Đây là phần đầu tiên trong 20 phần của “Tư Tưởng Tịnh Độ của Đại Sư Thiện Đạo”, nguyên tác của Pháp Sư Tịnh Tông. Ở phần đầu tiên này, chúng ta sẽ hiểu tại sao chư Tổ lại chia giáo pháp của Như Lai ra làm hai phần: Nan Hành Đạo và Dị Hành Đạo – Tức Đạo khó thực hành, dành cho bậc thượng căn, và Đạo dễ hành, dành cho hết thảy mọi căn cơ.
Tư Tưởng Tịnh Độ của Đại Sư Thiện Đạo – Phần 3.
“..Đời sống hiện nay của chúng ta là thời đại dùng tha lực, ưa chọn việc dễ dàng. Đâu đâu cũng tin tưởng và dựa vào tiện nghi tân tiến của khoa học kỹ thuật. Cần đi đường thì leo lên xe hơi, có việc gì liền gọi điện thoại, lên xuống lầu thì dùng thang máy… dần dần chuyện gì cũng chọn khỏe bỏ nhọc, nên việc tu hành tất nhiên cũng cần bỏ khó chọn dễ.
Đã phân ra khó dễ thì cũng có chia ra khổ vu. Bản nguyện của đức Phật A Di Đà là đạo dễ hành, cũng là đường an vui. Nó không phải là Pháp môn Khổ Hạnh mà là Pháp môn Lạc Hạnh. Nên nói là đi đường thủy ngồi trên thuyền thật thảnh thơi. Khi chúng ta học phật pháp phải quay lại xét xem sự hành trì của mình: Nếu bạn thực tập Pháp Môn Tịnh Độ mà cảm thấy rất khổ não đó là bạn chưa nếm được pháp vị của Pháp môn này, bạn chưa tìm được bí quyết. Tu theo Pháp Môn Tịnh Độ mà cảm thấy rất khó, rất khổ, cảm thấy mình không có hi vọng được vãng sanh… là bạn đang đi sai đường mất rồi!
Thế Giới Cực Lạc không có những thứ khổ, chỉ thuần những điều vui. Chúng ta muốn lìa khổ được vui thì nên hoan hỉ xả bỏ tự lực, chọn tha lực.
*
Đạo khó hành tương tự như đi bộ, tự mình phải bước đi. Đạo dễ hành giống như ngồi thuyền, chẳng khó nhọc mà đến được nơi cần đến. Chúng ta niệm Phật chính là nương vào sức của đức Phật A Di Đà, không phải là ỷ vào sức tu hành của mình. Nếu đã niệm Phật mà còn dựa vào sức tu hành của mình, là bạn chưa hiểu Đúng Pháp môn niệm Phật, chưa đem cả thân tâm này buông xuống, chưa hoàn toàn nương tựa vào Đức Phật.
Sự phán định của Pháp môn này giới hạn không nằm ở tự lực mà hoàn toàn tha lực. Người ta một ngày niệm được 5 vạn câu Phật hiệu, bạn không niệm được nhiều như thế thì có sao đâu? Bạn có thể niệm ba vạn thì cứ niệm ba vạn, có thể niệm một vạn thì cứ niệm một vạn. Không ngồi xếp bằng được thì cứ ngồi duỗi thẳng chân ra mà niệm. Thoải mái như vậy, tự tại như vậy, vô cùng thảnh thơi mà niệm Phật, khiến cho bao nhiêu lo phiền tự nhiên được buông bỏ sạch trơn.
Giống như chúng ta cùng ngồi trên thuyền, mỗi người ngồi một kiểu, không ai giống ai, miễn thuận tiện để qua bờ bên kia là được rồi. Chúng ta niệm phật không cần nhìn ai cả. Cái căn cơ của mình chỉ cần dụng tâm dốc lòng làm, phó thác tất cả vào thệ nguyện của đức Phật A Di Đà là được. Chúng ta vãng sanh được là nhờ thể nguyện của Phật nhiếp thọ, không phải dựa vào công phu của mình…”
Tuệ Tâm 2023.




PD. Diệu Hậu viết
NAN HÀNH ĐẠO – DỊ HÀNH ĐẠO.
“Đạo khó hành giống như tự bơi thuyền đi ngược dòng, nước xiết.
Đạo dễ hành giống như ngồi lên thuyền đi xuôi dòng, xuôi gió”.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Kính bạch Tuệ Tâm, cùng các Huynh Đệ.
Nói đến tu học Phật Pháp chúng ta phải hướng đến mục tiêu thoát ly sinh tử. Trong tu học để giải thoát, việc chọn Pháp Môn Tu là một bước quyết định rất quan trọng. Thời đại mạt pháp này, chúng sinh ngũ ác Ta Bà chỉ có duy nhất Pháp Môn Tịnh Độ, cầu nguyện về Thế Giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, mới có thể mở con đường sáng cho chúng ta.
Theo đó, trong Tịnh Độ, chúng ta lại một lần nữa xác lập lối tu tập thế nào để Cực Lạc phải là mục tiêu: MỘT ĐỜI TỚI ĐƯỢC.
Đường Khó đi đó là NAN HÀNH ĐẠO. Lối Dễ đi là DỊ HÀNH ĐẠO.
Nghĩ đến đây là bạn đã đủ duyên gặp Pháp rồi đấy, vì tư duy của bạn (trạch pháp) có lộ trình rõ ràng như vậy cơ mà. Tất cả 10 phương 3 thời chư Phật hay Đức Bổn Sư của chúng ta có thị hiện ở cõi nào, thì cũng chỉ duy nhất một tâm nguyện là muốn đưa tất cả chúng sinh ra khỏi nơi vô minh tối tăm, để về nơi giác ngộ tối thắng.
Trong tất cả các cảnh giới vi diệu ở khắp 10 phương chư Phật, chỉ có một “chốn” sự vi diệu ấy vượt trội hơn tất cả, nên gọi là TỐI VI DIỆU (không có nơi nào sánh bằng). Cõi đó ở TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC. Giáo chủ là Đức Phật A Di Đà.
Đức Phật A Di Đà là Vị Phật Duy Nhất trong 10 phương chư Phật đã Phát 48 lời nguyện cứu độ chúng ta, trong đó có Nguyện thứ 18 là Nguyện thích ứng đúng với (lộ trình Tâm Ý) vừa “tính toán ở trên” của bạn đấy.
Nguyện 18 nói rằng: “Chỉ cần xưng danh nhất định chắc chắn vãng sanh”, và còn nói rõ: Ngay khi bạn cất lên tiếng niệm Danh Hiệu của Phật A Di Đà, mà bạn tin tưởng hoàn toàn sự cứu độ ấy, thì lập tức “Phật A Di Đà đã phóng quang minh che chở, nhiếp thọ (chấm công) cho bạn rồi”.
Tiêu chí của bạn là một đời thành tựu phải không? Mỗi này bạn đều niệm DH Ngài, đều mong chờ được về Cực Lạc, thì mỗi ngày Ngài đều chiếu soi ánh sáng đó “chấm công” đều đều cho bạn. THẬT TUYỆT (!).
Còn nữa, Đức Phật A Di Đà từ bi vô cùng, Ngài lo rằng chúng sinh phàm phu ở cõi Ta Bà thời trược ác ngũ nghịch tạo tội như chúng ta, là hạng chúng sinh không thể có cách nào để Tự Tu mà giải thoát, nên Ngài đã TỚI ĐÂY với thân thế Tổ Sư Thiện Đạo. Đó là một cách dán tiếp dẫn dắt, dạy dỗ an ủi phân tích cho chúng ta CON ĐƯỜNG TỐI, CON ĐƯỜNG SÁNG, rồi chỉ cho chúng ta đi đúng phần đường mà Ngài sẽ đón sẵn ở phía BÊN KIA. Vậy bạn hãy nghe lời Tổ Sư nhé.
Nan Hành Đạo và Di Hành Đạo là khai thị đầu tiên mà Trong Tư Tưởng Tịnh Độ, Tổ Thiện Đạo đã phân định rõ cho chúng ta. Xác lập tránh cửa nào, nên đi cửa nào, bạn phải mục kích rõ lời Tổ.
Trước hết sẽ nói về điểm khó để loại bỏ:
1/ NAN HÀNH ĐẠO là phương pháp tu tập khó thực hành, đòi hỏi sự kiên trì, khổ luyện và tinh tấn. Người tu phải vượt qua nhiều khó khăn thử thách, lại phải là người có căn cơ bậc cao, có giới hạnh, có ý chí và tâm từ bi rộng lớn.
Lối tu mà họ thực hiện sẽ ở các dạng Thiền Định – Phước Huệ – Giới Luật. Những Pháp này yêu cầu công phu miên mật, sức định lực và tâm vô ngã. Họ sẽ Tự mình tu tập hoặc Tha Lực tu tập, nhưng sự nương nhờ chủ yếu là Pháp để thực hành, chứ không phải là dựa vào Công Đức của Phật. Họ tu tập không phải một đời thành tựu, mà công cuộc tu hành này có thể nói phải tính thời gian bằng con số “ức kiếp”.
Lựa chọn những pháp môn tu tập chuyên sâu, cần phải có sự hiểu biết sâu sắc về Phật pháp và khả năng vượt qua những chướng ngại tâm lý. Tu tập hạnh khó khổ mà lại không được chư Phật ủng hộ, gia trì. Thế nên đó mới gọi là NAN TRONG NAN (vô cùng khó).
Bạn thấy đấy, nghe đến đây đã “nổi gai” chưa, bạn có thấy ngán ngẩm không?
Hầu hết chúng sinh đều cho rằng phải tu tập thật nhiều Pháp môn, tích lũy thật nhiều công đức, hành hạnh phải khó khăn gian khổ thì mới ĐỘNG LÒNG CHƯ PHẬT.
Đây là cách khế đạo của lối tu tự lực theo Thánh Đạo Môn.
Bây giờ chúng ta phải Chấp Nhận cúi đầu phế bỏ tất cả các tác ý TỰ TU của mình rồi.
Tổ sẽ từ bi mở tiếp cho bạn một lối khác vô cùng dễ dàng, vô cùng hoan hỉ, vô cùng chắc chắn lại được Phật A Di Đà và 10 phương chư Phật (gia trì hộ niệm).
Lối đi này chính là Dị Hành Đạo: Dễ hành, dễ chứng.
2/ DỊ HÀNH ĐẠO.
Pháp đã mở trong tâm bạn rồi phải không. Đây là cửa ngõ tiếp theo Rất Dễ để chúng ta vào mạch Tổ. Bạn nên cập nhật ngay từ đầu mệnh đề này.
Đó là “Pháp chí cực tối thượng áp dụng cho cả những kẻ căn cơ hạ hạ”.
Bạn có tin nổi không. Pháp “Khó Tin, Khó Nói” nhưng chúng ta lại TIN, đó là Thiện Căn đã chín. Bạn đang học mạch Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo nghĩa là bạn đã đầy đủ niềm tin để thâm nhập Pháp Chí Cực Tối Thượng rồi.
Hãy nghe lời thấm thiết của Tổ, Ngài nói rằng: Đức Phật A Di Đà có Bổn Nguyện: “Chúng sinh xưng danh, nhất định Vãng Sanh”. Tổ dặn thêm “Chỉ cần gọi tên Phật Di Đà lên thôi, không phải cầu kỳ, kèm cặp thêm bất kỳ món gì nữa cả”. Đây là lối đi An Lạc, An Tâm, An Toàn, và An Nhiên thành tựu:
Dễ vì bạn không phải lo đoạn phiền não, loại vọng niệm.
Dễ vì bạn không cần quan tâm đến công phu sâu cạn, tâm tán tịnh.
Dễ vì bạn không sợ đòi hỏi về căn cơ thánh nhân, hay hạ liệt.
Dễ vì bạn là ai cũng được, không nói xuất gia tại gia, không nói nam nữ, già trẻ.
Dễ vì bạn làm gì, ở đâu, lúc nào, mọi nơi, mọi chốn, mọi sự đều không cản trở.
Dễ vì bạn không phải gom công đức, không phải tích số lần đạt Thiền định.
Dễ vì bạn không phải sợ rằng mình giữ giới không nổi, mình còn nhiều lỗi lầm quá.
Dễ vì không yêu cầu tu thêm pháp môn khác, tụng kinh, trì chú, làm hạnh khó khổ.
Dễ vì không yêu cầu niệm danh hiệu Phật khác hay niệm tận cả 10 phương chư Phật.
Quá Dễ là bởi: BỔN NGUYỆN 18 chỉ yêu cầu Niệm Duy Nhất “PHẬT A DI ĐÀ” mà thôi.
Tâm lý của chúng sinh là những gì cao siêu, khó làm mà mình làm được mới thích. Nhưng với con đường thoát ly sinh tử thì tâm ấy là sự ngăn cách giác ngộ. Bởi pháp môn dễ hành này là do “chúng sinh nương hoàn toàn vào năng lực cứu độ của Phật A Di Đà”. Họ chẳng làm gì cả nhưng vì tâm tin tưởng nên nhận được toàn bộ kết quả mà Phật A Di Đà đã thành tựu sẵn. Đơn giản dễ dàng tối thắng vi diệu vì có đầy đủ 2 tính chất: Thắng Dị.
Bồ tát Long Thọ gọi: “Đạo dễ hành là do nương vào sức thuyền mà đi”.
Tổ Sư nói: “Quy kết sự dễ này là do Bổn Nguyện của Phật”.
Dị Hành Đạo thì chúng ta chỉ cần nương vào sự cứu độ của Phật A Di Đà. Tất cả mọi chuyện trong cuộc sống, trong tu học chúng ta chỉ dùng phương pháp Niệm Phật để ứng phó:
Việc Vãng Sanh cũng từ Danh Hiệu Nam Mộ A Di Đà Phật mà hành trì.
Việc duyên sự ở đời cũng dùng Nam Mô A Di Đà Phật mà giải quyết.
Làm một việc mà tác dụng cho cả 2 nhu cầu.
Chúng ta tu học nhưng làm thế nào để Thân An, Tâm Ổn thì phải giải phóng được cả pháp xuất thế lẫn pháp thế gian, do đó Niệm Phật là thuốc A Già Đà (do Phật A Di Đà ban cho).
Uống thuốc thì khỏi bệnh Vô Minh, Phiền Não, lại có Trí Tuệ…
Mười phương chư Phật tán thán chúng ta. Đức Phật A Di Đà phóng quang nhiếp thủ chúng ta. Khi mạng chung Ngài đón chúng ta về Cực Lạc.
Thế mới gọi là Pháp Chí Cực Vô Thượng Tối Vi Diệu – MỘT ĐỜI ĐẾN CỰC LẠC.
———
Trong 22 Chương của Cuốn Tư Tưởng Tịnh Độ, chúng ta sẽ được Tổ khai thị dẫn dắt từng bước, từng giai đoạn và phân định cho chúng ta cụ thể về sự Khó Dễ.
Tất cả tiêu đề các đoạn pháp mà PSTịnh Tông trình bày đều rất cuốn hút, khiến cho chúng ta như đang được trực tiếp Đức Phật A Di Đà hướng dẫn.
Đầu tiên là đưa ra những cái Khó bất cập và phân tích, sau đó mới chỉ ra cho chúng ta thấy chỗ Dễ dàng tiện lợi tối ưu để áp dụng. Niềm tin vào Căn Cơ và Giáo Pháp là phần khai thị điển hình về cách “Bỏ Khó trước, chọn Dễ sau” này.
Ngài nói rõ phải giải quyết trước các khả năng của mình là không thể, để chúng ta hoàn toàn chắc chắn BỎ Ý ĐỊNH TỰ LỰC. Nan Hành Đạo chính là chỉ cho chúng ta biết Căn Cơ của mình mà ứng dụng theo lối TỰ LỰC thì “Khó chồng thêm khó”.
Hướng Về Giáo Pháp chính là mình chuyển tâm “biếu hết khổ nạn cho Phật A Di Đà”.
Tin vào sự cứu độ của Phật A Di Đà, Tổ nói đây là (tựu Nhân lập tín).
Chọn việc mà Phật A Di Đà làm, Tổ nói đó là (tựu Hạnh lập tín).
Chỉ có Đức Phật A Di Đà mới là (Nhân) đầy đủ các điều kiện để chúng ta tin tưởng.
Chỉ có Bổn Nguyện thứ 18 mới chứng minh (Hạnh) của Ngài cứu được chúng ta.
Trong hành trì, Tổ cũng phân tích trước cho mình thế nào là Tạp Hạnh Tạp Tu, thế nào là Tự Lực. thế nào là Yếu Môn, là Trợ Nghiệp… tất cả những hành pháp này đều nói về sự khó khăn, giới hạn, không phù hợp rồi khuyên chúng ta không nên làm.
Sau đó Ngài sẽ đưa ra một phương pháp tối ưu nhất do Đức Phật A Di Đà yêu cầu.
Đó là: Xưng Niệm Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật.
Xưng niệm này là “Chánh Định Nghiệp phù hợp với Bổn Nguyện cứu độ thứ 18”.
Phật Di Đà chỉ yêu cầu một việc này thôi.
“Phù hợp với Bổn Nguyện” là cốt lõi quyết định. Chúng ta phải biết đâu là “Điểm Tối Quan Trọng” mà Phật A Di Đà muốn mình làm, thì mình sẽ HIỂU BỔN NGUYỆN.
NƯƠNG THA LỰC PHẬTHOÀN TOÀN, chính là lối đi “Dễ lại càng dễ”.
Có 2 sự kiện trọng đại mà chúng ta nên biết:
1/Sự kiện thứ nhất: Lịch sử Phật Pháp tại Trung Quốc, bị gián đoạn với thời gian hơn một ngàn năm, đó là thời đại của Vua Đường Vũ Tông đã xảy ra Đại Nạn Phật Pháp. Các chứ tác thuộc dòng Tổ Thiện Đạo khi đó bị thất lạc, mạch Thuần Chánh cũng bị dán đoạn – Thất Truyền. Như vậy giai đoạn này, các Đại Sư tu học theo lối tu KHÓ là điều chúng ta thấy rõ.
Mạch Thuần Chánh là mạch được truyền thừa thuần túy nguyên vẹn, không thay đổi, không thêm bớt, không hiểu sai lệch từ pháp mạch của Đức Bổn Sư. Giáo nghĩa hoàn toàn phù hợp với Thệ Nguyện cứu độ bình đẳng, không cần điều kiện của Đức Phật A Di Đà, nên đó là pháp thực hành đơn giản dễ dàng. Nếu tu học theo hệ thống của mạch này, rồi phát nguyện vãng sanh về Cực Lạc của Phật A Di Đà thì đó là đi theo mạch Thuần Tịnh Độ.
Các Đại Sư tu học trong giai đoạn Phật Pháp loạn lạc, tài liệu của mạch Thuần Chánh không còn, giáo lý y cứ của các Ngài là từ Pháp môn mình tu tập rồi phát nguyện về Cực Lạc nên bản chất mạch tu là Không Thuần Tịnh Độ. Vì tự tu nên các Ngài sẽ khế nhập từ căn cơ bậc cao để quy hướng Tịnh Độ, và cho rằng căn cơ hạ liệt là không có khả năng tu một đời giải thoát, mà phải tích lũy công đức nhiều đời.
Kiến giải của các Ngài không phù hợp với Bổn Nguyện Cứu Độ thứ 18 của Đức Phật A Di Đà. Sự hiểu lầm này là do các Ngài không có cơ hội thọ nhận Pháp Truyền Thừa dễ dàng vốn có của mạch Gốc.
2/Sự kiện thứ hai: Tổ Thiện Đạo quay lại thế gian này Soạn Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ với chủ trương khai thị, sửa sai, đính chính cách hiểu chưa đúng, cách tu chưa đúng của các Đại sư. Tổ nói rõ tu tập Tịnh Độ, nương tựa vào Thệ Nguyện của Phật A Di Đà, là một pháp môn cứu độ hết thảy chúng sanh từ căn cơ hạ liệt nhất, đều chỉ ứng dụng một phương pháp vô cùng dễ dàng, đơn giản, chắc chắn nhất định một đời thành tựu.
Khải Định của Tổ cũng là để cho chúng sinh đời sau biết rằng: Chỉ có nương tựa vào Nguyện lực của Đức Phật A Di Đà bằng phương pháp Chuyên Nhất Xưng Danh thì mới phù hợp với Bổn Nguyện thứ 18 của Ngài.
Học pháp Tổ Thiện Đạo chúng ta không thể không quan tâm đến 2 SỰ KIỆN này.
Nó sẽ giải quyết cho chúng ta những vấn đề sau đây:
1- Chấp pháp.
Chúng ta quen với cách tu tập theo lối tu truyền thống, đó là cách tu tập tự lực. Sự kiện lịch sử pháp nạn đời Đường là một nguyên nhân dẫn đến Pháp Môn Tịnh Độ tại Trung Quốc có 2 lối tu tập khác nhau:
Mạch Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo.
Mạch không Thuần Chánh của các Tổ Sư.
Cũng như từ đó sẽ có 2 phương pháp thực hành Khó Dễ này.
Nếu bạn hiểu rõ các lý do trên, bạn sẽ không còn Chấp vào Pháp của các Tổ Sư nữa.
Chúng ta không bác bỏ pháp của các Ngài, cũng không nói là sai. Mà vì pháp đó không phù hợp với căn cơ của chúng ta, nên đành gác lại. Pháp nào phù hợp với Tư Tưởng Tịnh Độ của Tổ Thiện Đạo chúng ta vẫn chấp nhận.
Chia sẻ đến đây rồi mà bạn vẫn chưa nhận ra vấn đề, thì pháp mạch Thuần Chánh sẽ không có chỗ trong tâm của bạn.
2- Tông chỉ Tông Tịnh Độ.
Việc Tổ Thiện Đạo soạn Quán Kinh Sớ, giúp cho bạn hiểu rõ ràng về cốt lõi của tu tập pháp môn Tịnh Độ là phải phù hợp với Tư Tưởng Tịnh Độ của Ngài.
Nghĩa là bạn muốn cầu nguyện vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của Phật A Di Đà thì bạn phải thâm nhập được Tư Tưởng Tịnh Độ của Đại Sư Thiện Đạo. Bởi vì lời của Ngài chính là thông điệp mà Đức Phật A Di Đà gửi đến chúng ta.
Bạn đã học mạch Tổ Thiện Đạo mà không biết về 2 sự kiện trọng đại trên là một thiếu sót. Còn bạn tu học Pháp môn Tịnh Độ mà bạn lại không thể hội được Pháp của Tổ Thiện Đạo thì là một điều quá thiếu sót.
Trong Phật Pháp có 84 ngàn Pháp Môn đại diện cho 84 ngàn tập khí, phiền não, vô minh của chúng ta, cũng chính là 84 ngàn phương pháp tu tập Khó Khăn Nan Hành. Thực chất con số 84 ngàn này là cách nói tượng trưng cho vô lượng vô biên các pháp môn. Nghĩa là chúng ta không chỉ có 84 ngàn điều xấu ác trong tâm, mà là không thể tính nổi. Nhưng trong vô vàn cách khai thị dẫn dắt ấy, Đức Bổn Sư chỉ làm phương tiện cho chúng sinh mà thôi.
Bản Hoài mà (Ngài Muốn) chính là MỞ cho chúng ta một CON ĐƯỜNG KHÁC, lối đi này sẽ VƯỢT TẮT – CẮT NGANG để tới BẢN THỆ NGUYỆN của Phật A Di Đà.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phât.
Diệu Hậu.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.