*
“Cách phân biệt Tự Lực và Tha Lực niệm Phật nằm ở chỗ bạn có nương vào Phật lực hay chỉ nương nơi sức của mình. Nếu chỉ tin chắc không nghi lực nhiếp hộ và bản nguyện tiếp dẫn của Phật A Di Đà, cứ an nhiên niệm sáu chữ hồng danh “Nam mô A Di Đà Phật” thì gọi là Tha Lực Niệm Phật. Còn như bạn niệm Phật cầu khai ngộ, nhiếp tâm, trừ vọng niệm, cầu tam muội…hay xem công đức của danh hiệu Phật đồng với các thiện nghiệp khác, hồi hướng công đức về Cực Lạc cầu vãng sanh thì gọi là Tự Lực Niệm Phật.
So sánh Tự lực và Tha Lực quả là chuyện một trời một vực. Tự Lực là dùng sức của mình tu hành để ra khỏi sanh tử luân hồi. Tha lực là nương nhờ lực của Phật để ra khỏi sanh tử. Sự khó dễ thật không cần phải bàn cãi gì, chỉ tiếc rằng người niệm Phật phần lớn đều không biết cách nương vào Tha Lực, do đó mà đường tu nhọc nhằn, gian khổ mà vẫn mông lung vô định, không nắm chắc được đường về. Người tu nếu biết nương sức Đại Từ Đại Bi của Phật lực ắt an nhàn mà băng băng về đích, chẳng chút khó nhọc mà ra khỏi sanh tử luân hồi…”
Tuệ Tâm 2023.




PD. Diệu Hậu viết
TỰ LỰC và THA LỰC.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Kính bạch Tuệ Tâm và các Huynh Đệ.
Người tu tịnh độ theo mạch Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo khi nói về Tự Lực và Tha Lực sẽ liên hệ ngay đến 2 cách tu: “Khó Hành và Dễ Hành”.
Chúng ta tu tịnh độ mà không xác lập được thế nào là Tự Lực, thế nào là Tha Lực một cách minh bạch thì đường đến Cực Lạc quả là một Cửa Ải lớn nhất.
Khi tiếp cận giáo nghĩa mà Tổ Thiện Đạo khai thị, chúng ta sẽ mở mang kiến giải của mình một cách rõ ràng về 2 tính chất đặc trưng (Tự và Tha) này.
Đối với mạch Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo thì Tha Lực ở đây phải là Tuyệt Đối (tức nương tựa hoàn toàn vào năng lực của Phật A Di Đà).
Tự Lực và Tha Lực là một chương quan trọng nhất trong 22 chương Cuốn Sách “Tư Tưởng Tịnh Độ của đại sư Thiện Đạo” (do ps Tịnh Tông biên soạn). Chỉ sau phần giới thiệu về cuộc đời của Đại Sư và tính chất Khó Dễ của pháp môn tịnh độ, chúng ta sẽ đến phần đặc thù của Tự Lực và Tha Lực. Đây cũng là một cách dẫn dắt có chủ ý của soạn giả muốn cho chúng ta biết, nếu ngay từ đầu bạn hiểu Tha Lực là gì và đi theo, thì lộ trình của bạn coi như ổn, còn bạn không thể xác lập được rõ ràng thì lang thang Tự Lực vẫn là một mình bạn cô độc.
Hướng về Tịnh Độ Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, bất luận chúng sinh muốn thể ngộ tiêu chí gì cũng phải lấy Hàm Nghĩa từ Bổn Nguyện thứ 18 của Ngài để khế nhập, thì mới ra được cảm thọ mình đang tìm. Đặc trưng tiêu biểu nhất của pháp môn này, cũng như thực hành tu tập ở pháp môn này, chúng sinh phải tận dụng hoàn toàn Tha Lực của Phật A Di Đà một cách triệt để, thì mới qua được bờ sinh tử. Cách mà Tổ dạy vô cùng rõ ràng, tách bạch giữa Tự và Tha một cách cụ thể. Vì thế khi tiếp cận Cuốn Sách Tư tưởng Tịnh Độ của Ngài, chúng ta đã có ngay phương án lựa chọn (Chương 1: Nan Hành Đạo, và Dị Hành Đạo).
Để định nghĩa một cách sơ lược nhất thì Tự lực là mình dùng khả năng tự có của bản thân để hoàn thành (gọi là sức từ bên trong). Tha lực là nhờ vào sự giúp đỡ từ người khác để hoàn thành (gọi là lực từ bên ngoài).
Đối với pháp môn Tịnh Độ vãng sanh về Đất nước Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, chúng ta phải căn cứ từ việc Tỳ kheo Pháp Tạng phát 48 Đại Nguyện, và quá trình vô lượng kiếp trong quá khứ, Ngài tu tập với một mục đích là tích lũy công đức để cứu chúng sinh. Nghĩa là Bản thân Ngài đã làm hết mọi việc, chúng sinh chỉ cần tiếp nhận (Tha Lực từ bên ngoài) tức thành quả có sẵn của Ngài.
Vì sao lại phải dựa tất cả vào sức bên ngoài (của Phật A Di Đà) thì chúng sinh mới được về Cực Lạc. Chúng ta sẽ có những tiêu chí để định vị:
1/ Thệ nguyện của Đức Phật A Di Đà: Đức Phật A Di Đà xây dựng Cõi Tây Phương Cực Lạc chỉ có một mục đích duy nhất là tiếp dẫn hết thảy chúng sinh khắp 10 phương về đó. Ngài thiết lập Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật cũng là phương pháp dễ nhất, đơn giản nhất, phù hợp nhất để cứu độ họ.
Đặc biệt trong Bổn nguyện 18, Ngài chỉ yêu cầu chúng sinh tu tập Hạnh Xưng Danh. Đây là một điểm đặc sắt nhất nói đến việc chúng sinh phải nương tuyệt đối vào Tha Lực của Ngài bằng cách Chỉ Xưng Niệm Danh Hiệu của Ngài mà thôi.
2/ Muốn về Cực Lạc phải có công đức Vô Tướng: Chỉ có Phật A Di Đà mới có được công đức này, còn chúng sinh phàm phu tạo tội trong đời ác ngũ trược ở cõi Ta Bà thì không cách nào làm được. Điều này cho thấy, chúng ta phải hoàn toàn trông chờ từ sự tu tập của Ngài.
3/ Trong 5 kiếp quán sát tư duy và vô lượng kiếp tu hành: Đức Phật A Di Đà đã tích lũy công đức, kết tập vào trong danh hiệu rồi trao cho chúng sinh. Chúng sinh tin nhận, chỉ việc niệm danh hiệu lên thì đó là nương tựa hết vào Ngài.
4/ Mục đích mục tiêu cứu độ của Đức Phật A Di Đà là: Bình đẳng và không có điều kiện gì. Đặc biệt là ưu tiên chúng sinh hạ căn hạ trí. Như vậy các yếu tố này đều nói rằng chúng sinh phải phụ thuộc hoàn toàn vào Thệ Nguyện của Ngài.
5/ Bổn Nguyện có hàm ý nói rằng: “Chỉ cần xưng danh nhất định vãng sanh”.
Trong Kinh A Di Đà dạy: “Chấp trì danh hiệu Phật A Di Đà”. Thời lâm chung Phật Di Đà đón.
Trong Kinh Niệm Phật Ba La Mật cũng nói: “Muốn vãng sinh Cực Lạc chỉ cần xưng niệm Danh Hiệu Phật là đủ. Vì Danh Hiệu chính là biểu tướng của Pháp Thân, cho nên Niệm Danh Hiệu tức là Niệm Pháp Thân Phật vậy. Và người niệm Phật khỏi phải kiêm thêm bất cứ môn tu nào nữa”.
6/ Tổ Thiện Đạo nói trong rất nhiều chứ tác về việc chỉ cần niệm Phật mà thôi.
Tổ cũng day rằng: “một niệm, mười niệm hay mỗi niệm và tất cả các niệm đều đã tròn đầy viên mãn công đức, vì đây là công đức của Phật A Di Đà”. Thế nên bạn tận dụng công đức của Phật A Di Đà, bản chỉ niệm duy nhất DH Ngài để tu tập, thì đó là bạn đã nưong tựa hoàn toàn vào Ngài.
Nếu bạn lại cho rằng đó là công đức từ phía Phật thôi, còn công đức từ phía chúng sinh là phải xem hàng ngày mình đối diện với duyên cảnh thế nào? Nghĩ như vậy là bạn đang dùng sức của mình để (tự tu), cũng chứng tỏ bạn chưa hiểu rõ về bản chất của tha lực hoàn toàn trong mạch Thuần Chánh.
Việc Niệm Phật là để liên kết Tâm mình với Tâm Phật, là kết nối với sóng quang minh nhiếp thủ của Ngài, nên không coi đó là công phu (nếu công phu mà từ khả năng của bản thân chúng sinh bỏ ra để hoàn thành thì không đúng).
Phật A Di Đà đã thiết kế cho chúng ta một chiếc thuyền rồi mời chúng ta lên, khi đã ở trên đó rồi thì dù bạn có nằm, có đứng, hay có ngồi thì vẫn là ở trên thuyền. Nghĩa là bạn đã niệm Phật A Di Đà, thì tâm bạn có loạn động như thế nào cũng không ảnh hưởng gì. Bạn đừng nhảy ra khỏi thuyền cũng tức là bạn đã niệm Phật A Di Đà rồi, thì đừng niệm thứ khác nữa.
Trong Tư Tưởng Tịnh Độ, từ đầu đến cuối dù ở góc độ nào để phân tích, thì Tổ Thiện Đạo cũng chỉ duy nhất hướng chúng ta đến một việc là Chuyên Tâm Xưng Niệm Danh Hiệu Phật A Di Đà:
– Đó là muốn chúng ta hoàn toàn nương tựa vào sự cứu độ của Phật A Di Đà.
– Nương hoàn toàn thì mình chỉ làm đúng một việc,
– Tựa hoàn toàn thì mình chỉ bám đúng vào một điểm,
– Như thế mới vững.
=>Điểm đó phải là một nơi chắc chắn, an toàn, bảo đảm.
Nghĩa là khi hoàn toàn phụ thuộc vào Phật A Di Đà, bạn chỉ tập trung vào yêu cầu duy nhất của Ngài, bám chặt vào yêu cầu đó mà thực hiện, bạn sẽ không bị lung lay bởi những yếu tố khác. Điều này thể hiện sự kiên định và vững vàng.
Chư Phật 10 phương không thể cứu chúng ta, cũng không có Đức Phật nào phát nguyện cứu những chúng sinh cang cường tạo ác như chúng ta, nhưng đức Phật A Di Đà lại phát nguyện sẽ cứu. Năng Lực của Ngài ở đâu? Đó là từ nhân địa tu tập trong quá khứ.
Thệ Nguyện của Ngài vượt qua thệ nguyện của Tất Cả chư Phật: “Oai Thần và Quang minh của Đức Phật A Di Đà Tối Tôn Đệ Nhất, quang minh của chư Phật khác chẳng sánh kịp… Hào quang chư Phật chiếu ra có xa, có gần vì bản nguyện công đức đời trước cầu đạo có lớn nhỏ không đồng, nên khi thành Phật tự có hạn lượng”.
Như vậy chúng ta nương tựa vào một mình Ngài thì rõ ràng có phải là vô cùng an toàn yên tâm và chắc chắn hay không.
(Trên đây là nói về phía Đức Phật A Di Đà. Nếu chúng ta lĩnh hội được các tiêu chí trong Kinh và các khai thị của Tổ Thiện Đạo, chúng ta sẽ hiểu tại sao phải Nương Hoàn Toàn vào Đức Phật A Di Đà).
Về phía chúng sinh, chúng ta phải dụng công từ căn cơ hạ liệt hạ chí để hoàn toàn buông xuống khả năng tự thân, như vậy chúng ta mới nương hết vào Phật A Di Đà được.
Bạn muốn nương tựa hoàn toàn vào người khác, thì bạn phải buông cả hai tay ra bạn mới dựa vào họ được, còn bạn vẫn một tay bám vào chỗ khác là không ổn rồi. Người khác cõng bạn trên lưng để đưa bàn về nhà, nhưng bạn lại với tay vào cái cột thì đi về làm sao đây.
Cho nên Tổ Thiện Đạo dạy chúng ta phải đưa mình về xuất phát điểm bằng không (vô trí vô lực). Chúng ta thường cố tự làm cho đến khi không thể có khả năng gì, thì mới cần nhờ đến người khác. Khai thị này có phải là là Ngài đã thấu tận (tâm can ngạo mạn) của chúng sinh hay không (?).
Khi bạn thực sự chỉ niệm duy nhất DH Nam Mô A Di Đà Phật thì Đức Phật A Di Đà ngày đêm phóng quang minh nhiếp thủ bạn, không bỏ rơi bạn. Mười phương chư phật, chư bồ tát, chư hộ pháp, chư thiện thần luôn luôn bên cạnh gia trì, hộ niệm cho bạn, khiến cho tất cả những gì liên quan tới bạn đều được an toàn. Còn nếu chuyện nào đó không như ý bạn, thì phải chấp nhận nhân quả chứ.
Muốn thay đổi nhân quả chẳng thể nào không niệm Phật, không nhân quả nào thù thắng bằng niệm Phật. Và cũng không nhân quả nào viên mãn bằng Nhân Quả giải thoát. Nếu bạn muốn giải thoát không còn cách nào khác là Chỉ Duy Nhất Niệm DH Phật A Di Đà mà thôi.
“Cứu Độ Vô Điều Kiện” là một tác phẩm của PS Huệ Tịnh. Trong đó PS đã làm nổi bật tính chất Tha Lực Tuyệt Đối vô cùng rõ rệt bằng hình ảnh Căn Cơ Hạ Phẩm Hạ Sanh, đây là hàng chúng sinh tiêu biểu vô trí, vô lực. Khi đã ở tình huống tuyệt vọng về tất cả các khả năng của bản thân, họ sẽ bám rất chặt vào bất kỳ một thứ gì có thể để níu kéo hy vọng, và điểm bám này chính là Nam Mô A Di Đà Phật.
Đến đây chúng ta càng rõ hơn vì sao mà Tổ Thiện Đạo lại khuyên chúng ta phải khế nhập từ căn cơ hạ liệt hạ trí này để muốn chúng ta toàn tâm toàn ý nương tựa tuyệt đối vào Năng lực của Đức Phật A Di Đà.
Pháp ngữ mà PS Huệ Tịnh diễn tả trong tác phẩm “Cứu Độ Vô Điều Kiện” càng tôn vinh sự viên mãn mà Tổ Thiện Đạo khai thị: “Chúng sinh phải TIN vào Căn Cơ và Giáo Pháp. Muốn TIN được Giáo Pháp thì phải phế bỏ Căn Cơ. Phế bỏ Căn Cơ trước thì bạn mới nương hoàn toàn vào Giáo Pháp được”.
Nghĩa là chỉ khi “Vô Trí, Vô Lực” chúng ta mới buông hết Ngã Mạn để “DỒN” toàn bộ Tâm Ý vào Tha Lực của Đức Phật A Di Đà.
Chỉ cần tiêu đề “không cần điều kiện gì” của Tác phẩm, đã cho chúng ta thấy đó là Tha Lực hoàn toàn rồi.
Một điều rất đơn giản để chúng ta liên tưởng là trong pháp thế gian có câu nói: “Một người làm quan, cả họ được nhờ”. Một phàm phu làm điều rất nhỏ nhưng có thể giúp cho nhiều người, thế mà Chư Phật+Bồ Tát+Hộ Pháp+Thiện Thần khắp mười phương đều gia trì cho mình, thì tại sao lại không an? Chỉ nghĩ đến thôi là sự sung xướng viên mãn đã quá khả năng tưởng tượng rồi đấy bạn ạ. Thế nên không có lý do gì mà chúng ta phải buồn, tủi, sầu, hận lo lắng trong tâm.
Đây là pháp môn phổ độ khắp mọi căn cơ nên phương pháp hành trì phải tương xứng với chúng sinh thấp kém nhất, như vậy nếu đòi hỏi phải tu thế này thế kia thì có phải là vô lý không. Nếu cách thức xưng danh yêu cầu phức tạp, khó hành thì pháp môn niệm Phật không gọi là đạo dễ hành, cũng không thể cứu độ từ căn cơ hạ liệt nhất.
Cái khó của chúng ta là tự đặt điều kiện không phù hợp cho chính mình. Chúng ta thường lấy Pháp của căn cơ Thánh Nhân để áp dụng cho căn cơ hạ liệt, đây là một sai lầm phổ thông nhất của người tu niệm Phật.
Thánh Đạo Môn thường khế nhập từ việc “chúng ta vốn là Phật” đó là về Lý, nhưng về Sự cách khế nhập này không thể áp dụng để tu tập cho căn cơ hạ liệt như chúng ta.
Cách nói của Thiền Tông: “Tâm ta là Phật A Di Đà, Phật A Di Đà chính là tâm ta”. Đây là các Ngài đang đứng trên lập trường của mình để nói, các Ngài có thể nhìn mọi người, mọi vật, mọi việc đều là A Di Đà Phật. còn bạn có làm được như thế không? KHÔNG.
Tổ Thiện Đạo dạy rằng chúng ta phải đứng trên lập trường của Đức Phật A Di Đà vì với Đức Phật A Di Đà thì “Chỉ cần một câu Nam Mô A Di Đà Phật là đủ”.
Ngài yêu cầu chúng ta làm như vậy là đã nương tựa hoàn toàn vào Ngài rồi, đó là “Chân Thật” nghe lời, đó là “Chí Tâm Tin Ưa”.
Thế nên Ngài thị hiện Tổ Thiện Đạo ở thế gian này soạn Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ, để chấn chỉnh những cách nhìn sai lầm, cách tu lệch lạc của các Đại Sư. Các Đại Sư cho rằng căn cơ Bậc Thánh mới được vãng sanh, còn căn cơ Hạ Liệt phải tích lũy công đức nhiều đời (tức các Ngài gọi là biệt thời ý).
Nhưng Đức Phật A Di Đà lại ưu tiên hàng căn cơ Hạ Phẩm Hạ Sanh sẽ cứu trước. Do đó cách nói của bậc tu theo Thánh Đạo Môn là bạn không thể ứng dụng được.
Cách tốt nhất để tương ưng với Phật A Di Đà là Ngài muốn cứu bạn thì bạn cứ để yên cho Ngài cứu, cứu bằng cách nào, khi nào được vãng sanh, vãng sanh trong tình huống nào, vãng sanh trong tư thế nào là việc Phật A Di Đà lo. Bạn cứ yên tâm hoàn toàn phó thác cho Ngài. Bạn không cần phải nghĩ mình chết trong trạng thái nào, mình chết trong trường hợp nào. Bạn mà cố sắp đặt cho mình lúc chết phải ở tư thế nào thì đó là tâm cuồng vọng đấy.
Ngay cả Pháp Nhiên Thượng Nhân là thị hiện của Bồ tát Đại Thế Chí khi đệ tử hỏi “tư thế vãng sanh của Thầy là ngồi phải không”. Ngài nói rằng “Phật Thích Ca còn nằm nghiêng bên phải quay mặt về Tây để ra đi, vậy Ta làm sao dám vượt qua Bổn Sư được”. Vậy đó. Nếu bạn nghĩ là mình sẽ chủ động tư thế nào đó để vãng sanh thì có phải là ngạo mạn quá hay không. Cũng có những trường hợp ngồi vãng sanh, đứng vãng sanh nhưng đó là khi họ đã đạt đến cảnh giới tự tại, biết trước thời điểm rồi chứ không phải là họ lên kế hoạch sẵn.
Tổ Ấn Quang nói “Bạn chớ đặt nặng vấn đề”. Vì sao thế, Ngài nói tiếp: “Chỉ một câu Nam Mô A Di Đà Phật niệm suốt đời thì thành Phật có dư”. Trong tu tập tịnh độ, việc niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” là yếu tố then chốt. Ngài muốn nhấn mạnh rằng, nếu chỉ chuyên tâm niệm Phật, bỏ qua những lo lắng, suy tư không cần thiết, thì công đức sẽ tự nhiên viên mãn.
Như vậy, để tương xứng với Tha Lực hoàn toàn của Đức Phật A Di Đà thì “Lực” mà chúng sinh đóng góp phải là “Tâm Tin Tưởng và Hạnh Chuyên Nhất Xưng Danh Hiệu Ngài” chứ không phải là các điều kiện khác.
“Một hạnh xưng danh vượt trên muôn hạnh”. Bạn muốn nương tựa 100% vào Nguyện lực của Đức Phật A Di Đà thì bạn chỉ cần xưng niệm Danh Hiệu của Ngài mà thôi.
Vì Nương tựa hoàn toàn mới đúng là Tin Tưởng với tâm Chân Thật.
Trong phần pháp ngữ về Tự Lực và Tha Lực của PS Tịnh Tông có một VD rất thực tế: “Bạn dùng sức mình để nhảy qua khoảng cách 2 bờ, độ rộng là 2m. Nếu sức bạn rất mạnh có thể nhảy tới tận 1.999m, thì bạn vẫn bị rớt xuống nước. Như vậy bản phải nhảy đủ khoảng cách 2m, thì mới vượt qua bờ, nghĩa là bạn phải có đủ 100% sức lực”.
Chúng ta nương vào Nguyện lực của Đức Phật A Di cũng thế, mình không thể tơ tưởng đến một khả năng khác được đâu.
Khoảng cách 2 bờ giữa Ta Bà và Cực Lạc lại chỉ có duy nhất một chiếc cầu Nam Mô A Di Đà Phật, do chính Đức Phật A Di Đà bắc qua.
Đức Bổn Sư đã giới thiệu cho chúng ta chiếc cầu đó. Đức Phật A Di Đà cũng đã mời bạn lên, nếu bạn chỉ đi trên chiếc cầu đó thôi thì bạn sẽ sang được bên kia, còn leo lên phương tiện khác thì sẽ không tới được.
Vì thế muốn về Cực Lạc ngay trong đời này, bạn phải:
PHẾ BỎ TẤT CẢ CÁC KHẢ NĂNG TỰ LỰC CỦA BẢN THÂN, ĐỂ NƯƠNG TỰA HOÀN TOÀN VÀ THA LỰC CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ đấy.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
Diệu Hậu.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.