Cách phân biệt Yếu Môn và Hoằng Nguyện Môn của pháp môn niệm Phật cốt lõi ở điểm: Yếu Môn lấy vạn hạnh công đức hồi hướng cầu vãng sanh. Hoằng Nguyện Môn chuyên xưng danh hiệu đức Phật A Di Đà, chuyên nương vào Nguyện lực của Ngài để vãng sanh về Tịnh Độ Cực Lạc, đây gọi là Hoằng Nguyện.
Mục đích của Đại Sư Thiện Đạo khi phân định Yếu Môn và Hoằng Nguyện Môn là để hướng hành giả chuyên tu Hoằng Nguyện mà phế bỏ Yếu Nguyện, chọn dễ bỏ khó, nương nơi nguyện lực của Phật mà ra khỏi sanh tử luân hồi. Đây cũng chính là yếu chỉ của Tông Tịnh Độ mà chư Tổ sư muốn truyền lại cho chúng ta.
Tuệ Tâm 2023.




PD. Diệu Hậu viết
YẾU MÔN – HOẰNG NGUYỆN.
“Khi hiểu và phân biệt được 2 khái niệm Yếu Môn, Hoằng Nguyện trong pháp Tịnh Độ, bạn tu tập theo Hoằng Nguyện là bạn đã tiến được vào nội hàm của Bổn Nguyện 18 rồi đấy”.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Kính bạch Tuệ Tâm và các Liên Hữu đồng tu.
Học Phật phải có Trí Tuệ – câu nói này không sai, nhưng chúng ta sẽ chọn cách là trở thành người “vô trí vô lực” để đón nhận tất cả tấm lòng bao dung từ bi của Đức Phật A Di Đà.
Vì sao thế?
Trước hết chúng ta nhắc đến Căn Cơ Hạ Phẩm Hạ Sanh, là hàng chúng sinh được Đức Từ Phụ “ƯU TIÊN CỨU TRƯỚC” để làm rõ ý nghĩa của Yếu Môn và Hoằng Nguyện là gì.
Chúng ta muốn ngay một đời tu tập để thoát ly sinh tử, thì chỉ có thể đi trên con đường dễ nhất, nhanh nhất, ngắn nhất, an toàn nhất và được đảm bảo chắc chắn tới đích.
Con đường này ở đâu? Từ ĐẠI NGUYỆN, Đại Hạnh, Đại Lực của Đức Phật A Di Đà, vì ở đó mới đầy đủ công năng đưa mình tới Cực Lạc. Lực dụng ấy đã có sẵn trong NAM MÔ A ĐI ĐÀ PHẬT – Đây là cách mà chúng ta chọn.
Khế nhập ở hạng căn cơ hạ liệt hạ trí, thì “Bạn” còn gì để thể hiện BẢN NGÃ?
“Bạn” lấy gì để chấp vào kiến giải của tâm phàm phu?
Bạn là một chúng sinh hạ căn đến mức không hiểu gì cả, không biết gì hết, thậm chí cũng không còn đòi hỏi gì nữa (nói vậy không có nghĩa là bảo bạn vứt bỏ mọi thứ đã có, buông xuống mọi việc đang làm, hoặc lo nghĩ tính toán chuyện này chuyện kia, mà muốn nói rằng tất cả đều không ảnh hưởng đến thệ nguyện cứu độ của Phật A Di Đà, vì Ngài Tự Nguyện cứu chúng ta một cách Bình Đẳng Vô Điều Kiện).
Khi bạn “vô lực, vô trí, vô dụng” là lúc bạn dồn toàn bộ Hy Vọng vào Thệ Nguyện của Đức Phật A Di Đà, bạn niệm Phật sẽ rất nhàn, tâm thái không phải gồng lên để đối trị vọng tưởng, tâm lý cũng không còn phải đối phó với tham sân si. Thiên hạ hơn mình mặc kệ, mình thua kém họ cũng chẳng xi nhê gì, cái Ta và của Ta đã mất tiêu… Đây là cơ hội bạn nạp “Nam Mô A Di Đà Phật” hữu hiệu.
Nếu bạn tu theo tự lực của Thánh Đạo Môn mà muốn loại trừ Bản Ngã của mình thì gian nan đấy (đó là con đường Nan Hành Đạo).
Chúng ta tu tập theo Pháp Mạch Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo vừa dễ tu, vừa chắc chắc lại được cam kết, bão lãnh suốt cả lộ trình. Đến đích Đức Phật A Di Đà sẵn sàng nghinh đón (đó là lối đi Dị Hành Đạo).
Bạn đừng cố gắng làm thế nào để tu cho GIỎI. Chỉ có cách tu của người tự lực (căn cơ thánh nhân) mới chọn con đường GIỚI ĐỊNH TUỆ, và đó không phải là phương án lựa chọn của (căn cơ hạ ngu mê muội) như chúng ta.
Chúng ta là chúng sinh Phàm Phu Tội Ác, Hạ Căn Hạ Trí, lại sinh ra trong đời Ngũ Trược ở Cõi Ta Bà, thì nhất định không thể nào là căn cơ Thánh Nhân. Bạn phải nhận ra chỗ này, đó là điểm MỞ để bạn nương tựa Thệ Nguyện của Phật A Di Đà và là “bí kíp” để chúng ta chỉ Một Lòng thâm nhập Danh Hiệu Ngài.
Trong 84 ngàn pháp môn mà Phật Thích Ca thuyết đều nhằm mục đích phương tiện khai thị dẫn dắt người tu. Ở phương diện tu tập này, người hành pháp Tam Vô Lậu Học theo cách tự lực (tức dựa vào khả năng bên trong của bản thân) nên gọi là Thánh Đạo Môn.
Ngoài 84 pháp đó ra thì có một con đường tu tập là người tu dựa vào tha lực cứu độ của Đức Phật A Di Đà (sức mạnh từ bên ngoài), sẽ giúp người tu thành tựu mục tiêu Vãng Sanh Cực Lạc gọi là Tịnh Độ Môn.
Trong pháp môn Tịnh Độ lại có 2 hướng tu tập khác nhau liên quan đến cách thức vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Tới đây đã mở cho chúng ta 2 con đường, lối nào tới đích nhanh nhất thì chúng ta phải xác lập để đi cho đúng mục tiêu. Đó là Yếu Môn và Hoằng Nguyện:
YẾU MÔN: Là Pháp môn tu hành dựa vào sự nỗ lực, cố gắng của bản thân người tu. Họ phải tự mình thực hiện các hành vi như: tu tập thiền định, phước thiện, trì tụng kinh chú, niệm Phật, thực hành các hạnh Ba La Mật… (tức tu Định Thiện kèm Tán Thiện) để tích lũy công đức, hồi hướng cầu vãng sanh. Đây là Pháp phương tiện Đức Thích Ca (vì chúng sinh hỏi mà thuyết), và đó là cách dẫn dắt tùy theo khả năng của họ. Đi theo cách này thì rất khó để một đời thành tựu vì họ sẽ không đạt tiêu chuẩn: Chuyên Nhất, Thuần Nhất, Một Lòng.
HOẰNG NGUYỆN: Là nương tựa hoàn toàn vào Thệ Nguyện Cứu Độ của Phật A Di Đà. Bổn Nguyện của Ngài được nêu trong kinh A Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ, đặc biệt là Bổn Nguyện thứ 18. Ở Pháp tu này Đức Bổn Sư đã (chủ động MỞ Nguyện lực của Phật A Di Đà) và khuyên chúng sinh “Tin Tưởng” vào Thệ Nguyện cứu độ của Phật A Di Đà bằng cách: “Chuyên Tâm, Thuần Nhất, Một Lòng chỉ niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật là chắc chắn được vãng sanh về cõi Cực Lạc”.
Đây là sức mạnh bên ngoài, là sự gia hộ của Phật A Di Đà. Lối tu tập này giúp chúng sinh một đời được giải thoát.
=>Mục tiêu của Bổn Sư là đưa chúng sinh đi từ Yếu Môn tiến vào Hoằng Nguyện. Còn mục đích của Đức Từ Phụ là từ Hoằng Nguyện, Ngài sẽ nhiếp thủ chúng sinh về Cực Lạc. Nói cách khác, Bổn Sư là người mở đường, còn Đức Từ Phụ là người đưa chúng ta đến đích. Sự phối hợp của Bổn Sư và Đức Từ Phụ thông qua Nguyện 18, giúp chúng ta từ cõi Ta bà, qua cõi Tịnh Độ Cực Lạc, đạt được sự giải thoát cuối cùng.
Khi chúng ta hiểu được YẾU MÔN: là tự lực, dựa vào sức mình để tu hành. Và HOẰNG NGUYỆN: là tha lực, dựa vào sức mạnh của Phật A Di Đà để được cứu độ, thì chúng ta sẽ quyết định cho mình phương pháp tu tập tối ưu nhất. Đó là sựa lựa chọn TRÍ TUỆ.
Đến đây thì “Bạn” đã định nghĩa được “Học Phật phải có Trí Tuệ” là gì chưa?
Với Tôi chỉ một câu thôi: Phế “YẾU MÔN” – Lập “HOẰNG NGUYỆN“.
Mục đích của Đại Sư Thiện Đạo khi phân định Yếu Môn và Hoằng Nguyện Môn là để hướng hành giả chuyên tu Hoằng Nguyện mà phế bỏ Yếu Nguyện, chọn dễ bỏ khó, nương nơi nguyện lực của Phật mà ra khỏi sanh tử luân hồi. Đây cũng chính là yếu chỉ của Tông Tịnh Độ mà chư Tổ sư muốn truyền lại cho chúng ta”.
Để xác định tu tập theo HOẰNG NGUYỆN MÔN, hành giả không thể nào bỏ qua căn cơ Hạ Phẩm Hạ Sanh. Chư Tổ nói hạ phẩm hạ sanh là mô tả tận cùng Tâm Nguyện của Phật A Di Đà và là cốt lõi của Phật Pháp.
Chỉ khi học Giáo Nghĩa ở mạch Thuần Chánh này, chúng ta mới rõ thế nào là Yếu Môn Và Hoằng Nguyện. Chúng ta tu tập muốn thấu triệt sâu vào Nguyện 18 thì phải thông qua pháp mạch của Tổ Thiện Đạo. Bởi Hạ Phẩm Hạ Sanh là linh hồn của Nguyện 18, là sinh mạng của Phật A Di Đà, là lý do Tổ Thiện Đạo thị hiện ở Cõi này. Và cũng là tiền đề để Tổ soạn Quán Kinh tứ thiếp sớ.
Bổn Nguyện 18, Kinh A Di Đà và Hạ Phẩm Hạ Sanh có mối quan hệ chặt chẽ, vì thế chúng ta muốn thực hành “Một Lòng Không Tạp” của Kinh A Di Đà, hay “Chí Tâm Tin Ưa” trong Nguyện 18 thì không thể không thâm nhập Mục Tiêu Hạ Phẩm Hạ Sanh mà Đức Phật A Di Đà đã ưu ái nhắm tới. Khi thấu hiểu căn cơ Hạ Phẩm Hạ Sanh sẽ giúp chúng ta rõ hơn về con đường vãng sinh và thực hành “Một Lòng Không Tạp và Chí Tâm Tin Ưa” ở phương diện sâu sắc nhất. Cũng từ đó chúng ta dừng lại cách tu tập YẾU MÔN, để mở lối đi vào HOẰNG NGUYỆN.
(Tổ Thiện Đạo giải thích Chí Tâm Tin Ưa chính là Nương Tựa Hoàn Toàn. Khi bạn đã Một Lòng Nương Tựa vào Tôi tức là bạn đã Hoàn Toàn Tin Nhận ở Tôi, nghĩa là bạn không còn Tạp Tưởng đến những điều khác nữa)
Đến đây có thể tóm lược để chúng ta hình dung như sau. Tổ Thiện Đạo phân tích cho chúng ta có 2 tầng dẫn dắt.
– Tầng dẫn dắt thứ nhất: Từ Thánh Đạo Môn tu Giới Định Tuệ là không phù hợp với căn cơ thời ngũ ác, do đó phải đi vào Tịnh Độ vì Pháp Môn này phổ độ khắp mọi căn cơ.
– Tầng dẫn dắt thứ hai: Đã vào Tịnh Độ thì từ Yếu Môn là cách tu vẫn còn xu hướng của tư lực, phải tiến vào Hoằng Nguyện để nương tựa hoàn toàn vào năng lực của Đức Phật A Di Đà, thì chúng ra mới có kết quả Vãng Sanh chắc chắn.
Đáng tiếc là hầu hết người tu đều cho rằng Hạ Phẩm Hạ Sanh không đáng chú ý vì mình không mắc những tội đó. Nhưng để xác lập thế nào là “Thập Ác, Ngũ Nghịch, Xiển Đề”, chúng ta không thể căn cứ vào hiện tại đời này. Vì trong vô lượng kiếp quá khứ tất cả chúng ta đều đã phạm liên tục các lỗi đó, nếu không như vậy làm sao còn đắm trong luân hồi?
Cho nên muốn hiểu sâu nơi bản thân mình và muốn cảm thọ rõ hơn ý Tổ Thiện Đạo, chúng ta phải khế nhập từ căn cơ Hạ Phẩm Hạ Sanh, để từ đó mình cũng cảm thọ được vì sao mà Đức Bổn Sư lại dùng YẾU MÔN là (phương tiện) đưa chúng ta tiến vào HOẰNG NGUYỆN của Phật A Di Đà. Trong tư tưởng Tịnh Độ của Tổ, chúng ta đều đã biết Ngài khuyên chúng sinh phải đặt niềm tin trên 2 phương diện (trong đó trước hết là phế bỏ hoàn toàn khả năng tự tu của bản thân).
Khế nhập từ căn cơ hạ phẩm hạ sanh người tu sẽ tạo cho mình niềm hy vọng lớn nhất từ thệ nguyện cứu độ của Phật A Di Đà. Ở đây Ngài thể hiện tâm lượng từ bi yêu thương và sự thấu hiểu chúng sinh đến mức tận cùng. Ngài biết rằng tâm lý chúng sinh khi tuyệt vọng là lúc họ phó mặc, buông xuôi. Vì thế đó chính là cơ hội mở đường cho họ hướng về Ngài một cách chân thực nhất. Nghĩa là Ngài vẫn luôn đón chúng ta ở cuối con đường chông gai, nguy hiểm, tối tăm nhất và trao cho họ niềm hy tuyệt đối.
Lúc này thì Bạn đã thấu hiểu thế nào là HOẰNG NGUYỆN của Ngài rồi đấy.
Chỉ có lòng Thương Yêu chúng sinh bằng Tâm Lượng Đại Trí, Đại Huệ, Đại Từ, Đại Bi vô lượng, không gằn mé, không bến bờ thì vẫn không thể diễn tả hết được.
Chỉ có Đức Phật A Di Đà mới thực hiện được Biệt Ý (nguyện riêng biệt).
Vậy không nương vào Ngài thì Bạn có mong ngóng từ AI?
Tu tập theo YẾU MÔN thì có thể trong “Tương Lai” bạn mới đến Tịnh Độ, còn HOẰNG NGUYỆN là “Một Đời: NHẤT ĐỊNH/CHẮC CHẮN ĐƯỢC VÃNG SANH”.
YẾU MÔN chỉ Lợi Căn, Thiện Duyên mới tu được mà thành tựu vãng sanh lại không khả thi. HOẰNG NGUYỆN thì phù hợp với mọi căn cơ Thiện Ác Trí Ngu, kết quả Vãng Sanh là vô cùng chắc chắn. Sự khác biệt này nằm ở việc chúng sinh dựa vào tự lực hay tha lực.
Yếu Môn chủ yếu dựa vào tự lực tu hành, trong khi Hoằng Nguyện lại tuyệt đối nương vào tha lực của Phật A Di Đà.
Chư Phật giáo hóa chúng sinh cũng phải tùy thuộc vào “KHẢ NĂNG TIẾP NHẬN CỦA HỌ”, vì khi chưa đầy đủ “Nhân Duyên” thì vẫn phải DẪN HỌ đi từ các “Phương Tiện đó”.
Bạn thấy đấy, nếu Bạn Một Lòng tin rằng: “Chỉ Cần Xưng Danh, thì Nhất Định Vãng Sanh”,
là Bạn đang tiến vào HOẰNG NGUYỆN một cách Vững Chắc.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam Mô A Di Đà Phật.
Diệu Hậu.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.