc biệt, hay tu hành đến mức vô ngã, mà chính là nhờ Ơn Phật gia trì, là hiệu quả của một cái Tâm đã Tin Tưởng và Phó Thác Hoàn Toàn. Khi hiểu được lẽ này, cái “Ngã” của phàm phu tự nhiên bị triệt tiêu, chỉ còn lại lòng cảm ân sâu sắc không thể nghĩ bàn.
– Khi chúng ta đã Phó Thác Tuyệt Đối vào Thệ Nguyện cứu độ thứ 18 rồi, thì Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật là dòng máu tuôn chảy trong trái tim ❤️ ta.
Vì sao nói thế? Đây không phải là trạng thái “Nhất Tâm Bất Loạn” của Thiền Định, mà là sự Thấu Hiểu CƠ – PHÁP minh bạch:
1/CƠ: Tổ Thiện Đạo nói: Phàm phu tục tử cõi Ta Bà trược ác giống như một “tượng người bằng đất” từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên đều là đất. Có đập vụn ra cũng vẫn là đất.
Vì thế chuyển đổi từ phàm phu đến thành Phật thì người tu phải “gắn Mình” và Câu Nam Mô A Di Đà từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài, từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, một cách đồng loạt (nghĩa là đổi 100% đất thành 100% Kim Cương).
Việc chuyển đổi hoàn toàn này là do Danh Hiệu đã thẩm thấu trong ta, chứ không phải do ta tự lực tu luyện nhất tâm-> Đây là hàm nghĩa căn cơ của chúng sinh đã xác lập.
2/PHÁP: Trong 3 Kinh Tịnh Độ chỉ nói một việc cốt lõi duy nhất là Niệm Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật mới giúp hành giả về Cực Lạc:
– 48 Thệ Nguyện của Phật A Di Đà là KHO CÔNG ĐỨC CHUNG của Tất Cả Chúng Sinh.
– Thệ Nguyện thứ 18 của Ngài chính là “Chìa Khóa Mở Kho”.
– Danh Hiệu của Ngài là “Cách sử dụng chiếc Chìa Khóa Đó”.
Bản Hoài của Đức Bổn Sư và Bổn Nguyện của Đức Di Đà đều chung một mục tiêu (đưa chúng sinh về Cực Lạc), vì thế lời dạy của Thầy/ Bổn Sư và lời mời gọi về nhà của Cha/ Di Đà chính là Xưng Danh Nam Mô A Di Đà Phât, chứ không phải là thêm cách khác.
-> Đây là hàm nghĩa Pháp của Phật A Di Đà đã xác lập.
III- Cơ Chế, Nguyên lý Nhiếp Thủ của Quang Minh Phật A Di Đà.
1/ Quang Minh của Phật A Di Đà có 2 loại Thân Quang và Tâm Quang.
– Thân Quang là ánh sáng phát ra từ Thân Phật (Pháp Thân) có chức năng phủ khắp không ngăn ngại, không gằn mé.
– Tâm Quang là cảm ứng đạo giao (tương quan phát ra và hòa nhập) giữa Tâm của người niệm Danh Hiệu với Tâm Phật. Vì thế chỉ có người niệm DH của Đức Phật A Di Đà mới tương cảm được sóng Quang Minh này.
– Trong Quán Tứ Thiếp Sớ và Kinh Quán Vô Lượng Thọ cùng nói về Tâm Quang Phật A Di Đà chỉ đi tìm người niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật để nhiếp thủ (giữ lấy không bỏ) chứ không tìm những chúng sinh tu hạnh khác. Giống như nam châm chỉ hút chất sắt, vậy chúng ta còn muốn là nhôm là kẽm là Chì…thì không thể hòa nhập được với Tâm Quang.
2/ Chân lý minh chứng cho sự nhiếp thủ của Tâm Quang.
– Tâm Quang Phật A Di Đà ngày đêm chỉ đi tìm chúng sinh niệm Danh Hiệu Ngài để nhiếp thủ. Điều này minh chứng phù hợp cho khái niệm Bình Sanh Nghiệp Thành. Người tu Hoằng Nguyện luôn an lạc vì Chắc chắn Xưng Danh là được Vãng Sanh.
– Chỉ đi tìm chúng sinh niệm DH Ngài để nhiếp thủ cũng chứng minh rằng Nhất Hướng Chuyên Xưng là nguyên tắc bất biết, bạn không thể tự động thêm gì vào (Ô CHỈ MỘT).
– Không nhiếp thủ chúng sinh tu hạnh khác. Phật A Di Đà không bỏ rơi chúng sinh nào, nhưng nếu bạn không “tuân thủ” Phương pháp: MỘT CÁCH ÁP DỤNG CHO TẤT CẢ, thì bạn không tương cảm được tần sóng tâm quang, vì thế đừng nói là Phật A Di Đà không từ bi cứu người tạp hạnh.
3/ Nguồn Cội Tâm Nguyện Phật A Di Đà.
– Phật A Di Đà từ một vị Cổ Phật, Ngài thị hiện Bồ Tát Phát Tạng để Phát Nguyện cứu độ Mười Phương Chúng Sinh chính là đánh đổi và Sinh Mạng, Quả Vị, Danh Dự của Ngài.
5 kiếp tư duy quán sát là thời gian “nghiên cứu” để đưa ra phương án tối ưu, viên mãn trước khi đi vào thực thi.
Triệu năm Vĩnh Kiếp tu tập của Ngài là chính thức bước vào Công Cuộc tu tập tích lũy công đức (Vô Lậu) vào danh hiệu của mình rồi trao cho chúng sinh.
– Quá trình này cũng chính là Sinh Mạng của Ngài đã hòa quện vào Thệ Nguyện, nên chúng sinh niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật chính là sinh mạng và huệ mạng của bạn đã gắn vào Ngài nên mới nói Cơ Pháp Nhất Thể.
– CƠ là chúng sinh PHÁP là Phật A Di Đà. NHẤT THỂ là cả hai cùng chung một Sinh Mạng. Khi chúng ta nhận ra thực trạng bất lực của bản thân (Tin Cơ) và chấp nhận sự cứu độ vô điều kiện (Tin Pháp), thì ngay lập tức, sinh mạng của ta và sinh mạng của Phật hòa nhập làm một. Đây cũng chính là tương quan 2 chiều “đã khớp với Tâm Quang”. Cảm Ứng Đạo Giao là điểm GUT này.
IV- Các Pháp “Chẳng Luận” trong Tư Tưởng Tổ Thiện Đạo.
1/ Trong Bộ Tư Tưởng Tịnh Độ của Tổ Sư Thiện Đạo, trước phần Pháp “Mười Phương chư Phật chứng thật vãng sanh” là hệ thống 5 bài pháp có hàm nghĩa phá chấp:
– Chẳng lựa căn cơ, xưng danh nhất định vãng sanh.
– Chẳng luận thời tiết, Xưng Danh quyết định vãng sanh.
– Chẳng luận tội phước, Xưng Danh quyết định vãng sanh.
– Chẳng lo vọng niệm, Xưng Danh ắt vãng sanh.
– Chẳng sợ tham sân si, Xưng Danh quyết định vãng sanh.
2/ Tất cả nội dung của 5 phần pháp này đều quy kết cho chúng ta về Ẩn Dụ “Hai dòng sông, và một đạo lộ”. Bởi Tham Sân là 2 tập khí mạnh nhất, sâu nhất, khó chữa nhất nên được Tổ Thiện Đạo mô tả như nhân vật chính (trong Nhị Hà Bạch Đạo).
Thực chất Ẩn Dụ này nói về tổng thể của tất cả tập khí, nghiệp chướng, phiền não vô lượng của chúng sinh. Nghĩa là “đại bệnh” thì chỉ có một phương pháp điều trị duy nhất (thay hết máu mới). Đưa toàn bộ tế bào Nam Mô A Di Đà Phật vào cơ thể bệnh nhân.
Việc thanh lọc máu cho bệnh nhân đã có Viện Trưởng A Di Đà trực tiếp điều hành.
Bệnh Tâm khỏi -> thì mọi lo lắng, tính toán, trù bị, sắp xếp cho cuộc hành trình trở về Cố Hương, đã có Thuyền Nguyện Lực Phật Di Đà chờ sẵn, chúng sinh chỉ niệm danh Hiệu Ngài để đăng ký chỗ ngồi mà thôi.
3/ Tại sao người tu Hoằng Nguyện lại rất Thản Nhiên khi gặp Chướng Duyên?
– Bởi họ đã có quá trình NHẬN RA “Căn Cơ và Giáo Pháp” một cách chân thực. Họ hiểu rằng trong thân phận phàm phu từ cả ba thời Quá Hiện Vị Lai, đều không thể thoát ra là do Tự lực CỐ TU. Sự “CỐ” này cho thấy một thực tế cay đắng rằng “Càng CỐ thì càng ĐUỐI và tất yếu sẽ chìm nghỉm xuống đáy đại dương Sinh Tử mãi mãi”.
– Điểm Nhấn Tỉnh Thức này đã khiến họ phải đổi chiều, xoay hướng:
Phế bỏ mình -> Xác Lập Phật.
Đây là (cú đột phá) để họ nạp An Lạc từ Phật A Di Đà vào Tâm.
– Nghĩa là: Chúng ta vẫn phải sống, vẫn phải đối mặt với nghiệp lực, nhưng tâm thế thản nhiên vì biết chắc rằng mình đang bước trên chiếu cầu Nam Mô A Di Đà Phật vô cùng An Toàn bằng Hệ Thống lớp lớp hàng rào bảo vệ của 10 phương Chư Phật.
V- Mười phương chư phật chứng thành.
1/ Cội nguồn Sự chứng thành của Chư Phật xuất phát từ Nguyện Thứ 17.
– Tỳ kheo Pháp Tạng Pháp lời Nguyện thứ 17 rằng: Khi Ngài Thành Phật 10 phương chư Phật đều Tuyên Dương và giới thiệu Danh Hiệu của Ngài.
– Lời nguyện Viên Mãn cũng hàm nghĩa là Đức Phật A Di Đà phải chịu trách nhiệm Huệ Mạng của tất cả chúng sinh trước 10 Phương Chư Phật, cũng đồng nghĩa là Danh Dự, Sinh Mạng, Quả Vị của Ngài phụ thuộc vào việc Chúng Sinh có được Vãng Sanh hay không.
2/ Dẫn chứng, và Bằng Chứng Quả Vị Chánh Giác đã viên mãn.
– Kinh Vô Lượng Thọ có nói trong phẩm thứ 12:
Tỳ kheo Pháp Tạng đã thành Phật cách đây hơn 10 kiếp tại Cõi Nước Tây Phương Cực Lạc, lấy tên Vô Lượng Thọ, hiệu là A Di Đà.
– Kinh A Di Đà cũng khẳng định:
“Từ đây qua Phương Tây quá mười muôn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc, trong thế giới đó có Đức Phật hiệu là A Di Đà hiện nay đương nói pháp.
– Như vậy căn cứ vào Thệ Nguyện thứ 18 chấn động Pháp Giới của Phật A Di Đà, Chư Phật 10 phương lại thêm một “Bằng Chứng” càng viên mãn thù thắng khi Đức Bổn Sư Vô Vấn Tự Thuyết Kinh A Di Đà, cho chúng sinh cang cường cõi Ta Bà thời Ngũ Ác.
– Một điều thù thắng, hỉ lạc nhất cho người cầu vãng sanh Cực Lạc chính là:
Chư Phật Chứng Thành cũng hàm nghĩa là Các Ngài sẵn sàng Gia Trì, Chăm Sóc, Che Chở những chúng sinh nhất hướng chuyên niệm Danh Hiệu Phật A Di Đà.
VI- Hệ Thống Cứu Độ Quy Mô PHÁP GIỚI.
1/ Công cuộc cứu độ của Phật A Di Đà, cũng nghĩa là Hội Đồng Mười Phương Chư Phật cùng tham gia Hệ Thống Cứu Độ mang quy mô PHÁP GIỚI. Chúng ta cùng thọ nhận Quy Trình sau đây:
– BẢO LÃNH: Ngài Pháp Tạng đã thành Phật A Di Đà, nghĩa là Thệ Nguyện Cứu Độ khi xưa của Ngài cũng hoàn tất rồi, như vậy chúng ta có cơ sở căn cứ (xác lập niềm tin).
– BẢO ĐẢM: Quá trình quán sát tư duy trong 5 kiếp, và tu tập trong triệu tải vĩnh kiếp để tích lũy công đức vô lậu vào Viên Thuốc Danh Hiệu cho chúng ta uống. Vậy Bệnh Vô Minh của chúng ta (đã được đóng gói lại An toàn).
– BẢO VỆ: Quang Minh của Phật A Di Đà, chỉ đi tìm chúng sinh niệm Danh Hiệu của Ngài để nhiếp thủ và bảo vệ không rời bỏ (Nghĩa là chúng ta cứ uống Thuốc A Già Đà thì bệnh gì cũng khỏi)
– BẢO TOÀN: Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật xuyên thấu không gian và thời gian, cũng như không có bất kỳ chướng ngại nào có thế NGĂN được Năng Lực của Danh Hiệu. Kể cả khi Chánh Pháp Tận Diệt thì Danh Hiệu vẫn có hiệu lực để cứu độ những chúng sinh cuối cùng. Vì thế ngay bây giờ chúng tin là ngay lúc này được cứu độ.
– BẢO CHỨNG: Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật là Sinh Mạng của Phật A Di Đà, là Danh Dự của Ngài trước 10 Phương Chư Phật, là Quả Vị Chánh Đẳng Chánh Giác của Ngài.
=>Chúng sinh niệm danh hiệu Ngài chính là một Tế Bào trong Cơ Thể Phật đã nảy sinh.
Pháp Giới Tàng Thân A Di Đà Phật cũng chính là CƠ – PHÁP CHUNG MỘT THẾ (nhất thể). Như vậy chúng sinh niệm Phật thì tâm chúng sinh đã hòa với tâm Phật nên đây là một căn cứ (BẢO CHỨNG) -> Bình Sanh Nghiệp Đã Thành.
Ghi chú:
Hệ Thống 5 LỚP BẢO là cách cá nhân hệ thống hóa và tự đặt tên cho dễ hiểu (bản chất Hệ thống này tương ứng với “Tam bất thoái” và “Nhiếp thủ bất xả” trong Kinh Vô Lượng Thọ).
2/Sáu (Mười) Phương Chư Phật Trong Kinh A Di Đà đồng chứng minh.
– “Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.
– “Vì nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này mà thọ trì đó, và nghe danh hiệu của Đức Phật, thời những thiện nam tử cùng thiện nữ nhơn ấy đều được tất cả các đức Phật hộ niệm, đều được không thối chuyển nơi đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác”
VII- Sự khác nhau về 2 lối tu: TỰ – THA
1/ Đối với lối tu (Tự Lực)
a/ Người tu Tự Lực không thể có được hệ thống “5 Bảo” như trên, vì điều cốt lõi nhất là họ:
– KHÔNG thâm nhập đến tận cùng của BỔN NGUYỆN.
– KHÔNG thực hành Chánh Định Nghiệp Xưng Danh.
– KHÔNG cảm nhận được HOẰNG NGUYỆN là gì.
– KHÔNG hiểu rằng Công Đức Về Cực Lạc phải là công đức Vô Lậu, nên họ dùng tâm chấp tướng của phàm phu để làm tư lương vãng sanh
=> Đây là Mấu Chốt khiến họ không phá được NIỆM CHẤP.
b/ Tại sao người tu TỰ LỰC lại không có được “trạng thái An Lạc Thực Thụ”?
– Người tu mạch Tự Lực dùng công phu của mình để đè vọng, dùng các tạp hạnh để tăng công đức. Phật Hiệu họ niệm cần phải thanh tịnh, số lượng niệm xác lập ở nhiều ít, sâu cạn để đo lường chứ họ không dùng công đức Phật ban cho làm hành trang.
– Nếu họ có được trạng thái An Lạc thì sự mãn nguyện đó chỉ được một thời gian ngắn, khi nghiệp ác tấn công họ lại không trụ được.
– Cái An của người dùng công phu đè nén/cố gắng, thì chỉ có thể gọi là “Khoảnh khắc lắng tâm”, bởi đó là cảm giác Yên trên ngọn.
– Bởi vì khi đứng dưới dòng sông “Tham Sân” để nhìn lên, ta sẽ không tin có một chiếc cầu (Danh Hiệu) vững chãi như thế. Nhưng lúc bước đi trên cầu (Tin nhận Danh Hiệu), thì sự vững chãi này là chân thật.
2/ Tại sao người tu THA LỰC lại Vững Chãi đi trên Cầu Danh Hiệu?
– Hai Dòng Sông Tham Sân và một Đạo Lộ màu trắng (Nhị Hà Bạch Đạo) không phải chỉ nói riêng cho 2 tập khí Tham Sân, mà đó là mô tả cho vô lượng tập khí phiền não của chúng sinh cũng phải giải quyết bằng Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, thì chúng ta mới về Cực Lạc ngay trong Hiện Tại (hàm ý Một đời giải thoát).
– “Nhị Hà Bạch Đạo” cho thấy Nghiệp lực của chúng ta dẫu lớn đến đâu, nó vẫn luôn nằm bên dưới chiếc cầu Nam Mô A Di Đà Phật. Khi ta niệm Phật A Di Đà, nương tựa vào Thệ Nguyện của Ngài, nghĩa là ta đang đứng vững trên cầu, còn dòng sông tham sân, hay tội lỗi, nghiệp chướng và phiền não chỉ có thể cuộn chảy phía bên dưới mà thôi.
Nên an lạc này là “Tâm Viên Mãn”.
– Dòng sông lửa (Sân) và dòng sông nước (Tham) tuy hung dữ, nhưng con đường trắng (Danh hiệu) vẫn trải dài ở giữa bởi nó được 2 Đấng Thế Tôn Bảo Lãnh ở hai đầu.
3/ Sự khác nhau giữa An Lạc Tự Lực và An Lạc Tha Lực.
– An lạc Tự lực: Giống như ánh sáng của ngọn nến trước gió, chỉ cần một cơn gió nghiệp (bệnh tật, mất mát, cận tử nghiệp) thổi qua là tắt ngấm.
– An lạc Tha lực: Giống như ánh sáng mặt trời (Vô Lượng Quang). Dù mây mù (tham sân) có che phủ, mặt trời vẫn ở đó. Người tu Hoằng Nguyện an lạc vì họ nương vào mặt trời, không nương vào ngọn nến của chính mình.
4/ Ranh Giới giữa Tha Lực nói chung và Tha Lực Tuyệt Đối.
Chúng ta nên biết Ranh Giới giữa Tha Lực nói chung và Tha Lực Tuyệt Đối là một Quan Ải GAY NHẤT của người tu tập pháp môn niệm Phật A Di Đà cầu Vãng Sanh Cực Lạc.
Điểm GUT (giao thoa) này là một CƠ CHẾ SÀNG LỌC NGHIÊM NGẶT để Loại Ra chúng sinh nào còn “Đong đếm niềm tin nơi PHẬT A DI ĐÀ”.
Do đó nếu ta “cố gắng” để mưu cầu An Lạc, thì đối lập với cái an lạc “tự nhiên” khi ta thực sự nương Tha Lực Phật hoàn toàn.
Trạng Thái An của người nương tha lực hoàn toàn không phải xảy ra trong khoảnh khắc, hay một thời gian hạn định, mà cho đến lúc Lâm Chung. Đây mới là tâm đã phó thác tuyệt đối.
VIII/ Sự đối lập của: Cái KHÔNG nơi Ta và CÓ nơi Phật là gì?
– Cái Ta có: Tham, sân, si, nghiệp chướng đồ sộ (đống bùn).
– Cái Phật có: Công đức vô lượng, danh hiệu vạn đức (Viên Kim Cương).
Sự chuyển hóa:
Khi ta “liều mình phó thác”, không phải Phật xóa sạch nghiệp chướng (đống bùn) của ta ngay lập tức để ta có (kim cương) thành Thánh, mà là Ngài trải tấm thảm Đại Nguyện đè lên trên đống bùn đó. Ta đi trên Cầu (Danh hiệu) nên chân không chạm tới Sông Lửa Nước (Nghiệp). Đây chính là ý nghĩa của việc “Hiện Sanh Bất Thoái/Bình Sanh Nghiệp trọn” trong tinh thần Hoằng Nguyện.
Vì thế “Liều mình giao phó” chính là điểm chạm cao nhất của Tín tâm. Tại sao gọi là “liều”?
Vì về mặt ý thức, phàm phu luôn muốn nắm giữ cái gì đó của mình cho an tâm.
Buông cái “tôi” ra để “rơi tự do” vào Nguyện lực là một việc cực khó đối với người nặng lòng tự lực. Nhưng khi đã phó thác hết để rơi tự do thì ta mới thấy mình “đang hạ cánh vào tấm thảm đại nguyện”. Cái LIỀU của phàm phu lại chính là sự “khôn ngoan’ tuyệt đỉnh của người biết nương tựa vào Phật Lực.
KẾT LUẬN: Thưa các Huynh, chúng ta không tu hành trong sợ hãi, vì chúng ta đã tham gia vào một CHUỖI HỆ THỐNG AN TOÀN “5 lớp” do chính Đức Từ Phụ Thiết Kế. Từ lúc bắt đầu được Bảo lãnh, chúng ta được Bảo đảm khỏi chướng nạn, được Bảo vệ bằng sữa pháp, được Bảo toàn tâm hạnh và cuối cùng là được Bảo chứng tấm vé về thẳng Cực Lạc. Đây là một quy trình khép kín, không có chỗ cho sai sót hay hư dối.
Chúng ta không chọn làm lơ với nghiệp, chúng ta chọn tin tưởng tuyệt đối vào Đấng Bảo Lãnh. Niệm Phật không phải để đổi lấy sự thanh tịnh, mà niệm Phật vì biết mình đã được cứu độ ngay trong lúc còn đầy bất tịnh. Tâm Thế chúng ta là Tâm thế của người đã có sẵn tên trong Danh Bạ Cực Lạc, chứ không phải khi lâm chung mới xếp hàng đăng ký.
Điều này hoàn toàn phù hợp với tâm thế “Thản nhiên giữa dòng nghiệp: Bản lĩnh của người phó thác”.
Bạn chọn Thánh Đạo hay Tịnh Độ thì đó là tùy bạn. Nhưng để giải thoát NGAY MỘT ĐỜI thì bài này chính là LỰA CHỌN CỦA TÔI.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
Diệu Hậu.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.