• Trang chủ
  • Kiến thức
    • Kinh Sách Phật Pháp
    • Bản Nguyện Niệm Phật
    • Nhân Quả Báo Ứng
    • Phật Pháp & Cuộc Sống
    • Góc Tu Tại Gia
  • Tải PDF
  • Bố thí & Cúng dường
  • Ấn Tống Kinh Tượng Phật
    • Phật Pháp
  • Giới Thiệu & Liên hệ
    • Bảo mật Thông tin
  • 0 - 0 ₫
kinhnghiemhocphat.com

kinhnghiemhocphat.com

Tuệ Tâm - Bản nguyện Niệm Phật Vãng Sanh

Trang chủ » Bản Nguyện Niệm Phật » Chuyên xưng Di Đà Phật Danh – Bản nguyện niệm Phật – Phần 4.

Chuyên xưng Di Đà Phật Danh – Bản nguyện niệm Phật – Phần 4.

13/03/2023 15/09/2024 Tuệ Tâm 9 Bình luận

Chuyên xưng Di Đà Phật Danh nghĩa là chuyên niệm danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật. Đức Phật A Di Đà dùng sáu chữ này để cứu độ chúng sanh mười phương. Ngài chỉ yêu cầu bạn niệm sáu chữ là đủ tiêu chuẩn được vãng sanh, không có đòi hỏi hay yêu cầu khắt khe gì khác!

Đại sư Thiện Đạo bảo: “Chỉ cần chúng ta chuyên xưng danh hiệu Phật A Di Đà thì được Phật A Di Đà cứu độ, không bao giờ rời bỏ chúng ta. Chỉ cần ta chuyên niệm danh hiệu của Ngài thì các hạnh khác không cần đề cập đến…Bởi ta chuyên niệm danh hiệu thì được tâm quang của Phật A Đà nhiếp chiếu. Còn những người tạp tu tạp hạnh không có được năng lực này nên rất khó vãng sanh.

Chuyên xưng Di Đà Phật Danh

Đức Phật A Di Đà dùng danh hiệu của mình, bình đẳng cứu độ chúng sanh chuyên xưng danh hiệu của Ngài. Chuyên xưng Di Đà Phật Danh nghĩa là miệng chỉ chuyên niệm sáu chữ Hồng Danh Nam mô A Di Đà Phật. Chuyên xưng danh hiệu này thì được Phật cứu độ, đây là pháp môn rất đơn giản, rất dễ dàng, có năng lực cứu độ khắp pháp giới chúng sanh. Ngài chỉ yêu cầu niệm danh hiệu, ngoài ra không có yêu cầu, tiêu chuẩn hay điều kiện gì khác.

Bất kỳ là bạn lâm chung ở tình trạng nào, bệnh nặng thế nào, xuất huyết não, tai nạn bất kỳ, lúc chết dù người khác có thấy bạn hôn mê bất tỉnh hay tướng trạng khác thường đến thế nào đi chăng nữa thì những tướng trạng ấy không ảnh hưởng gì đến sự cứu độ của Phật A Di Đà. Do vì hiện tại chúng ta đã được Phật cứu rồi, đã ở sẵn trên thuyền đại nguyện của Ngài rồi, chẳng phải đến lúc lâm chung Phật mới đến cứu.

Chỉ cần chúng ta chuyên xưng danh hiệu Phật A Di Đà là được Phật đến cứu. Chúng ta lâm chung trong bất cứ tình huống nào cũng chẳng ảnh hưởng đến sự cứu độ của Phật A Di Đà. Quán Kinh nói, ánh sáng của Phật A Di Đà chiếu sáng khắp mười phương thế giới, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật không rời bỏ. Đại sư Thiện Đạo giải thích rằng: “Đoạn kinh văn này có ý nghĩa khai phá đặc biệt cho chúng ta.”…

Tuệ Tâm 2023.

Đang tải đánh giá...
  • Facebook
  • Twitter (X)
  • LinkedIn
  • Pinterest
  • Tumblr
  • Zalo

Bài viết liên quan

Chuyên niệm Phật, vãng sanh biết trước ngày giờ
Chuyên niệm Phật, vãng sanh biết trước ngày giờ
Bỏ Tạp Tu – An Nhiên Vãng Sanh Cực Lạc Tịnh Độ
Bỏ Tạp Tu – An Nhiên Vãng Sanh Cực Lạc Tịnh Độ
Niệm Phật vãng sanh – Quan tài hoa Sen nở
Niệm Phật vãng sanh – Quan tài hoa Sen nở

Chuyên mục: Bản Nguyện Niệm Phật

Bài viết trước « Sự phân công giữa Phật A Di Đà và chúng ta – Bản nguyện NP- P3
Bài viết sau Bốn điểm Đặc Sắc của Tông Tịnh Độ – Bản nguyện niệm Phật – P5. »

Reader Interactions

Bình luận

    Để lại một bình luận Hủy

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  1. LH viết

    14/03/2023 lúc 15:44

    Nam mô A Di Đà Phật
    Thưa thầy Tuệ Tâm, có một người nói với con điều này: dù con người có phạm phải tội ác như thế nào, mà tu theo tịnh độ thuần chánh thì đều được Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn phải không ạ. Ví dụ như ai đó phạm ngũ nghịch tội, thập ác, hay tội ăn cắp đồ của thường trụ…..thì đều được cứu độ, vì không gì có thể vượt qua được bản nguyện của Đức Phật A Di Đà. Không biết điều này có đúng không thầy ?

    Trả lời
    • Tuệ Tâm viết

      15/03/2023 lúc 09:16

      Nam mô A Di Đà Phật!

      Những lời ấy đúng đấy bạn ạ! Đức Phật A Di Đà dùng sáu chữ hồng danh làm cứu độ chúng sanh, không phân biệt tội phước, sang hèn hay trí ngu, không cứ tội nặng hay là nhẹ, hễ biết sám hối hồi đầu, niệm danh hiệu của Ngài thì thuận theo Bản Nguyện Tiếp Dẫn, chắc chắn được vãng sanh. (Trong phần 6 của Bản Nguyện Niệm Phật, Tổ Thiện Đạo có nói rõ về vấn đề Ngũ Nghịch này). Tuy nhiên, phải nhấn mạnh điều này: “Nguyện lực của Phật thù thắng không gì có thể vượt qua được, nhưng phải biết rằng cơ hội để một người tạo đại tội được khai tâm, biết sám hối hồi đầu mà niệm Phật là vô cùng hi hữu, phải nói là biệt phước trăm vạn kiếp khó có được. Vì sao như thế? Vì do sức ác nghiệp che chướng, rất khó để người tạo tội biết đến Phật Pháp, đừng nói là được nghe đến danh hiệu Phật hay Bản Nguyện của Phật. Như chúng sanh nơi Địa Ngục, Chư Phật và Bồ Tát thường hiện thân cứu độ, nhưng họ do bị nghiệp chướng ngăn che nên các Ngài đứng ngay trước mặt họ cũng chẳng hay chẳng biết. Không phải ngẫu nhiên kinh Địa Tạng dạy rằng: “Nghiệp lực của chúng sanh nặng nề, có thể ngăn che Thánh Đạo”, ý là như thế!

      Sức mạnh của Nguyện Lực chỉ có Phật với Phật mới thấu rõ được tột cùng, không thể dùng trí phàm phu để suy lường được. Bởi thế Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Người này khi sắp mạng chung, trong khoảng sát na rốt sau, tất cả các căn thảy đều tan hoại, tất cả quyến thuộc thảy đều lìa bỏ, tất cả oai thế thảy đều lui mất. Duy có nguyện vương này chẳng rời bỏ nhau, trong tất cả thời, nó đều dẫn dắt ở trước. Và trong khoảng một sát na, kẻ ấy liền được vãng sanh về thế giới Cực Lạc.”

      Trả lời
  2. Xin thường niệm sáu chữ hồng danh Nam mô A Di Đà Phật 🙏 viết

    16/02/2024 lúc 17:59

    Làm sao để chắc chăn vãng sanh xin Tuệ Tâm ghi gắn gọn dễ hiểu dưới phần bình luận!
    Nam Mô A Di Đà Phật 🙏 niệm đến cùng!

    Trả lời
    • Tuệ Tâm viết

      19/02/2024 lúc 10:06

      Nam mô A Di Đà Phật.
      “Mình niệm Phật là thuận theo bản nguyện của Phật A Di Đà, chắc chắn được vãng sanh”. Giữ chắc câu này mà niệm Phật hằng ngày, dù ai có nói gì cũng không lay chuyển thì chắc chắn vãng sanh!

      Trả lời
  3. PD. Diệu Hậu viết

    06/02/2026 lúc 16:07

    MỘT CÁCH ÁP DỤNG CHO TẤT CẢ
    “Tin Nhận Di Đà Cứu Độ,
    Chuyên Xưng Di Đà Phật Danh.
    Nguyện Sanh Di Đà Tịnh Độ.
    Độ Khắp 10 Phương Chúng Sinh”.
    Bốn câu kệ của Tổ Thiện Đạo chính là Tông Chỉ của Pháp Môn Tịnh Độ Thuần Chánh.

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
    Kính bạch Tuệ Tâm cùng các Huynh Đệ.

    Cốt lõi để 10 phương chúng sinh đều được Vãng Sanh Cực Lạc chính là: Chuyên xưng Di Đà Phật Danh. Đây là tiêu chí tu tập của Thệ Nguyện thứ 18.
    Ý nghĩa của CHUYÊN XƯNG là: MỘT CÁCH ÁP DỤNG CHO TẤT CẢ.

    Có 2 khía cạnh để chúng ta đi sâu vào khái niệm MỘT CÁCH:
    1. Đối tượng cứu độ (Phật Lực): MỘT CÁCH (với Trí Tuệ, Năng Lực, Lòng Bi Mẫn của Một Vị Vua Phật) thì MỘT NIỆM CỨU là NGÀI CỨU TẤT CẢ.
    2. Phương pháp tu tập (Hành trì): MỘT CÁCH là chỉ dùng MỘT HẠNH XƯNG DANH (áp dụng cho cả 3 bậc Thượng Trung Hạ).

    Đây cũng thể hiện Uy Lực của một Bậc Thủ Lĩnh đứng đầu Pháp Giới Chư Phật. Ngài không chỉ phát Thệ Nguyện cứu độ 10 phương chúng sinh, mà còn KÊU GỌI, Gửi MỆNH LỆNH đến hết thảy muôn loài. Thông điệp của Ngài là Tất Cả Các Con Hãy Trở Về Nhà.

    • Đức Phật A Di Đà dùng Danh Hiệu của mình để cứu độ mười phương chúng sanh. Ngài chỉ yêu cầu họ làm MỘT VIỆC xưng danh Hiệu của Ngài, thì đủ tiêu chuẩn được vãng sanh, không có đòi hỏi hay yêu cầu khắt khe gì khác – Đây chính là MỘT CÁCH.
    • Khi bạn dùng MỘT CÁCH, chính là bạn đã tận dụng Công Đức Chân Thật mà Phật A Di Đà ban tặng bạn trong câu Phật Hiệu.
    • Khi bạn dùng NHIỀU CÁCH, chính là bạn đang Bị Nhiễm Tạp Độc, đó chỉ là phước đức hữu lậu do chính bạn tạo ra thì thử hỏi Phật A Di Đà sẽ cần đến chăng?
    Nếu bạn không thể hội được lòng Bi Mẫn tuyệt đối của Ngài trong Thệ Nguyện cửu độ 10 phương chúng sinh, thì bạn cũng không thấu hiểu vì sao Ngài lại dùng MỘT CÁCH.

    Nam Mô A Di Đà Phật.
    Kính thưa các Huynh Đệ. Chúng ta tu Tịnh Độ là nương tựa hoàn toàn vào Thệ Nguyện cứu độ của Phật A Di Đà, nhưng tại sao vẫn còn chưa tin lời Phật, vẫn còn cảm thấy mình cần phải làm thêm điều này điều khác? Đó là vì chúng ta chưa thực sự chạm đến Điểm tuyệt hảo của Vua Bản Nguyện.

    Bài chia sẻ này sẽ bóc tách từng lớp mê lầm về việc chấp tướng tu tập, từ việc tụng kinh đến lễ lạy, và các thiện hạnh để trả lại cho Danh hiệu Phật vị trí độc tôn.
    Đây là một Lộ Trình tư duy Dứt khoát – Chặt chẽ – Triệt để. Nếu chúng ta muốn vào được cửa Tha lực tuyệt đối mà không còn một kẽ hở hoài nghi, xin hãy đi trọn mạch pháp này.

    Vì sao chỉ cần xưng danh là đầy đủ công đức Vãng Sanh?
    Trước hết xin dẫn chứng từ 3 Bộ Kinh Chuyên về Tinh Độ:
    1. Kinh Vô Lượng Thọ: Trong 48 Nguyện đặc biệt là Nguyện Thứ 18 mà chúng ta đang tu tập, chỉ nói một điểm cốt lõi với HÀM NGHĨA là XƯNG DANH từ 1 cho đến 10 niệm.

    2. Kinh Quán Vô Lượng Thọ: Trong 16 pháp quán thì 15 pháp đầu nói về Định Thiện, Tán Thiện, Tam Phước Thập Thiện, nhưng Pháp Quán thứ 16 phần Hạ Phẩm Hạ Sanh chỉ nói duy nhất là xưng danh. Đây là lý do chính mà Đức Bổn Sư phó chúc và căn dặn chúng sinh phàm phu thời Ngũ Ác phải nương vào pháp tu này.

    3. Kinh A Di Đà: Phần Nhân Hạnh Vãng Sanh có nói về “Chấp Trì Danh Hiệu của đức Phật A Di Đà” (Chấp là: nắm chặt, giữ lấy không buông rời. Trì là: thọ trì như lời Kinh dạy tức thực hành Niệm Danh Hiệu Phật A Di Đà).
    Như vậy tất cả 3 Kinh đều NÓI MỘT CÁCH ĐÓ LÀ CHỈ XƯNG NIỆM DANH HIỆU NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT MÀ THÔI.

    Điểm xuất phát của Pháp Môn Tịnh Độ chính là khởi nguồn của Thệ Nguyện Thứ 18 mà Tỳ Kheo Pháp Tạng phát ra. Nếu không có Lời Nguyện ấy thì 3 Kinh Tịnh Độ cũng không có cơ sở để thuyết. Do đó bản chất của sự cứu độ hoàn mãn đó là: Tỳ Kheo Pháp Tạng đã thành Phật. Ngài đang thuyết Pháp tại Cõi Nước Cực Lạc cách đây 10 muôn ức cõi Phật, lấy tên Vô Lượng Thọ, hiệu là A Di Đà.

    Mấu chốt của Lời Phát Nguyện này chính là Khi Tôi Thành Phật nếu chúng sinh không được như Nguyện thì Tôi Không Thành CHÁNH GIÁC. Tâm điểm ở đây, vì nếu Ngài chưa Thành Phật thì tất cả những điều Đã Hứa đều không có căn cứ.
    Bài viết này sẽ phần tích chi tiết theo trình tự, chúng ta đọc từ đầu cho đến hết để có một cách nhìn toàn diện.

    Phần 1: TRỌNG TÂM CỦA CHÁNH ĐỊNH NGHIỆP XƯNG DANH.

    I/Chánh Định Nghiệp và Trợ Nghiệp.
    Tổ Thiện Đạo nói rất rõ: TU HÀNH CÓ CHÁNH HẠNH VÀ TRỢ HẠNH. Trong chánh hạnh gồm trợ nghiệp và chánh định nghiệp nhưng gác lại trợ nghiệp tập trung vào chánh định nghiệp.
    • Chánh Định Nghiệp chính là: Chuyên Tâm Xưng Niệm Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật.
    • Trợ nghiệp là: Đọc Tụng, Lễ Bái, Tán Thán, Cúng Dường (các hạnh này tùy theo căn cơ mà thực hành, không bắt buộc, không phải là vấn đề trọng tâm, vì nó không có trong Bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà, không nằm trong lựa chọn của Ngài).

    Tuy nhiên có rất nhiều đồng tu vẫn dùng các trợ hạnh này để tính công phu vì chưa rõ bản chất của TRỢ là gì. Chúng ta cùng trao đổi về khía cạnh này như sau.
    Trước hết người tu phải hiểu rất rõ HÀM NGHĨA của Thệ Nguyện 18 mà đức Phật A Di Đà xây dựng:
    1. Mục đích Cứu Độ: Mười Phương Chúng Sinh
    2. Mục tiêu Cứu Độ: Chúng sinh Hạ Căn Vô Trí, Vô Lực, Vô Dụng được cứu trước
    3. Phương Pháp Cứu Độ: Xưng Niệm Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật.
    4. Tiêu chí Cứu Độ: Chỉ Dùng Một Cách Áp Dụng Cho Tất Cả.
    5. Yêu cầu duy nhất: Chúng Sinh CHỈ CẦN XƯNG DANH là PHÙ HỢP VỚI BỔN NGUYỆN.

    II/Tính phù hợp của Danh Hiệu.
    Khi XƯNG DANH là tiêu chí Duy Nhất Phù Hợp với Bổn Nguyện Phật A Di Đà, thì tất cả các trợ hạnh đương nhiên không có khả năng giúp cho Danh Hiệu, mà chỉ trợ thêm cho chính người tu mà thôi. Bởi bản thể trong câu Phật Hiệu đã KHÔNG THIẾU GÌ RỒI, vì thế Tổ Thiện Đạo mới nói Chánh Định Nghiệp là chỉ có MỘT DUY NHẤT – XƯNG DANH. Tổ cũng nói: có Chánh có Trợ, có Chủ có Thứ, nhưng bạn xác lập Chủ, Thứ rõ ràng không thể lẫn lộn.

    Khi Tổ nói TRỢ không có trong Bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà, không nằm trong lựa chọn của Ngài, nghĩa là bạn có làm thì càng khẳng định bạn tạp hơn mà thôi. Nên đã CHUYÊN thì nhất định là CHỈ MỘT thì mới là CHUYÊN TRONG CHUYÊN.
    Chỉ khi chúng ta CHUYÊN xưng danh mới là Điều Kiện của Bản Nguyện và TƯƠNG ƯNG với Tâm Quang nhiếp thủ của Phật A Di Đà. Luồng Từ Trường này hoàn toàn trong sạch để chạm điểm giao thoa.

    Phần 2: TIÊU CHÍ CỐT LÕI TRONG THỆ NGUYỆN THỨ 18.

    I/Khái niệm về Tiêu Chí Chung (CỐT LÕI).
    1/Mục tiêu cứu độ của Phật A Di Đà là nhắm đến căn cơ Hạ Liệt Hạ Chí (bao gồm những người già yếu, người tàn tật, những con vật là đối tượng không thể đọc kinh, lễ lạy, tán thán, cúng dường, mà chỉ có thể Xưng Danh).

    2/Tiêu chí Chung là MỘT CÁCH để áp dụng cho hết thảy mọi căn cơ. Như vậy chúng ta phải dụng công ở MỘT CÁCH là chỉ Xưng Danh, và phải khế nhập ở vị trí căn cơ bất lực nhất (không có một chút khả năng gì), thì mới chạm tới Tiêu chí CHUNG.

    3/Lễ lạy là cung kính, đọc kinh là vâng lời nhưng công đức vãng sanh không nằm ở các trợ hạnh đó mà nằm ở xưng danh. Xưng danh là sự Cung Kính và Nghe Lời cao nhất, là nguyên tắc MỘT CÁCH mà Phật A Di Đà đưa ra, là sợi dây duy nhất kết nối Tâm Quang của Ngài, là Thành Quả bạn được về Cực Lạc.
    Khi bạn chạm đúng vào trái tim của Bản Nguyện, thì tính đơn giản tuyệt đối là để bao trùm tuyệt đối.

    II/Tại sao MỘT CÁCH là tiêu chí/mẫu số chung áp dụng cho cả ba hạng căn cơ?
    MỘT CÁCH nghĩa là: Tất cả hết thảy các loại căn cơ đều dùng XƯNG DANH để kết nối với Quang Minh Nhiếp Thủ. Đây chính là TIÊU CHÍ CHUNG. Vì để cứu được tất cả từ bậc Thánh đến loài súc sinh, Phật A Di Đà phải chọn MỘT CÁCH/một phương pháp, chứ không thể nhiều phương pháp.

    Ba hạng căn cơ mà Phật A Di Đà áp dụng MỘT CÁCH để cứu độ là:
    1. Hạ căn: Không có khả năng gì (người già yếu, người tàn tật, người vô trí, người giây phút lâm chung mới tin, trẻ em, loài vật).
    2. Thượng căn: Hạng Thượng Trí (có trí tuệ, định lực sâu, thiện căn dày, phước báu lớn).
    3. Trung căn: Tất cả những chúng sinh còn lại.

    Do đó:
    a. Nếu lấy Lễ bái làm tiêu chí chung, thì người già yếu, người tàn tật không thể làm được.
    b. Nếu lấy Đọc kinh làm tiêu chí chung, người mù chữ, người vô trí, loài vật sẽ bị bỏ lại.
    c. Nếu lấy Các Thiện hạnh làm tiêu chí chung, thì đó chỉ là pháp hữu tướng, không gửi về cách giới (Vô Vi) Cực Lạc được.

    Chỉ có xưng danh là phương pháp dễ nhất, đơn giản mà mọi chúng sinh đều có thể làm được. MỘT CÁCH XƯNG DANH chính là đang bảo vệ tính Chuyên Nhất của Pháp Môn.
    Chỉ khi CHUYÊN xưng danh thì tâm mới không loạn, và sự kết nối với ánh sáng của Phật mới đạt đến mức độ thuần khiết nhất (nương tựa tuyệt đối).

    Đó chính là tinh thần Bản Nguyện Xưng Danh, Phàm Phu Phập Báo mà Tổ Thiện Đạo luôn nhấn mạnh. Là con đường dị hành đạo, dễ đi nhưng mang lại kết quả tối thượng.
    MỘT CÁCH Xưng Danh làm mẫu số chung cho cả 3 hạng là PHÙ HỢP với BỔN NGUYỆN 18. Vì dù Thánh Nhân hay Phàm Phu, thì đều phải cậy nhờ vào tha lực tuyệt đối của Phật, không ai dùng tự lực mà vãng sanh được.

    Phần 3: CHỈ CẦN XƯNG DANH LÀ ĐỦ THÀNH TỰU BA DUYÊN.

    I/Ba Duyên là: Thân Cận Duyên, Cận Trọng Duyên, Tăng Thượng Duyên.
    1. Thân Cận Duyên: Khẳng định Phật luôn có mặt (Phật không bỏ ta).
    2. Cận Trọng Duyên: Khẳng định ta và Phật là một (Chúng sanh muốn thấy Phật, Phật liền theo niệm mà gia trì, nhiếp thủ)
    3. Tăng Thượng Duyên: Khẳng định Phật có đủ năng lực để cứu (ta chắc chắn được cứu).
    Trong 3 duyên này chúng ta đặc biệt chú ý đến THÂN CẬN DUYÊN – PHẬT KHÔNG BỎ TA.
    Xưng Danh (Chánh Định Nghiệp) là VUA của các Thiện Căn và Trợ Hạnh.

    II/Nguyên lý mấu chốt của xưng danh.
    Tổ Thiện Đạo định nghĩa xưng danh là Chánh Định Nghiệp vì nó thuận theo bản nguyện của Phật. Các việc như lễ bái, đọc kinh, tán thán được gọi là Trợ nghiệp.
    • Lý do: Khi một người ở vào trạng thái bất lực nhất (hấp hối, tàn tật, hay một con vật), họ không thể lạy, không thể đọc kinh. Nếu cứu độ cần nhiều điều kiện, thì lòng từ bi của Phật vẫn còn giới hạn.
    • Điểm mấu chốt (Nguyên lý) nằm ở chỗ: Danh hiệu không đơn thuần là âm thanh, mà là TOÀN THÂN và SINH MẠNG của Đức Phật A Di Đà.

    Nghĩa là khi miệng ta xưng danh, thì sự vận hành tâm linh diễn ra tức khắc (Thân Tâm Nguyện) của Phật vốn nằm sẵn trong Danh Hiệu, do đó sẽ hiển lộ và bao trùm lấy chúng ta. Đây chính là cách thức kết nối trực tiếp nhất, khiến Phật và ta tuy hai mà một, thành tựu trọn vẹn mà không cần qua trung gian lễ bái hay tụng đọc phức tạp.
    VÌ VẬY XƯNG DANH CHÍNH LÀ HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CAO NHẤT CỦA CUNG KÍNH VÀ NHỚ TƯỞNG.

    III/Thân Cận Duyên trong trạng thái chỉ xưng danh là thế nào?
    1/Nhiều người lầm tưởng phải Lễ bái mới là Thân cận, nhưng thực tế:
    • Miệng niệm Phật nghe: Đây is sự tiếp xúc trực tiếp về âm thanh và năng lượng.
    • Tâm xưng Phật biết: Khi danh hiệu vang lên từ tâm thức (dù chỉ là tiếng niệm yếu ớt), luồng sóng tâm linh đó lập tức kết nối với Tâm Quang của Ngài.
    • Sự nương tựa tuyệt đối: Chính cái BẤT LỰC của căn cơ không lạy được, không kinh kệ được, không làm phước thiện được lại là lúc NGÃ MẠN CHẾT ĐI và niềm tin trọn vẹn sống dậy. Khi chúng ta nhận ra mình không còn gì để bám víu ngoài danh hiệu, đó là lúc sự Nhiếp Thủ diễn ra mạnh mẽ nhất.

    2/Nguyên lý vận hành nhiếp thủ: Trong tác phẩm Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ, và trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ có nói Tâm Quang của Phật A Di Đà chỉ đi tìm chúng sinh niệm Danh Hiệu Ngài để NHIẾP THỦ KHÔNG BỎ, chứ không nhiếp thủ chúng sinh tu các hạnh khác.
    Chúng ta hình dung Danh Hiệu Phật A Di Đà như một khối Nam Châm, nó chỉ hút chất Sắt, chứ không hút các kim loại khác. Tương tự chúng ta Niệm Danh Hiệu Phật A Di Đà thì tự động Quang Minh sẽ nhiếp thủ giữ chặt lấy chúng ta.

    Phật A Di Đà đã nén toàn bộ công đức, trí tuệ và ánh sáng của Ngài vào 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật. Khi ta xưng danh, ta không phải đang làm một việc tầm thường, mà là đang mở công tắc để toàn bộ năng lượng của Phật tràn vào.
    Xưng danh là phương pháp tối thượng vì nó chứa đựng sự khiêm cung tuyệt đối. Khi ta chỉ xưng danh, ta đang thưa với Phật rằng: Con hoàn toàn bất lực, con chỉ biết dựa vào Ngài. Chính sự buông bỏ hoàn toàn nỗ lực tự thân đó mới giúp ta khế hợp hoàn toàn với Tâm Quang Nhiếp Thủ.

    Phần 4: PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC PHẬT VÀ CHÚNG SINH.

    Chúng ta đừng sợ rằng nếu chỉ niệm Phật (xưng danh) thì ít quá không đủ công đức.
    Vì trong Danh Hiệu đã đầy đủ công đức do Đức Phật A Di Đà đã tốn tải triệu vĩnh kiếp để làm ra. Việc lạy Phật, tụng Kinh là rất tốt để rèn luyện thân tâm, nhưng đó là tướng tu. Lễ lạy là để tán dương Phật, nhưng xưng danh là để về với Phật. Kinh Văn là phương tiện/bản đồ chỉ đường, đã biết đường rồi thì bỏ phương tiện xuống.

    Nguyện lực của Phật nằm trọn trong Danh Hiệu, khi chấp vào tướng, vô tình chúng ta coi rẻ Công Đức trong Danh Hiệu mà Ngài đã ban cho mình.
    Bản chất của hồi hướng công đức trong pháp môn Tịnh Độ Thuần Chánh là Phật A Di Đà Hồi Hướng Ngược lại cho chúng sinh để CỨU HỌ VỀ CỰC LẠC, chứ không phải chúng sinh hồi hướng cho Ngài. Vì được Vãng Sanh là do Công Đức Vô Lậu, nhưng chỉ có Bậc Đã Giác Ngộ mới làm nổi công đức này.

    Vì thế hết thảy chúng sinh muốn hưởng trọn công đức ấy thì: ngưỡng cửa phải bằng không. Đây là mẫu chốt Tổ Thiện Đạo khai thị cho chúng ta phải khế nhập vị trí căn cơ hạ ngu hạ liệt. Muốn vậy thì bạn phải tuyệt đối phó thác.
    1/Trạng thái Tuyệt đối nương tựa (Phó thác) là gì?
    • Chỉ MỘT CÁCH xưng danh là biểu hiện của sự khiêm hạ tột cùng.
    • Người còn thấy mình cần phải tụng kinh giỏi, lạy Phật nhiều mới vãng sinh được, là người vẫn còn thấy mình có khả năng.
    • Người chỉ xưng danh với tâm thế nương tựa tuyệt đối là người đã nhìn thấy sự bất lực của chính mình (tội chướng thâm trọng).

    2/Không lễ lạy/chẳng đọc Kinh có phải là lười biếng?
    Chúng ta hiểu rằng chỉ cần xưng danh là chuyên chứ không phải lười. Chỉ xưng danh không có nghĩa là niệm qua loa cho xong, mà là tâm tâm niệm niệm đều gửi gắm vào 6 chữ hồng danh. Khi hiểu được ánh sáng Tâm Quang chỉ nhiếp thủ người niệm Phật, thì ta sẽ niệm Phật với niềm vui sướng và lòng biết ơn, chứ không phải niệm trong lo âu hay áp lực về số lượng.

    Chúng ta tìm hiểu căn cơ Hạ Phẩm Hạ Sanh sẽ thấy đây là những chúng sinh:
    1. Tội lỗi thâm trọng nhất được Phật cứu ở tình huống lâm chung nguy hiểm nhất.
    2. Những trường hợp không có bất kỳ khả năng gì ngoài việc miệng bắt chước người khác niệm Phật như loài vật, như trẻ nít.
    3. Những người tàn phế, người già yếu không thể làm gì, nghĩ gì, hành động gì ngoài việc miệng xưng.
    Vậy nếu chúng ta là những người khỏe mạnh, tinh thần sáng suốt mà lấy khả năng của mình để tính công thì:
    a. Những trường hợp trên đã bị loại.
    b. Hơn thế nữa chúng ta lại không công nhận lòng Từ bi của Phật.
    c. Và càng chứng tỏ chúng ta không Tuân Thủ Nguyên Tắc Chung Chỉ Một XƯNG DANH.
    Không lễ bái, không kinh chú không phải là lười mà đó là tâm ý đã dồn hoàn toàn vào Danh Hiệu. Nếu mình vẫn chấp vào tướng tu thì có phải lại bị pha tạp với tâm niệm hay không? Căn cơ kia họ thấy mình lễ họ lại nghĩ bản thân mất cơ hội hay không?
    Và khi dùng MỘT CÁCH xưng danh này, thì mọi chúng sinh cùng hưởng công đức do Phật A Di Đà trao cho là như nhau.

    Phần 5: LƯU Ý.

    Chúng ta không bác bỏ bất kỳ pháp môn hay hạnh tu nào, bởi mỗi phương tiện đều ứng hợp với căn cơ và nhân duyên riêng biệt của từng chúng sinh. Tuy nhiên, vì chúng ta đang nương theo Hoằng Nguyện (Nguyện thứ 18), nên cần giữ tâm chuyên nhất vào tiêu chí xưng danh. Việc nhất tâm xưng danh giúp chúng ta tiến thẳng vào Thệ Nguyện cứu độ thứ 18.
    Pháp nào cũng đều do Phật thuyết nên qua đây chúng ta cũng tuyệt đối không được chê bai, bài xích các hạnh tu khác hay các lối tu khác để tránh việc hủy báng Pháp của Phật.

    Cụm từ Nan Tín Chi Pháp mà Đức Bổn Sư nói về Pháp Khó Tin chính là việc chúng ta không thể TIN được một câu Phật Hiệu mà lại cứ đi tìm niềm tin ở đâu. Khi đi sâu vào Pháp này, chúng ta sẽ thấy rõ sự nhất quán, thông suốt, từ đầu đến cuối của mạch Thuần Chánh là BẢO VỆ ĐẾN CÙNG CHO DANH HIỆU. Chúng ta tuân thủ MỘT CÁCH chính là Tin Tưởng tuyệt đối Phật A Di Đà.

    Như vậy càng học chúng ta càng thấy mình bất lực, nhưng chính sự bất lực đó lại là chìa khóa để nhận được sự che chở lớn nhất của Phật. Vì thế bài viết này thực sự chỉ dành cho người nào thâm nhập tận cùng của Bổn Nguyện 18.

    Phần 6: XÓA BỎ TÂM GHI CÔNG.

    1/Nếu chúng ta lấy việc lạy Phật hay tụng Kinh làm tiêu chuẩn vãng sinh, thì chúng ta đang vô tình khép cánh cửa cứu độ lại với những người già yếu trên giường bệnh, những chúng sinh đang lâm chung không còn sức cử động, và những loài động vật không thể hiểu biết gì.

    2/Phá bỏ tâm lý Ghi công: Nếu chúng ta cho rằng lạy nhiều, tụng nhiều để tích lũy công phu, đôi khi lại là cái bẫy của bản ngã (muốn có vốn để hồi hướng cho Phật). Chúng ta trở về với tiếng niệm thuần khiết là cách để quét sạch mọi sự tính toán, chỉ còn lại sự giao thoa thuần túy giữa Phật và chúng sinh.

    3/Đức Phật A Di Đà không làm khó chúng ta như vậy, Ngài mở một con đường rộng nhất, thấp nhất (xưng danh) để không một ai bị bỏ lại phía sau.
    Như vậy kể cả chúng ta vẫn có khả năng lễ lạy, có khả năng đọc Kinh… nhưng chúng ta lại không đặt mình về đúng điểm mốc là căn cơ VÔ LỰC NHẤT, thì nghĩa là chúng ta vẫn không đạt tiêu chí PHÓ THÁC – NƯƠNG TỰA HOÀN TOÀN.
    Do đó hãy buông bỏ cái tôi muốn ghi công/tính toán, để chỉ còn một tiếng Nam Mô A Di Đà Phật thuần khiết nhất.

    Phần 7: MẠCH TRUYỀN THỪA.

    Mạch Tịnh Độ dòng Tổ Thiện Đạo chúng ta đang học là MẠCH GỐC được truyền thừa THUẦN CHÁNH dẫn đến chúng sinh dùng tâm THUẦN TÚY để tiếp nhận dẫn đến dùng hạnh THUẦN NHẤT một câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT mà niệm. Đây là chuỗi mắt xích liên kết chặt chẽ, giúp người tu vững chắc lập trường tiêu chí CHỈ MỘT.
    Cũng vì nhiều quan điểm cho rằng tùy duyên mà làm, thì nghĩa là chúng ta vẫn không đạt tiêu chí PHÓ THÁC 100%. Bởi nếu còn tùy duyên (thêm lễ lạy, đọc kinh…), thì Chánh Định Nghiệp không xác lập được.

    Thệ Nguyện cứu độ là Bình Đẳng, thì phàm phu vô trí hay một bậc Cao Đức nào khác, khi đứng ở vị trí vô lực, đều được Phật bảo bọc như nhau. Hàm Nghĩa Nguyện 18 rất rõ: Duy nhất chỉ có HẠNH XƯNG DANH là LỰA CHỌN CỦA PHẬT A DI ĐÀ.

    Chúng ta phải hiểu rõ khái niệm Phó thác 100% là không có bất kỳ khả năng gì hết, nên nếu còn thấy mình phải làm thêm việc này việc kia, thì nghĩa là ta chưa thực sự đứng ở vị trí vô lực nhất. Chỉ khi đứng ở vị trí con số 0 – vị trí của kẻ hoàn toàn trắng tay – thì 6 chữ Hồng Danh mới thực sự trở thành toàn bộ sinh mạng của người tu.

    Phần 8: KHẲNG ĐỊNH PHÁP VÀ LẬP TRƯỜNG.

    Kính thưa các Huynh (kết nối các phần trình bày ở trên lại), chúng ta sẽ thấy bắt buộc phải khế nhập ở vị trí căn cơ hạ ngu hạ liệt là chỉ xưng danh thôi, thì bạn mới tới được vị trí thấp nhất mà Phật A Di Đà khởi động cho mục tiêu cứu độ của Ngài.
    Nghĩa là trước tiên, Ngài sẽ thòng dây xuống đáy vực để đưa người nguy hiểm nhất lên trước. Vì thế chúng ta đứng ở vị trí này mới tận dụng được toàn bộ sự ưu ái của Ngài.
    Kẻ yếu nhất chắc chắn sẽ được sự quan tâm lớn nhất: tu hành đơn giản nhất, nhưng kết quả thành tựu cao nhất. Đây mới là điểm Tuyệt Hảo của Vua Bản Nguyện.

    1/Tính nhất quán của mạch Pháp: Phương pháp mà Phật A Di Đà yêu cầu là chỉ cần xưng danh vì phù hợp Bổn nguyện của Ngài, tại sao ta lại cứ thêm hạnh này hạnh kia vào thì niềm tin của ta đã Chân Thật Chưa?
    Phương pháp chung để cứu độ 10 phương chúng sinh mà Phật A Di Đà áp dụng là chỉ dùng MỘT CÁCH, nếu ta thêm ý của ta vào thì đó là thêm cách thứ 2. Hơn nữa TIÊU CHÍ CHUNG chỉ cần xưng danh là Ngài áp dụng từ căn cơ vô lực nhất (người già yếu, người tàn tật, động vật là những căn cơ không thể làm gì khác ngoài xưng danh).

    2/Hàm ý của bổn nguyện 18 xưng danh chính là lựa chọn Duy Nhất của Phật A Di Đà.
    Nên các hạnh khác chỉ là trợ cho chính người tu chứ không phải trợ cho Danh Hiệu.
    Các đồng tu nếu muốn khế nhập tận cùng của bổn nguyện 18 cũng phải như vậy thì mới vào được Tha Lực Tuyệt Đối. Mạch pháp này là một lộ trình tư duy: Dứt khoát – Chặt chẽ – Triệt để. Không có kẽ hở để người khác có thể phản biện lại.

    Phần 9: TỔNG QUÁT.

    1/Tỳ Kheo Pháp Tạng vốn là một vị Cổ Phật, chứ không phải cách đây 10 kiếp Ngài mới thành một Vị Phật tên là A Di Đà. Bởi thế Năng Lực, Trí Tuệ, Tâm Từ và Lòng Bi Mẫn của Ngài vượt qua mười phương Chư Phật. MỘT CÁCH Áp Dụng Cho Tất Cả đã tôn vinh Ngài là PHẬT TRUNG CHI VƯƠNG.

    2/Danh hiệu chính là Thể của Công đức: Trong câu Nam Mô A Di Đà Phật đã chứa đựng trọn vẹn Lục độ Vạn hạnh, Muôn đức, Muôn thiện của Ngài Pháp Tạng tu tập từ tải triệu vĩnh kiếp quá khứ rồi. Khi ta xưng danh, là ta đã nhận toàn bộ TÀI SẢN đó.

    3/Sự tương ứng (cảm ứng đạo giao): Chỉ có xưng danh mới tương ứng với Nguyện thứ 18. Tổ Thiện Đạo dạy: Thuận theo Nguyện Kia thì vãng sanh. Các hạnh khác (lễ bái, tụng kinh…) nếu không hồi hướng về Cực Lạc thì việc xưng danh chỉ là phước báu hữu lậu.

    4/Tính dễ dàng để đạt tới sự chuyên nhất: Lễ lạy có thể mệt, tụng kinh có thể quên, nhưng xưng danh thì lúc đi, đứng, nằm, ngồi, lúc khỏe hay lúc lâm chung cực nhọc đều làm được. Đó là lòng từ bi tột cùng của Phật.

    Thưa các đồng tu. Mạch Pháp này không phải là lời nói suông, mà là một lộ trình tư duy Dứt khoát – Chặt chẽ – Triệt để. Chúng ta đi từ Bản nguyện (Gốc) đến xưng danh (Thân) và kết thúc ở tha lực tuyệt đối (Quả). Ai đã đi trọn những phần này mà thấy lòng nhẹ bẫng, an tâm, đó chính là người đã được Phật A Di Đà thòng dây xuống đáy vực đón đi rồi đó ạ!

    Phần 10: KẾT LUẬN – MỘT CÁCH ÁP DỤNG CHO TẤT CẢ.

    Bài Pháp này viết một cách hoàn toàn chân thật để mô tả tận cùng tâm lượng cứu độ Bình Đẳng của Phật A Di Đà cho tất cả mọi căn cơ. Để khế nhập được bài này, đồng tu phải vào được Tận cùng của Bổn nguyện 18 thì sẽ cảm thọ. Pháp của Phật A Di Đà không dành cho người giỏi, mà dành cho người tin. Không dành cho người mạnh, mà dành cho người dám buông tất cả khả năng của mình xuống để được Phật A Di Đà cứu.
    Chỉ có ai vào sâu Nguyện 18 theo mạch Tổ Thiện Đạo thì mới chấp nhận được bài này. Thệ Nguyện 18 là vào bằng niềm tin, chứ không nói đến hiểu.

    Chúng ta nên biết khi Tổ Thiện Đạo khuyên người tu khế nhập căn cơ vô trí vô lực là muốn họ tận dụng toàn bộ (hưởng trọn vẹn) sự cứu độ vô điều kiện của Phật A Di Đà. Nếu người tu chỉ duy nhất xưng danh không cần thêm bất kỳ hạnh gì khác, đó là họ chung thủy một cách tuyệt đối nơi câu Phật Hiệu.
    Khi họ đã thẩm thấu hàm nghĩa Thệ Nguyện cứu độ (Một Cách Áp Dụng Cho Tất Cả), thì đương nhiên họ không dại gì mà thêm thắt vào nữa.

    Đây là phương pháp giải quyết mọi duyên sự cả trong Thế gian Pháp và trong Phật pháp. Vì đưa mình về căn cơ vô minh nhất, vô lực nhất, để thấu rõ nguyện của Phật A Di Đà chứ không phải mù mờ biến mình thành một kẻ khờ khạo về nhận thức, liều lĩnh về hành vi ứng xử, ngạo mạn về tri kiến phàm phu. Và chỉ khi chúng ta không có một chút năng lực gì thì Chư Phật mới gia trì hộ niệm cho bạn đấy ạ.

    Một Pháp cứu độ tất cả chúng sinh thể hiện Đại Trí Tuệ Đại Từ Bi của Phật A Di Đà.
    Một Hạnh xưng danh thể hiện công phu tu tập Đại Tinh Tấn của chúng sinh.
    Hai tiêu chí này thực chất là Sự Hợp Lực Nhất Thể. Phật và chúng sinh cùng gặp nhau tại điểm chạm Giao Thoa. Cũng chứng minh rằng đó là chúng sinh đã thực hành muôn đức muôn hạnh rồi.

    Khi bạn chỉ thuần nhất với Một Cách – Xưng Danh nghĩa là bạn đã (TIN tuyệt đối) với Nam Mô A Di Đà Phật. Bạn đã tiếp nhận Pháp một cách thuần túy, thực hành một cách thuần thục, tin tưởng một cách thuần khiết. Đây chính là Kẻ Khờ nhưng biết Nghe Lời.

    Thuần thì sẽ Chuyên, Chánh thì không Tạp. Nên mới nói thuần khiết mà tiếp nhận, thuần túy mà tin, thuần nhất mà thực hành thì sẽ tới thuần thục.
    Tâm Nhất, Hạnh Chuyên liền được Bất Loạn. Liền tương ưng với BÁO ĐỘ THÙ THẮNG.

    MỘT CÁCH mà đức Từ Phụ áp dụng thì Phàm Phu và Thánh Nhân đều được về Cõi Báo Độ là một minh chứng về sự Bình Đẳng không Phân Biệt của Đức Phật A Di Đà
    Bình đẳng nghĩa là Trên ngang bằng với Dưới – Dưới ngang bằng với Trên. Đây là mấu chốt của Từ Bi Vô Lượng, Trí Tuệ Vô Cùng, Quang Minh Vô Ngại, Thọ Mạng Vô Lượng của Phật.

    MỘT CÁCH (để cứu) và MỘT CÁCH (để được cứu) chính là điểm giao thoa đúng tần số.

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
    Diệu Hậu.PD

    Trả lời
  4. PD. Diệu Hậu viết

    13/02/2026 lúc 12:07

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
    Kính thưa Tuệ Tâm,
    Dẫu sau bài viết “MỘT CÁCH ÁP DỤNG CHO TẤT CẢ”, con đã gửi thêm các bài khác, nhưng dư âm và sự tâm huyết về bài viết này vẫn luôn thôi thúc con phải gửi lời tri ân chân thành nhất đến Tuệ Tâm.

    Bài MỘT CÁCH chính là bản tổng kết ĐIỂM CỐT LÕI NHẤT từ 22 bài cảm thọ về Bộ Tư Tưởng của Tổ Thiện Đạo mà con đã chiêm nghiệm trong hơn một năm qua. Đây là tất cả tâm huyết và sự thao thức của con về dòng Pháp Thuần Chánh.
    Thú thật, khi viết xong, con đã rất cân nhắc việc có nên gửi hay không. Bởi lẽ, nội dung phá chấp trong bài rất mạnh, buộc người tu phải can đảm đối diện với căn cơ “hạ chí, hạ liệt”, thừa nhận sự VÔ LỰC hoàn toàn của bản thân để có thể hưởng trọn vẹn 100% Tha Lực cứu độ của Đức Từ Phụ.

    Con hiểu rằng, phần lớn hành giả Tịnh Độ hiện nay vẫn đang kẹt vào “Yếu Môn” (tự lực kèm tha lực) mà không hay biết. Chỉ cần một chút ý niệm “Ta đang tu” xen vào, là đã đánh mất sự phó thác hoàn toàn. Sự quyết liệt trong bài viết có thể là một “vách ngăn” với những ai chưa sẵn sàng buông bỏ tự ngã, nhưng đó lại là con đường duy nhất để đi vào Bản Nguyện.

    Con chân thành cảm ơn Tuệ Tâm đã thấu hiểu và duyệt đăng bài viết này. Cầu nguyện Đức Bổn Sư, Đức Từ Phụ và Mười Phương Chư Phật gia trì cho tất cả chúng sinh, dù căn cơ nào cũng có thể buông xuống tự lực, thâm nhập vào MỘT HẠNH XƯNG DANH VƯỢT TRÊN MUÔN HẠNH.
    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.

    Trả lời
    • Tuệ Tâm viết

      14/02/2026 lúc 08:48

      Nam mô A Di Đà Phật.
      Trân trọng tâm huyết của bạn! Đúng là thời nay chúng sanh cang cường, rất khó vào được Bản nguyện. Nhưng cũng chính vì thế mà xu hướng tu theo Bản nguyện là không thể đảo ngược. Bởi dần dần người ta sẽ nhận ra không cách chi tu theo Yếu Môn được. Việc của chúng ta, tuy bây giờ đang húc đầu vào tường, nhưng đó là sự chuẩn bị cho hành giả Tịnh Độ trong tương lai.

      Hiện tại ma chướng phá rất mạnh, rất nhiều hành giả Bản Nguyện vì nôn nóng khởi niệm độ sanh mà lọt vào lưới ma. Vì thế, mong bạn vững tin hành trì và nhớ tránh tạp duyên bên ngoài, đặc biệt tránh khởi niệm tham gia pháp hội hay đạo tràng. Ẩn tu trong giai đoạn này là bậc nhất!

      Trả lời
      • Diệu Hậu. PD viết

        15/02/2026 lúc 20:33

        Nam Mô A Di Đà Phật. Con đã thấu hiểu khai thị của Tuệ Tâm, con xin cám ơn ạ. Nam Mô A Di Đà Phật.

      • Tuệ Tâm viết

        16/02/2026 lúc 06:13

        Nam mô A Di Đà Phật.

Sidebar chính

Phá mê & Sanh tín

Hiểu Luật Nhân Quả như thế nào là đùn với lời Phật dạy

Hiểu Luật Nhân Quả như thế nào là đúng với lời Phật dạy

25/11/2024 57 Bình luận

Hiểu Luật Nhân Quả như thế nào là đùn với lời Phật dạy

Đức Phật thuyết Pháp bằng ngôn ngữ gì

18/06/2024 15 Bình luận

Cách cúng đầu năm mới, cúng tất niên

Cách Cúng Đầu Năm Mới

01/12/2021 89 Bình luận

Niệm Phật Tông Yếu-Pháp Nhiên Thượng Nhân

Niệm Phật Tông Yếu – Pháp Nhiên Thượng Nhân

24/10/2021 42 Bình luận

Trùng Tang chỉ là trò lừa bịp

Trùng Tang: Là thật hay cú lừa xuyên thế kỷ nhân danh Tâm Linh

27/09/2021 44 Bình luận

Đồng bóng còn gọi là Đồng cốt

Sự thật về Đồng bóng

13/04/2021 20 Bình luận

Lời Phật dạy về Hiếu đạo

Lời Phật dạy về Hiếu đạo

06/04/2021 35 Bình luận

A La Hán

A La Hán và 18 La Hán là ai

16/01/2021 6 Bình luận

Phật tử tại gia

10 điều quan trọng Phật tử tại gia cần biết.

31/12/2020 19 Bình luận

Cách thay đổi vận mệnh

Cách thay đổi vận mệnh

11/03/2020 38 Bình luận

Bài viết nổi bật

Mang thai nen tung kinh dia tang

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

30/10/2020 773 Bình luận

Cách niệm Phật tại nhà

Cách niệm Phật tại nhà

09/04/2020 553 Bình luận

Cách giải nghiệp phá thai

Cách giải nghiệp Phá thai

22/05/2019 394 Bình luận

Nghi thức niệm Phật chuẩn nhất

Nghi thức niệm Phật chuẩn nhất – Pháp sư Huệ Tịnh soạn

12/08/2019 295 Bình luận

Chép hồng danh Phật

Chép Hồng Danh Phật – Công đức lớn, dễ thực hành

24/09/2021 186 Bình luận

Thủ dâm

Thủ dâm tác hại khôn lường

29/08/2019 178 Bình luận

Ấn Tống Kinh Tượng Phật

  • Ấn Tống Kinh Vô Lượng Thọ Phật Kinh Vô Lượng Thọ
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫
  • Máy niệm Phật đặt nghĩa trang Máy niệm Phật ngoài trời
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫
  • Ấn tống Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫
  • Ấn Tống Kinh A Di Đà Kinh A Di Đà
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫
  • Ấn Tống Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Địa Tạng
    Được xếp hạng 5.00 5 sao
    0 ₫

Bản quyền © 2026 · Kinh Nghiệm Học Phật