HỘ PHÁP LÀ GÌ

Hộ pháp nghĩa là hộ trì và bảo vệ chánh pháp. Phần hữu hình thì người làm việc ích lợi cho Phật pháp như: Hộ trì đạo tràng, xây dựng chùa tháp, in kinh, trợ giúp quý thầy hoằng pháp…đều gọi là hộ pháp. Phần vô hình thì hộ pháp là chư thiên, chư tôn long thần, quỷ thần, tám chúng trời rồng. Do các Ngài phát tâm hộ trì chánh pháp, nên phàm bất cứ nơi đâu có tượng Phật, kinh Phật hoặc người học Phật nghiêm trì giới hạnh, nơi đó có chư tôn Long thần Hộ pháp hộ trì. Chỉ là, các ngài trong vô hình nên nhục nhãn của ta chẳng thấy mà thôi.

Hộ Pháp

Trong “Kinh Quán Đỉnh” đức Phật giảng: Nếu như chúng ta qui y Tam-bảo thì sẽ có 36 vị thần hộ pháp thần bảo vệ. Người thọ trì ngũ giới thì mỗi giới có năm vị thần hộ pháp bảo vệ, tổng cộng có 25 vị thần hộ pháp. Những thần vương này lại có hằng hà sa số quyến thuộc, thảy đều ủng hộ người tu. Trong “Phật Thuyết Tứ Thiên Vương Kinh” cũng ghi giống vậy. Người học Phật không kể là xuất gia hay tại gia, nếu tu tâm giữ giới, sẽ được Hộ pháp ngày đêm che chở, bảo vệ cho đến khi được thành tựu. Nếu không giữ giới, tất chẳng được như vậy, đôi khi còn bị các Ngài quở trách!

Thật ra người bình thường ai cũng có hộ pháp trong vô hình âm thầm che chở. Họ là ai? Họ chính là thần chủ mạng, phước thần và chánh thần ghi chép việc thiện ác của người. Vậy nên lời cổ nhân dạy: ” Trên đầu ba thước có thần minh”, là chân thật chứ không phải hư dối đâu. Nếu bạn sống thiện lương thì chư vị ngày đêm bảo vệ bạn, nếu bạn sống xấu ác hoặc làm các việc tổn đức như hại người, ngoại tình, tà dâm… chư vị giận dữ mà bỏ đi thì vô cùng nguy hiểm: Bạn rất dễ bị các loài phi hành quỷ mị, hoặc tà thần ác quỷ gá nhập tấn công. Điều này không thể không biết!

Người học Phật chân chính cần biết điều này:  Vi đà Bồ Tát, Thiên long bát bộ cùng Hộ pháp thần vương, chư quỷ thần đều luôn luôn bảo vệ người tụng kinh trì chú. Phàm là oan gia trái chủ, có muốn đến tầm cừu báo oán hay thiên ma ba tuần muốn tìm tới gia hại, đều chẳng thể lại gần. Nếu dốc sức thành tâm tụng kinh cho chúng sinh nghe rồi, trừ việc chuyên vì cá nhân nào đó mà tụng kinh ra, thì công đức tụng kinh xin hồi hướng cho chúng sinh khắp pháp giới. Lâu dần, túc oán sẽ hóa giải, bệnh dữ sẽ được lành, sự nghiệp dần thuận lợi

Tuệ Tâm trích đăng một số chuyện về chư Hộ Pháp trong bài viết này, nguyện người hữu duyên đọc được phát tâm chân chính học Phật, giữ giới để luôn được chư Thần hộ pháp che chở cho tới ngày thành tựu, dùng chánh pháp độ người, độ mình cùng thoát khổ!

Hộ pháp Vi Đà

Hòa Thượng Tuyên Hóa đã từng nói: “Bồ Tát Vi Đà đã phát nguyện, dù các vị tu hành có được ba phần, nhưng sẽ được bảy phần cảm ứng. Bồ tát sẽ giúp các vị, nếu các vị không tu hành, đương nhiên sẽ không có cảm ứng.”

Ngài kể lại lúc mới xuất gia: …” Hòa Thượng phương trượng trở về chùa. Vừa gặp tôi, Phương Trượng nói: “Chú tới rồi đó hả!” Tôi đáp: “Dạ! Con tới rồi!” “Tốt lắm, Thầy mời chú làm Thủ Tọa đó!”

Sau đó Ngài mở cuộc họp tuyển chọn Thủ Tọa. Trong chùa trừ Hòa Thượng phương trượng ra thì chức vị Thủ Tọa là lớn nhất. Trong chùa có mười mấy vị Thầy mà Phương Trượng không tuyển chọn, Ngài lại chỉ định tôi làm thầy Thủ Tọa. Mọi người đều phản đối rằng: “Chú ấy mới xuất gia, sao làm Thầy Thủ Tọa cho được?” Phương Trượng nói: “Như vậy chúng ta hãy đến chỗ thờ Bồ Tát Vi Đà rút thăm.” Thế là tên những người có tư cách làm Thủ Tọa được viết trên giấy rồi bỏ vào ống tre và lắc ra tên ai, thì người đó làm Thủ Tọa.

Lắc vài lần, kỳ lạ thay! Có lẽ Bồ Tát Vi Đà muốn tìm chút việc cho tôi làm, nên lắc ba lần đều văng ra tên của tôi. Sau đó không ai dám phản đối nữa, vì do Bồ Tát Vi Đà an bày mà. Cho nên lúc còn là Sa Di, tôi đã làm Thầy Thủ Tọa cho chùa rồi vì Hòa Thượng phương trượng đã nhận ra tôi. Sự quyết định này khiến cho một số Thầy lớn trong chùa tức chết được. Các Thầy đó gặp tôi, người này thì trừng mắt, người kia thì cau mày khỉnh mũi, tỏ thái độ khinh thường tôi và nói: “Hòa Thượng phương trượng thật điên đảo, ai đời cho Sa Di làm Thủ Tọa chứ? Đúng là lừa sư diệt tổ!” cứ như thế mà mắng nhiếc tôi. Tuy bị sỉ nhục, nhưng tôi cảm thấy rất mát ruột. Ai mắng tôi thì tôi coi như đang ăn đường mật; ai đánh tôi, tôi coi như được ăn bánh “nhân đậu”.

Làm Thủ Tọa rồi, Hòa Thượng phương trượng lại còn muốn dạy tôi làm quản gia tức như là trụ trì vậy. Tôi nghĩ: “Việc này quá phiền phức đi! Tôi không cầm giữ tiền, thì các vị thử nghĩ làm sao cai quản cái (gia) chùa này được chứ?” Cho nên khi Phương Trượng bảo tôi làm trụ trì, tôi nói: “Dạ được, nhưng con không đụng tiền! Người khác giữ tiền, người khác đếm tiền, con đi đến bất cứ nơi nào, con cũng không giữ tiền, nếu Thầy chấp thuận điều kiện này thì con sẽ làm trụ trì của chùa!” Cũng vì vậy, tôi bắt đầu trì giới “không nắm giữ tiền bạc, của cải!” Lúc đó ở Đông Bắc, có một khoảng thời gian tôi và tiền phân cách, tôi không sờ đến tiền. Khi đi xe lửa, tôi tới trạm xe đợi. Có điều rất kỳ lạ là mỗi lần tôi đến bất cứ nơi nào, đợi ở trạm xe, thì nhất định đều có người quen thuộc đến hỏi tôi đi đâu và mua vé cho tôi.( Đây là vì Ngài không giữ tiền nên Vi Đà Hộ Pháp can thiệp giúp Ngài – Tuệ Tâm)

Lại nữa, Hòa Thượng kể: Tôi từng tá túc tại Long Hoa Tự ở Thượng Hải. Tôi ở ngoài hành lang, buổi tối chỉ lót thêm một mớ rơm trên đất và ở như vậy không biết qua bao nhiêu ngày nữa. Và không ai biết, tôi biết về Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn cũng như chú Lăng Nghiêm.

Vào khoảng mùa Xuân, năm Dân Quốc thứ 37 tôi từ Thượng Hải đi thuyền tới Hán Khẩu, dự định từ Hán Khẩu sẽ đến Quảng Đông diện kiến Hư Lão( Hư Vân Hòa Thượng). Lúc đó, vì việc lật tàu có thể xảy ra bất cứ lúc nào nên có một số thuyền gia tin Phật phát nguyện hộ pháp, làm phương tiện cho người xuất gia. Phàm hễ người tu đi thuyền đều được miễn phí, hơn nữa họ còn cúng dường thực phẩm. Tôi từ Thượng Hải đến Hán Khẩu cũng đi loại thuyền miễn phí này vì tôi không có tiền.

Trên thuyền tôi gặp một anh què, tôi nhớ tên của anh ta là Hoàng Cố Lỗi (âm đọc), anh ta chống gậy để đi. Anh ta không đứng lên đi mà ngồi xổm dựa vào gậy lết đi từng bước rất khổ sở. Tôi hỏi anh ta: “Tại sao anh phải đi như vậy? Sao anh không đứng lên được?” Anh ta nói chánh phủ quản chế than đá, không cho phép tư nhân mua bán. Anh ta bán than đá lậu nên bị chánh quyền bắt vào tù, trong tù bị ẩm thấp khiến anh liệt chân bị què. Tôi vừa nhìn, biết được bịnh của anh ta không có quan hệ đến sự ẩm thấp, mà bị nghiệp chướng quỷ theo anh ta khiến anh ta như thế. Tôi cảm thấy rất tội nghiệp người này, nghĩ rằng tôi có thể trị lành chứng bịnh này của anh ta, nhưng không trị ngay lúc đó được. Tại sao? Vì nếu tôi trị cho anh ta hết bịnh tức cả tàu tìm đến và tôi sẽ có nhiều phiền hà.

Đợi tới ngày đó, dự tính buổi trưa 2 giờ đến Hán Khẩu, thì 8 giờ sáng tôi ngồi thiền trên boong tàu. Đúng lúc anh què lại đi ngang qua chỗ tôi ngồi. Tôi hỏi anh ta: “À! Anh có muốn cái chân của anh lành lặn lại không? Anh có muốn đứng lên không?” “Tôi đương nhiên là muốn rồi!” Tôi nói: “Nếu anh muốn đứng lên được thì hãy quăng cây gậy xuống sông đi!” “Tôi làm sao quăng gậy cho được? Tôi phải nhờ nó mới đi được, tôi không có nó thì không đi được!” Tôi nói: “Anh quăng nó đi, tôi sẽ giúp cho anh khỏe trở lại! Tại sao anh không xả cái cây gỗ này được chớ?” Anh ta nói: “Thật vậy sao?” Tôi nói: “Tôi không gạt anh đâu! Tôi gạt anh để làm gì?” Tôi nói như vậy, quả nhiên anh ta quăng cây gậy xuống dưới nước.

Lúc đó tôi niệm chú Đại Bi gia trì cho cái chân của anh ta, và xoa lên đầu gối của anh ta. Qua khoảng nửa giờ đồng hồ và tôi niệm 7 biến chú Đại Bi, xong tôi nói: “Anh hãy đứng lên nào!” Anh ta thử đứng dậy, quả nhiên đứng lên được! Tôi nói: “Nào, anh hãy bước đi!” Anh ta lại đi được. Tôi nói: “Anh hãy chạy xem!” Anh ta liền chạy quanh tôi. Anh ta giống như đang bị thôi miên vậy. Tôi bảo anh ta đi, anh ta liền đi; bảo anh ta chạy, thì anh ta liền chạy.

Chân của anh không cử động được là bị ma quỷ hành hạ. Tại sao tôi bảo anh ta quăng gậy xuống sông? Cho thấy anh ta tin tưởng tôi, khi tâm không hoài nghi tức mới có tương ứng. Bởi vì nghiệp chướng quỷ này tưởng rằng anh ta nhất định phải nương vào cây gậy để đi mà không ngờ anh ta lại quăng nó xuống sông, nên nghiệp chướng quỷ cũng theo gậy mà xuống nước. Cho nên anh ta mới có thể đứng lên được, lại có thể đi và chạy nữa.

Cả tàu đều biết anh ta không thể đi đứng được, nay nhìn thấy anh ta lại đi được, còn có thể chạy nên mọi người lấy làm kỳ quái, hỏi anh ta: “Tại sao chân anh được lành vậy?” Lúc đó tôi cũng quên dặn anh ta đừng nói tôi ra, đừng nói cho người ta biết là tôi làm. Khi hỏi như vậy, anh ta chỉ tôi, nói: “Là vị Pháp sư đó lấy tay xoa xoa chân tôi là tôi hết què liền!”

Thế là 70-80 người trên tàu bao vây chung quanh tôi. Người này nói: “Thầy ơi! Tôi bị nhức đầu, làm sao đây?” Người kia nói: “Tôi bị nhức răng, làm sao bây giờ?” Người nọ nói: “Cánh tay tôi bị đau, làm sao đây?” “Chân tôi đau, làm sao bây giờ?” “Tôi bị đau lưng, làm sao đây?” Lúc chưa phát sanh ra sự việc như trên thì trên tàu không có ai bịnh, nay vừa thấy anh què hết bịnh thì cả tàu đều có bịnh!

Có nhiều người bịnh như vậy thì phải làm sao đây? Lúc đó tôi bèn ra tay “La Hán”. Tôi nói: “Đa số các người đều bị nợ đòn, đều phải bị đánh.” Tôi đánh một chưởng lên đầu người nhức đầu, hỏi: “Có đau không?” Y lắc đầu nói: “Hết đau rồi!” Rồi tôi đánh một cái lên tay người đau tay, hỏi: “Còn đau nữa không? Nhúc nhích, động đậy thử xem.” “Á! Ngộ thiệt! Nó không còn đau nữa.” “Có nói láo không đây?” “Không đâu!” Tất cả đều công hiệu như “dựng sào thấy bóng,” có kết quả ngay tức khắc, không phải chỉ thử ở đó coi có hiệu quả hay không, mà hễ tôi nói lành bịnh là lành bịnh. Tôi cứ làm vậy nên người ta tưởng rằng tôi là Phật, Bồ Tát hay quỷ sống gì đó!

Lúc đó các người trên tàu đều hết bịnh, nên tiền lại đến, phiền phức cũng tới theo! Mới đầu tôi không có tới một đồng. Hốt nhiên nay lại phát tài, lúc đó là dùng tiền Pháp. Người này đưa 10 ngàn, người kia biếu 20 ngàn, họ cúng tối đa là 110 ngàn. Bởi đi xe lửa bắt buộc phải mua vé, và mỗi vé tốn 200 ngàn đi từ Hán Khẩu đến Quảng Đông, nên họ cho tiền là tôi nhận hết! Tôi thâu vào được khoảng 780 ngàn. Lúc ban đầu tôi trị bịnh cho họ, tôi tuyệt đối không có tâm phan duyên, cũng không nghĩ đến chuyện nếu y hết bịnh sẽ quyên tiền lộ phí. Tôi tuyệt nhiên không có ý nghĩ này! Còn như các người phát tâm cúng dường đây có thể nói là ngay nơi người ta không thấy đó có một sự cảm ứng. Bởi vì Hộ Pháp Vi Đà biết tôi không có tiền, nên mới động viên cổ võ các người này, bảo họ cúng dường chút ít tiền, Ngài đã quyên góp giùm tôi. Cho nên không những có vé cho một người mà còn đủ mua vé cho hai người luôn. Phải chăng là có chuyện như vầy? Các vị chắc không tin – đó không phải là vấn đề ở đây.

Hơn nữa còn có mười mấy người hẹn tôi đi khám bịnh. Người này nói: “Tôi có người bà con ở Hán Khẩu, y bị bịnh đã năm năm trời, trị liệu gì cũng không hết! Khi Thầy đến Hán Khẩu xin Thầy hãy trị bịnh cho y.” Người kia nói: “Người nhà con bị bịnh này nọ, thỉnh Thầy tới nhà con trị bịnh cho.” Lúc đó tôi không nói, được hay không được, chỉ nói đợi đến Hán Khẩu rồi sẽ tính sau! Tôi nghĩ tới Pháp sư Pháp Hiển đã từng gặp một thương nhân muốn xô Thầy xuống biển. Nhưng các người trên tàu lúc ấy, không có người nào muốn đẩy tôi xuống biển. Mọi người đều muốn tôi mau tới bờ để đi chữa bịnh cho thân quyến của họ. Chờ cho thuyền đến bến, người ta đều từ bên kia xuống tàu, tôi từ bên khác xuống tàu rồi dong mất. Họ đều đợi tôi xuống tàu từ bên đó, kết quả không có ai chờ tôi được! Lúc bấy giờ anh què được lành bịnh kia quy y tôi, lại mời tôi khi xuống tàu tới nhà anh ta ở một thời gian, nhưng tôi cũng không đi. Sau đó tôi cũng không có tin tức gì về anh ấy.( Theo tự chuyện của Hòa Thượng Tuyên Hóa)

Long thần Hộ Pháp

Ngài Hư Vân là một vị thánh tăng ngôn hành cao khiết, nên Ngài ở đâu cũng được Long Thần Hộ pháp âm thầm bảo vệ. Cuộc đời ngài có rất nhiều điều thần bí: Khi Ngài viếng núi Kê Túc thì chuông mõ tự ngân, lên chùa Cao Đảnh thì lan tiên tỏa hương thơm ngào ngạt, lúc giảng kinh thì cây khô sống lại, mai trổ sen, rau cải trong vườn trổ sen, thậm chí tất cả nến thắp trong đạo tràng cũng nở hình sen. Cầu mưa được mưa, cầu tuyết được tuyết, toan tính gì đều có thần ngầm phò trợ: giúp dời đá, lấp sông… Khi Ngài bắt buộc phải đốn cây cổ thụ thì cây đổ cũng lựa hướng bình an cho chùa. Lúc Nhật nhắm vào chùa Ngài dội bom thì bom lại rơi xuống chỗ vắng, không thiệt mạng ai nhưng phi cơ Nhật tử nạn, vỡ nát. Nhật sợ đến độ sau đó hễ có việc phải bay thì cũng đi đường vòng chứ không dám bay ngang chùa Ngài. Con vật nào được Ngài quy y thì lập tức ăn chay, tánh hung dữ hiếu chiến bỗng chuyển thành hiền lành. Bò cũng tìm đến Ngài cầu cứu, hổ cũng biết tìm Ngài cầu giới… Thọ thần, Long vương đều hóa hiện thân người tìm tới xin thọ giới…

Năm 43 tuổi Ngài phát tâm triều lễ núi Ngũ Đài, ba bước lạy một lạy, lễ Đức Văn Thù suốt từ Nam đến Bắc để cầu báo ân cho mẹ, ngót ba năm mới đến nơi. Điều đáng nói là giữa đường ngài bệnh nặng suýt chết, khiến Bồ tát Văn Thù “chịu hết nổi’phải xuống trần dưới thân phận gã ăn mày để cứu nguy, gánh đồ, nấu nướng, phụ việc cho Ngài…

Dưới đây là một giai thoại ly lỳ về việc triều sơn của ngài (lúc này có lẽ ngài gần trăm tuổi, do đệ tử ngài kể lại), mà tôi may mắn được đọc đến, xin chia sẻ phúc duyên này cùng độc giả:

Long thần hộ Pháp bắc cầu qua vực thẳm

Một ngày nọ, chúng tôi đang đi trên núi Vĩnh Phong thì bị lạc lối, cùng đường. Vì phía trước là một vực thẳm rộng hơn mười mét, nhìn xuống sâu hun hút không thấy đáy, xem như không thể nào đi qua bờ đối diện bên kia. Lúc này trời dần tối, hết cách xoay sở nên chúng tôi đành ngồi xuống tĩnh tọa, bắt đầu thời khóa tu, chuẩn bị qua đêm ở đây.

Ngay lúc đó một trận cuồng phong nổi lên, đến khi gió lặng, thì bỗng thấy bờ bên kia núi xuất hiện một con mảng xà khổng lồ, bề ngang gần nửa thước, miệng há to như cái chậu, Sư phụ bảo tôi:

– Thánh An, chúng ta có thể đi qua vực thẳm được rồi!

Lúc này tôi thấy con đại mãng xà, miệng há to, lưỡi lo le, mắt nhấp nháy, mắt đầu hướng về chúng tôi gật gật, tôi sợ rụng rời, khi nghĩ đến cảnh nó sẽ ăn thịt mình, tôi quay lại thưa với Sư phụ:

– Có phải ngài nói đùa với con không, có chắc là nó sẽ không ăn thịt chúng ta chứ?

Hòa thượng Hư Vân mỉm cười bảo:

– Đừng sợ, đó là Long thần hộ pháp, Bồ tát sai nó đến giúp chúng ta!

Sư phụ thấy tôi vẫn còn sợ, ngài bảo tôi nhắm mắt lại và nắm tay tôi dắt đi, tôi hí mắt nhìn, thấy cảnh con đại mảng xà vươn đầu qua vực thẳm và nằm mọp giống như tư thế bắc cầu. Hòa thượng Hư Vân bước qua trước, tôi cũng nối gót theo sau, có cảm giác như đạp trên chiếc cầu to có độ đàn hồi vậy. Cuối cùng chúng tôi qua được bờ đối diện, lúc này mới phát hiện con mãng xà này dài quá sức tưởng, vì tôi không nhìn thấy đuôi nó nằm ở đâu.

Đi qua bờ xong rồi, thì Hòa thượng Hư Vân liền ngồi xuống, tụng kinh. Một trận gió nổi lên, khi chúng tôi mở mắt ra thì không thấy mãng xà đâu nữa.

Tiếp tục đi khoảng chừng ngàn dặm (một cây số) thì đến một thôn, tên là Tây Tiêu Thôn, có tám mươi hộ dân sống trong đây, chúng tôi ngụ lại ba ngày.

Hộ pháp hiện thân giữa rừng

Còn một lần nữa, khi chúng tôi đi vào vùng sơn lâm nguyên thủy, núi này có tên là Hổ Khâu Sơn…

Thì bỗng dưng khí trời thay đổi, gió bụi nổi lên mịt mù, trời càng lúc càng tối. Nơi đây phía trước không có thôn làng, phía sau chẳng có quán xá. Chỉ có tiếng gió vụt vù. Một lát sau, mưa trút xuống ào ạt, băng đá rơi đầy, một hồi sau mới tạnh.

Cơn mưa lớn qua rồi, khắp nơi ẩm ướt, đường trơn trợt, trời mỗi lúc một tối, thế là chúng tôi đành trú ngụ tại đây. Tôi đi lấy nước, kiếm ít củi để nhóm lửa nấu nước. Do chúng tôi ai cũng mặc đơn sơ, lại bị một trận mưa to giáng xuống, nên toàn thân đều ướt và lạnh. Tôi vừa nấu nước vừa thổi lửa, thì bỗng nghe có tiếng hổ rống to. Chỉ nghe âm thanh chứ không nhìn thấy hổ. Nhưng một tiếng rống cất lên lại được mấy tiếng rống khác hòa đáp, hưởng ứng theo, coi bộ không phải chỉ có một con hổ!

Sư phụ thấy mặt mày tôi biến sắc, liền nói:

– Lại nhát gan nữa rồi! số chúng ta chưa hết thì sẽ sống mà, nếu mạng tận thì mới làm thức ăn cho hổ. Con hãy tới gần đây nương vào ta này, như vậy con sẽ không sợ nữa!

Do chúng tôi quá ngọ không ăn, giờ đành uống nước nóng lót dạ và ngồi tựa vào nhau.

Tôi khi đó còn nhỏ lắm, bởi đi đường quá mệt, nên chốc lát là ngủ say. Đến nửa đêm, tôi cảm thấy càng lúc càng ấm, vừa mở mắt ra thì… Ôi trời ơi! Hiện có sáu con hổ bự đang vây quanh chúng tôi. Đã vậy Hòa thượng Hư Vân còn đưa tay vuốt ve đầu con hổ chúa to nhất nữa chứ.

Lúc này đầu óc tôi thật sự hoang mang, vì không biết mình đang mơ hay là tỉnh? Lẽ nào tôi đang nhìn thấy cảnh “Hổ phục La hán”? Đã ba lần tôi định đứng dậy, nhưng Sư phụ đều ngăn lại không cho tôi đứng lên, ngài bảo tôi hãy mau niệm kinh, nhiếp tâm. Được một lát, tôi lại thiếp đi.Trời sáng, khi tôi thức dậy, Sư phụ cười bảo:

– Đêm qua con sợ lắm hả? Là Sơn thần đến thăm đấy.

Gặp đức Văn Thù Bồ Tát

Ở Ngũ Đài Sơn có một câu châm ngôn: Bồ tát đối với người hữu duyên thì… “Xa tiếp tám trăm, tiễn đến ngàn dặm” đương nhiên chung quanh Ngũ Đài Sơn khoảng tám trăm dặm không hề có thổ phỉ.

Hôm đó chúng tôi đang dừng nghỉ, đồng ngồi trò chuyện, Hòa thượng Hư Vân giải thích cho tôi hiểu các chuyện đã xảy ra. Ngài nói: Khi đó chúng ta gặp không phải mãng xà đâu, mà chính là rồng. Còn khi ở trên núi loài chúng ta gặp cũng không phải là hổ, mà là vương báo. Con xem, khi lên gần đến Ngũ Đài Sơn thì sẽ có người tiếp chúng ta.

Hôm đó trời đầy sương, Sư phụ hơi bị choáng đầu, chúng tôi nghỉ một chút thì lại lên núi tiếp.

Đi tới lưng chừng núi, thì bỗng thấy phía trước sáng rực, giống như có ánh điện quang vậy, Hòa thượng Hư Vân liền bảo chúng tôi hãy mau mau quỳ xuống hành lễ. Lúc này, thấy trên sườn núi xuất hiện Bồ tát Văn Thù, tay cầm phất trần phe phẩy, giống như muốn nói chi đó, cảnh tượng này kéo dài năm phút, quả thực là Bồ tát Văn Thù có hiện đón chúng tôi thiệt, điều này khiến chúng tôi mừng vui, toàn thân như được tăng thêm sức mạnh. Cả ngày lội bộ ngót mấy cây số, bữa trưa không ăn mà giờ cũng không thấy đói. Đến tối chúng tôi mới tới chùa Hạ Phong và ngụ lại đây hai ngày.

Sau đó khỉ chúng tôi ra về, rời khỏi Ngũ Đài chừng khoảng ba mươi dặm, thì thấy sườn núi bỗng dưng sáng rực ánh Phật quang, có một lão thái thái từ trên đi xuống, từ xa đã lên tiếng hỏi chúng tôi:

– Có mệt không?

Lúc này đang là mùa thu, bà lão lấy từ trong giỏ ra mấy trái hạnh to tặng cho bốn người chúng tôi.

Bà nói: Ăn trái thứ nhất thì không đói, ăn trái thứ hai thì không khát, ăn trái thứ ba thì hết mệt, ăn trái thứ tư thì toàn thân nhẹ nhàng tâm tình thư thái. Tôi nhận quả hạnh xong, nhìn lại thì không thấy bà lão đâu nữa.

Lúc này chúng tôi mới hiểu ra: Đây nhất định là Bồ tát Quan Thế Âm đã giúp chúng tôi. Bởi vì lúc đó là tiết thu, mùa thu thì làm sao có trái hạnh? Nhưng trong tay chúng tôi rõ ràng đang có trái hạnh. Trái hạnh này ăn xong rồi, đúng là mấy ngày không thấy khát, cũng chẳng thấy đói, tinh thần cực kỳ tốt.

Đây là những kỷ niệm về Long thần hộ pháp, thật hi hữu khó quên trong những lần chúng tôi triều sơn cùng Hòa thượng Hư Vân( Theo Báo ứng hiện đời).

Thần hộ Pháp

Đại Tướng quân Lý Mật triều đường, sau khi chết sinh làm Thần, đã hồi tâm quy y theo Phật môn làm thần hộ pháp và khuyên hóa nhiều chúng quỷ theo Phật.

Nơi các đạo tràng Phật giáo Trung quốc, trong khóa tụng thường nhật vào mỗi sáng tối, đệ tử Phật đa số đều có tụng bài Tán Già Lam để cảm ân công đức hộ pháp vệ giáo thù thắng của Bồ tát Già lam.

Già lam là khuôn viên Tăng chúng cư trú, cho chư thần Hộ pháp bảo hộ Già lam, gọi chung là Già lam Thánh chúng Bồ tát.

Trong cuốn Phật Tổ Thống Kỷ có ghi rõ câu chuyện: Tướng Quan Vũ thời Tam quốc sau khi chết thành thần đã xin thọ quy y ngũ giới, trở thành vị thần hộ pháp Phật giáo.

Từ đó về sau, tại các tự viện Trung Quốc thường thờ hình tượng Quan công đại biểu cho Bồ tát Già lam, chư vị Hộ pháp chuyên hộ vệ đạo tràng Phật giáo, bảo hộ đệ tử Phật không bị xâm hại, công không luống uổng, tương lai cũng tu thành Phật.

Tại đất Vân Nam thị trấn Hạ Quan này, phong cảnh đẹp như tranh vẽ, có ngôi miếu được xây vào năm Gia Tĩnh tên “Tướng Quân Động”, cũng có tên khác nữa là “Tướng Quân Miếu”.

Trong “Tướng Quân Động” có thờ một vị đại tướng quân nổi tiếng tên Lý Mật. Vào thời Đường, lúc chiến tranh ông mang quân chinh phạt đất Nam Chiếu, bị thua trận đã nhảy sông tuẫn tiết. (Tướng quân Lý Mật sống rất được ba quân tướng sĩ yêu mến, nên cái chết của ông khiến nhiều người trong số các binh sĩ đã than khóc đến khạc ra máu). Điều kỳ lạ là tuy Tướng quân Lý Mật phụng lệnh xuất chinh đến tận nơi này, nhưng nhân dân nơi này chẳng những không thù hận, ngược lại còn tôn kính ông trung nghĩa. Trong dân gian đến nay còn lưu truyền rất nhiều câu chuyện ly kỳ về Tướng quân Lý Mật, họ kể rằng: ông dù chết rồi vẫn rất hiển linh tại vùng đất này, hằng tỏa oai thần giúp đỡ người thế gian. Do vậy mà kề từ đó Đại Tướng quân Lý Mật được người vùng này tôn là “Lợi Tế Tướng Quân” (Vị tướng cứu tế làm ích lợi cho dân). Thành một trong vị Bản chủ (Thần vương) trứ danh đương địa.

Nơi đây khói hương nghi ngút, người đến xem bói cát, hung… náo nhiệt tấp nập, tín chúng thường mang lễ phẩm cúng dâng, cảm tạ Lý Mật đã hiển linh chúc phúc. Họ cúng dâng những gì? Do không hiểu nhân quả, nên họ thường hiến tế máu thịt chúng sinh, toàn là các thức mặn như gà, vịt, cá, heo v.v…Vì sao tôi phải giới thiệu về “Tướng Quân Động” và Đại Tướng quân Lý Mật vậy? Bởi vì đã có câu chuyện xảy ra vào ngày 23 tháng 5 năm 2011 như sau:

Hôm đó tôi nhận được điện thoại Quả Tịnh, cô sinh ra tại Vân Nam Đại Lý, lớn lên được gả đến miền nông thôn Tứ Xuyên. Trước khi học Phật, do bên cạnh cô không có người am tường Phật pháp hướng dẫn, bản thân cô cũng chưa gặp kinh Phật hay đọc qua các sách chánh pháp chi, vì vậy mà cô tu lạc, đi lòng vòng qua rất nhiều nẻo sai, nếm không ít khổ nhọc, rồi tình cờ nhờ một nhân duyên đặc biệt mà quen biết tôi. Kể từ đó cô thường điện cho tôi hỏi về Phật pháp.

Xin giải thích một chút về Quả Tịnh: Kiếp trước cô vốn tu Thiền, nhưng chưa minh tâm kiến tánh, do không có ý cầu giải thoát, cũng chẳng hề tin và muốn vãng sinh Tịnh độ, nhưng lại rất khao khát ham có thần thông, do vậy mà cô tiếp tục luân hồi sinh tử, nếm đủ mùi khổ.

Tuy trầm luân mê muội, nhưng đời này cô vẫn thừa hưởng khả năng đặc biệt từng tu trong kiếp trước, nghĩa là từ nhỏ đã có thể nhìn thấy những sự vật mà người thường không thấy, cô có khả năng thông linh, giao tiếp cùng các cảnh giới phi nhân. Bởi do sống nửa đời người mà chưa gặp Phật pháp, thiếu trí tuệ hướng dẫn, nên năng lực này chẳng hề đem lại cho cô bất kỳ điểm tốt nào, ngược lại còn tạo ra vô vàn thống khổ và tai họa cho cô. Những chuyện đó sau này tôi sẽ kể trong một bài viết khác, còn ở đây tạm thời tôi không bàn đến.

Năm 2005 Quả Tịnh vẫn đang ở Vân Nam, vì mưu sinh nên cô chưa tiếp xúc với Phật pháp, trong thời gian còn mù mờ này, cô được người giới thiệu đến “Tướng Quân Động” công tác, đảm nhiệm việc giải đáp quẻ xăm cho người. Do cô có khả năng thông linh giao cảm với các cõi chúng sinh, nên dễ dàng nhìn ra nguyên nhân nguồn gốc sự tình, nhờ vậy mà cô làm ăn rất khấm khá, thu được thành quả cao. Thế nhưng, cô hành nghề chưa được một tuần thì do trong gia đình có chuyện, nên phải buông bỏ công tác quay về quê nhà.

Sở dĩ hôm đó Quả Tịnh gọi điện cho tôi, là vì lúc ấy cô đang làm nông ở Tứ Xuyên thì bỗng thấy Tướng quân Lý Mật hiện thân, ông đã nhiều lần tìm đến cô, tỏ vẻ rất ngưỡng mộ năng lực giao lưu với các cõi phi nhân của cô nên đã ngỏ lời: Mời cô đến “Tướng Quân Động”, tiếp tục công tác giải quẻ xăm, ông còn hứa là sẽ trọng thưởng cho cô rất hậu, bảo đảm cô có thể sống một cuộc đời sung sướng viên mãn không bao giờ túng thiếu, chẳng còn phải bận tâm kiếm tiền, tha hồ thoải mái vô ưu. Vì vậy mà cô gọi điện đến cho tôi, để hỏi xem cô nên hồi đáp Tướng quân Lý Mật như thế nào?

Tôi hỏi Quả Tịnh:

– Tướng quân Lý Mật hiện đang ở đâu?

– Ông ấy hiện đang đứng bên cạnh tôi, dung mạo rất tuấn tú khôi ngô, cao lớn vạm vỡ, thân khoác áo giáp, tay cầm đại đao (loại mà các tướng quân thời cổ hay dùng), ông cưỡi con chiến mã lông trắng, dẫn theo mười mấy binh sĩ tùy tùng, đều ăn mặc giống như thời cổ đại. Ông ta đến, tỏ vẻ rất thành tâm, muốn mời thỉnh tôi đi, bởi vì tại chỗ đó rất ít người có thể giao lưu được với cõi của ông. Ngài nghĩ xem bây giờ tôi nên làm thế nào? – Quả Tịnh hỏi.

Tôi đáp: Đương nhiên là cô chẳng nên quay lại làm cái công việc giải quẻ xăm đó! Cho dù cô có kiếm được kim ngân tài bảo đầy nhà thì cũng không nên làm, bởi vì công việc này đối với đệ tử Phật cũng bị xem như là tà mệnh (nghề nghiệp không chính, như Phật đã mô tả), vì vậy cô nhất định phải nhìn cho thấu đáo, để từ bỏ và kiên quyết giữ gìn tâm đạo của mình. Đành rằng việc đoán mệnh giải xăm mặc dù cô có thể nói chính xác sự tình, song điều này cũng không đem lại lợi ích rốt ráo giúp đoạn trừ phiền não hay giải thoát sinh tử luân hồi cho chúng sinh chi cả. Hiện tại cô đã là đệ tử Phật, mặc dù sinh hoạt có bần khổ, nhưng nếu cô chịu siêng năng trì giới tu hành, thì chuyện liễu sinh tử, vãng sinh Tịnh độ, xuất ly tam giới… cô đều có thể đạt được. Tại sao cô lại vì chút lợi ích kinh tế nơi thế gian hữu hạn, mà cam tâm đem kho báu tu hành tối trân quý của mình ném phăng đi chứ hả?

Tướng quân Lý Mật chỉ là một vị Thần, là vua trong chúng quỷ, bản thân ông nghiệp chướng vốn sâu nặng, chỉ nhờ hành thiện mà tích lũy được một số phúc báu, nhưng phúc đó chỉ có thể làm Thần mà thôi, một khi phúc báo hưởng tận, há không phải ông ta vẫn phải tiếp tục luân hồi chịu khổ? Cô đã quy y Tam bảo, thành là đệ tử Phật, thì sao có thề đi theo phụng hầu chư quỷ thần chứ hả?

– Tôi hiểu rồi, do trong kiếp quá khứ tôi tu hành khởi niệm sai, nên kiếp này nửa đời trước bị sống mịt mờ không được biết đến Phật pháp, chỉ toàn dùng năng lực thần thông giao lưu cùng chúng sinh. Nếu không đưa chúng sinh vào con đường tu hành Phật pháp Đại thừa, thì chúng sinh vô phương đạt đến lợi ích chân thật. Hơn ba mươi năm nay, tôi luôn bị các loài phi nhân quấy nhiễu, trải qua tháng ngày sống chẳng bằng chết, không có một phút giây an tĩnh. Những đoạn trường này khó mà tưởng tượng nổi. Bây giờ tôi đã được biết chánh pháp, nếu như lại ham giàu, dồn hết thời gian vào việc giải quẻ xăm kiếm tiền, thì e rằng trong kiếp tương lai tôi cũng sẽ thọ đủ khổ nạn giống như hiện đời… Thôi! Thôi! Tôi không dám bước vào con đường này nữa đâu!

– Hiểu vậy là tốt! Cô cứ hồi đáp Tướng quân Lý Mật như những gì đã nói với tôi là được.

– Thực ra ông ấy đã nghe rõ nội dung hai bên đàm thoại và hiện đang có lời muốn nói với chúng ta…

Quả Tịnh ngừng một lúc, sau đó cô chuyển đạt lại từng câu Tướng quân Lý Mật muốn nói cho tôi nghe:

– Ông ta nói, sau khi nghe hai chúng tôi đàm thoại với nhau, ông cũng bị xúc động và có tỉnh ngộ. Vì ông và các quyến thuộc (gồm chư quỷ thần) đều ở tại “Tướng Quân Động”, hằng ngày tiếp nhận lễ phẩm chúng sinh cúng dường, ông chẳng từ gian lao, chiếu theo nguyện vọng của dân mà giải ưu bạt khổ. Bao năm nay chưa từng thay đổi, nhưng xem ra ông chỉ có thể trợ giúp họ một phần nào trong cuộc sống, chứ không thể giúp chúng sinh thay đổỉ mệnh vận. Tất cả chúng sinh, người nào cũng có phiền não nối tiếp phiền não, khổ nạn nối tiếp khổ nạn, làm sao cũng nhìn không thấu tận đầu nguồn, chưa kể trong cõi quỷ thần của ông, chỗ nào cũng có dẫy đầy chinh phạt, giết chóc… Hơn ngàn năm trước hai bên chết đi trong chiến tranh, giờ gặp mặt nhau trong cõi phi nhân, họ vẫn còn chém giết, sát phạt như cũ, oan oan tương báo…Tất cả điều này không sao ngưng dứt, khiến ông cảm thấy rất khó kham và quá mệt mỏi, chưa biết phải làm sao.

Thêm nữa, do dân chúng mến mộ tri ân, nên rất nhiều người đã dùng đồ mặn, toàn là máu thịt sinh mạng loài vật đem đến cúng tế ông, họ giết rất nhiều, vô số loài vật. Tại vùng đất đó họ lạm sát để hiến tế, khiến máu loài vật tuôn chảy nhuộm hồng cả dòng nước, ở trong miếu thì cảnh trạng náo nhiệt đông vui, song bên ngoài là những sinh vật bị giết, hồn oan của chúng khóc than, âm thanh vang trời, mặc dù ông là võ tướng có phúc báu, nên tạm thời trấn giữ cư trụ ở đó, nhưng tâm ông thường bất an, ông luôn muốn tìm một phương pháp để giải thoát đau khổ tận gốc cho cuộc sống, hôm nay được nghe chúng tôi đàm thoại, lòng cảm thấy rất có lý. ông ngỏ ý muốn xin thọ quy y Tam bảo giống như chúng tôi, được cùng làm đệ tử Phật, để nghe kinh thính pháp, tinh tấn tu trì, không muốn luân hồi nữa…

Tôi những tưởng là Tướng quân Lý Mật sẽ rất không vui khi nghe rõ cuộc đàm thoại giữa tôi và Quả Tịnh, ai ngờ ông có ngộ tính cao. Sau khi nghe ông bày tỏ tâm sự, thâm tâm tôi thầm tán thán thiện căn thâm hậu và sự tỉnh giác hùng mạnh của ông. Tôi bảo Tướng quân Lý Mật:

– Nghi thức Tam quy chính thức phải do Tỳ kheo thanh tịnh đại diện Tăng đoàn truyền thọ, chúng tôi chỉ là Phật tử tại gia, nên sẽ tạm dẫn ông đến trước Phật tự thệ Tam quy, sau này hội đủ điều kiện thì có thể thọ Tam quy với bậc thanh tịnh Tăng.

Tôi hướng dẫn tướng quân đọc Tam quy, và giải thích các ý nghĩa quan trọng của Tam quy, Ngũ giới, Thập thiện…

Tướng quân Lý Mật lại hỏi:

– Tôi cần phải đến đạo tràng nào để tu hành? Tôi bảo:

– Nếu lúc nào cũng siêng năng trì giới, niệm Phật… cầu sinh Tây phương, thì ngay đây vẫn có thể là đạo tràng! Muốn tu học theo Phật thì phải dụng công tu nơi tâm, đừng có ngoài tâm cầu pháp, nên giữ giới thanh tịnh, thường đến đạo tràng chánh tri chánh kiến, nghe kinh thính pháp giúp tăng trưởng trí huệ, hằng thân cận Thiện tri thức chân chính, y giáo phụng hành. Tại Ta bà thế giới sống một ngày, tu một ngày, thuận tiện thì dùng năng lực phi phàm của ông hộ trì tất cả đệ tử Phật trong thiên hạ, rộng hành thiện sự, lấy đây làm tư lương để vãng sinh Tịnh độ.

Tướng quân Lý Mật đồng ý và sau đó chào từ biệt chúng tôi.

Tối đó, Quả Tịnh lại gọi đển, kể rằng Tướng quân Lý Mật còn có chuyện muốn hỏi, ông nói như sau:

– Tôi hiện tại đã được tu hành theo Phật, nhưng còn chư tướng sĩ thuộc hạ, sau khi chết rồi họ vẫn một bề theo tôi. Còn có những oan hồn chúng sinh bị giết ngoài “Tướng Quân Động” nữa, tôi phải làm sao với họ đây?

Quả Tịnh giải thích rằng Tướng quân Lý Mật vào thời Đường phụng mệnh chinh chiến vì quốc gia, khi bại trận ông đã dẫn đầu tướng sĩ đến Hạ Quan phía tầy sông Nhĩ Hải trầm mình tuẫn tiết, thuộc hạ cũng nhảy sông tự vận theo. Có số chết rồi vẫn theo làm thuộc hạ Tướng quân Lý Mật, có số sớm đã chuyển sinh làm cá hay các loài súc sinh khác… lại có một số đến nay vẫn còn làm quỷ trong sông này, trải qua hơn ngàn năm rồi mà tuổi thọ kiếp quỷ chưa hết. Kể từ đó đến nay chúng vẫn còn ở trong dòng nước, luôn giãy giụa kêu cứu, vì mỗi khi chúng bơi đến bờ, thì nước lại dâng cao, nhấn chìm; khiến chúng không làm sao trèo lên bờ được, đành phải ở trong dòng nước tuyệt vọng, chịu đói lạnh, thống khổ, kêu rên…

Tôi bảo Tướng quân Lý Mật:

– Ông sống thì là Đại tướng quân, chết rồi sinh làm Thần vương, là vua của chư quỷ thần, được tôn thờ như Bản chủ, ông nên lợi dụng điều này, khuyên gọi tất cả chúng sinh hữu duyên với ông hãy nên quy y Tam bảo, học Phật tu hành, hầu có thể giúp họ ly khổ đắc lạc.

Tướng quân Lý Mật nghe rồi, lập tức ra lệnh cho tùy tùng đi rao truyền chỉ dụ của ông đến các chúng sinh hiện có trong khu vực thuộc quyền ông cai quản, khuyên tất cả đều hãy mau quy y Tam bảo, tu hành theo Phật.

Sau đó tôi hướng dẫn tướng quân vì chư thuộc hạ và chúng sinh hữu duyên đọc lời quy y.

Bỗng nhiên Quả Tịnh trở nên căng thẳng. Âm thanh của cô lộ vẻ sợ hãi khủng khiếp, cô run giọng mô tả:

– Bên cạnh tôi đột nhiên hiện ra một số quỷ nước, toàn thân phình trương, y phục đều ướt đẫm, da tái nhợt, mặt mày thảm não, đầu rối bù, tóc dài đến lưng, mắt phát ánh sáng xanh lè. Trong đây có một tên đột nhiên bật cười to và chạy tới gần, muốn ôm tôi, hắn lộ vẻ hoan hỉ nhìn giống như là muốn phát khùng vậy.

Tôi kêu Quả Tịnh phải lập tức niệm Phật ngay, loài thủy quỷ đột nhiên rời xa, còn con quỷ nước quái dị kia thì cười ha ha bảo Quả Tịnh:

– Tôi biết cô, vào thời Đường, thuở đồng niên ấy bạn chỉ mới 10 tuổi, còn tôi thì lớn hơn. Chúng ta vốn là đôi bạn thanh mai trúc mã, đồng trưởng thành trong một thôn trang. Đến lúc tôi đi lính thì gia đình bạn có hứa là: Sau cuộc chiến sẽ đồng ý cho tôi đến rước dâu, có ngờ đâu tôi vào binh ngũ đến nơi này, do bị chiến bại đành phải nhảy sông tự tử, một bề làm quỷ trong sông nước mênh mông, chẳng biết trải qua bao nhiêu năm tháng rồi. Tôi tuy chết đi nhưng không hề quên lời thề hẹn ngày xưa. Hôm nay có người vì chúng tôi truyền Tam quy, nhờ vậy mà chúng tôi có thể ra khỏi nước, không ngờ mới vừa lên tới bờ, thì đã thấy bạn đứng ngay trước mắt, bảo tôi không mừng vui sao được? Tôi ngóng vọng tân nương biết bao thời gian dài đăng đẳng, cuối cùng thì cũng được gặp nhau!

Tôi bảo tên quỷ nước kia:

– Quá khứ tâm bất khả đắc, những sự việc cũ xưa đã trôi qua, vĩnh viễn không thể quay trở lại. Quả Tịnh hiện nay là đệ tử Phật, cũng đã gả cho người rồi, chẳng nên vô lễ.

Tướng quân Lý Mật và chư Hộ pháp quỷ vương lập tức đưa tất cả loài quỷ nước đi xa khỏi Quả Tịnh.

Tôi và Quả Tịnh liền mời Tướng quân Lý Mật hướng dẫn tất cả cùng niệm Phật. Nương theo âm thanh “Nam Mô A Di Đà Phật”, Quả Tịnh nhìn thấy: Phía sau Tướng quân Lý Mật có rất nhiều chúng sinh đang lục tục kéo đến, họ sắp hàng thành một đội ngũ dài vô kể, gồm thuộc hạ của tướng quân và các chúng sinh bị giết ngoài “Tướng Quân Động”, còn có chư cô hồn dã quỷ đương địa, bọn chúng thảy đều bắt chước niệm Phật theo, có rất nhiều chúng sinh tướng mạo xấu xí, nay được biến đổi thành trang nghiêm trở lại, còn có một số chúng sinh cơ duyên thuần thục, dưới Phật lực gia trì ngay đó được thoát ly ác đạo, chuyển sinh vào cõi nhân, thiên hay thiện đạo… tu hành.

Từ đó trở đi, Tướng quân Lý Mật tùy thời mà đến đạo tràng nghe kinh thuyết pháp, tinh tấn tu hành, chưa được mấy ngày, lại thông qua Quả Tịnh, nhờ cô gọi cho tôi chuyển đạt các thắc mắc của Lý Mật như sau:

– Tôi được nhân dân Hạ Quan yêu mến, nay có mấy việc muốn nhờ ngài:

Một: Vì hiện tại tôi đã là đệ tử Phật nên không thể ăn thịt, sát sinh; mong hai cư sĩ mau nghĩ cách thông báo cho tất cả bách tính của “Tướng Quân Động” và Hạ Quan biết, tuyệt đối không nên đem máu thịt chúng sinh đến cúng tôi nữa, toàn bộ lễ phẩm xin hãy đổi thành đồ chay, nếu không, sẽ chẳng được phúc mà còn bị họa! Phần tôi cũng bị thọ tội, chịu khổ lụy theo vì họa sát sinh này. Loài vật vốn từng làm người, nên việc sát hại chúng chẳng khác nào giết người, nếu đem máu thịt vật đề cúng tế thần, là không thể, vì chúng cũng là dân của thần.

Hai: Xin hãy thay tôi cảnh báo người thế gian rằng: Tội phúc phân minh, chuyện nhân quả báo ứng, lục đạo luân hồi… tuyệt không hư dối. Tôi hiện nay đã tìm được đại đạo quang minh, triệt để lìa khổ được vui, thoát ly lục đạo luân hồi, đó là Phật pháp. Nên cũng hi vọng dân chúng hãy biết dứt ác tu thiện, siêng tu học Phật pháp, cùng đạt được lợi ích.

Tôi cũng phát nguyện gia nhập hàng ngũ Hộ pháp Thiên Long bát bộ, nguyện phù trì tất cả người học Phật hành thiện. Mọi người nhất định phải biết: Nếu rộng hành thiện, thì phúc kia tự đến, không cần phải cực nhọc giết hại chúng sinh tế cúng thần, để cầu được phù trì cứu khổ ban vui… Vì bản chất Thiện thần là: Luôn gia hộ chúc phúc cho những ai hành thiện.

Nghe ông tỏ bày, tôi tán thán lòng từ của ông và trân trọng đáp ứng sự ký thác của Tướng quân Lý Mật. Những điều Tướng quân Lý Mật ký thác quả rất quan trọng và có ý nghĩa.

Ẩm thực là vấn đề lớn mà quỷ thần luôn phải đối diện. Trong Phật giáo có các nghi thức tụng niệm chuẩn xác, hỗ trợ bố thí thức ăn thanh tịnh cho quỷ thần như: Kinh “Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni, Mông Sơn Thí Thực” v.v… nên cần truyền rộng và giới thiệu về lý nhân quả. Đây là nền tảng cần thiết cho việc nhập môn học Phật.

Sau đó tôi nhiều lần liên lạc vớỉ ban quản lý địa phương “Tướng Quân Động”, nhưng vẫn chưa thể liên hệ thành công, lại do nhân sự bận rộn quá nhiều nên vô phương đến Vân Nam Đại Lý lo liệu việc này.

Gần đây, Quả Tịnh mấy lần nhìn thấy Tướng quân Lý Mật, ông vì chúng tôi lo việc chưa thành mà tâm sinh phiền muộn, ông than rằng: Gần một năm nay có rất nhiều dân chúng giết vật mang tới cúng tế “Tướng Quân Động”, tạo thêm nghiệp chướng làm liên lụy việc thanh tu của ông, khiến oan trái tăng thêm, e rằng tương lai ông khó tránh bị đọa vào cõi súc sinh hoàn nợ mạng. Ông thúc hối tôi hãy mau nghĩ cách thực hiện tâm nguyện giúp cho ông. Tôi cũng cảm thấy việc này không thể trù trừ mãi được, đành đem câu chuyện này viết thành văn, hi vọng chư tín chúng Phật tử và khách du lịch xứ Vân Nam, sau khi đọc bài văn này rồi, cùng đem những điều Tướng quân Lý Mật ký thác, truyền lưu, thông báo cho nhân dân bản xứ “Tướng Quân Động”. Đồng thời cũng hi vọng việc này mang đến sự khai thị tốt cho người, khiến họ từ bỏ triệt để tập quán giết sát loài vật tàn nhẫn. Xin khuyên tất cả thế nhân: Chớ nên dùng máu thịt chúng sinh cúng tế thần linh và người mất!

Trong kinh Địa Tạng thuyết: Xin khuyên chúng sinh ngày lâm chung cẩn thận, chớ nên sát hại tạo ác cúng tế quỷ thần… Vì sao? Bởi việc sát hại cúng tế không đem lại chút công đức lợi ích nào cho bản thân họ và người chết, ngược lại còn khiến tội tăng nặng thêm, nếu người mất đáng được sinh vào cõi nhân thiên, hay đắc thánh quả, do bởi lâm chung bị chư quyến thuộc sát sinh cúng tế mà phải bị ương lụy lây, nên chậm sinh vào cõi thiện. Huống chi người sắp lâm chung, khi sống chưa từng tạo lành, phải theo nghiêp xấu vào cõi ác, tại sao quyến thuộc còn nhẫn tâm giết chóc khiến họ càng tăng thêm khổ nghiệp? Kinh Địa Tạng đã ân cần nhắc nhở, chúng ta phải ghi khắc trong lòng.

Thần vương Lý Mật qui Tam bảo

Già lam Bồ tát nay tăng thêm

Hộ pháp tâm từ tha thiết gọi

Cúng ngài xin hãy dùng thức chay!

Nguyện đem công đức bài văn này, cầu cho Tướng quân Lý Mật cùng chư quyến thuộc bộ hạ, và các loài vật bị giết, cùng tất cả chúng sinh trong lục đạo… đều được ẩm thực thanh tịnh, no đủ mỹ mãn, ly khổ được vui, tin thọ Phật pháp, vãng sinh Tịnh độ, tu chứng Bồ đề!

(Lý Mật sinh 582 mất năm 619, hưởng dương 37 tuổi. Tính từ năm ông mất đến lúc quy y Tam bảo vào năm 2011 thì ông và chư thuộc hạ đã trải qua 1.639 năm.)

( Hộ Pháp là gì – Tuệ Tâm 2020Theo Nhân quả báo ứng hiện đời )

Xem thêm:

+ Cách thay đổi vận mệnh.

+ Cách tụng kinh tại nhà.

+ Âm đức là gì.

+ Cách niệm Phật tại nhà.

+ 10 chuyện Tâm linh có thật.

+ 10 chuyện nhân quả báo ứng có thật.

+ Niệm Phật A Di Đà được cảm ứng.

+ Chú Đại Bi linh cảm ứng.

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *