Người thợ rèn vừa làm việc vừa dùng tâm tán loạn niệm Phật. Chỉ nhất hướng chuyên xưng danh hiệu hàng ngày, chẳng có công phu, chẳng đắc nhất tâm bất loạn và cũng chẳng đặng Tam muội hiện tiền. Chẳng biết thập thiện là chi, không biết Tịnh nghiệp Tam phước là gì, nhưng biết trước ngày giờ, làm kệ rồi đứng vãng sanh.
Vãng sanh Cực lạc dễ như thế, người tạp tu khắp thế gian không biết nghe câu chuyện này có ai sanh tâm tỉnh ngộ hay chăng?
Thợ rèn niệm Phật, cầm búa đứng vãng sanh
Vào thời nhà Tống, có ông thợ rèn họ Hoàng, người Đàm Châu, làm nghề rèn kiếm sống. Từ khi rèn sắt, miệng ông vẫn niệm Phật không ngớt. Vợ ông thấy vậy hỏi ông:
– Rèn thép đã cực khổ rồi lại còn thêm niệm Phật chẳng phải lại còn thêm cực khổ hơn sao?
Ông Hoàng đáp:
– Phương pháp này hay vô cùng, lúc trước tôi đứng bên lò rèn cảm thấy nóng bức, niệm Phật thì không thấy nóng bức nữa. Rèn thép thì đau ê ẩm cánh tay, niệm Phật thì cánh tay không ê ẩm nữa.
Một hôm, không bệnh tật gì ông đọc bài kệ, nhờ người láng giềng ghi lại:
Tinh tinh tang tang
Rèn lâu thành thép
Thái bình sắp đến
Tôi về Tây Phương”
Tay ông cầm búa rèn, đứng chết, sắc mặt không thay đổi, hương thơm bay ngào ngạt, nhạc trời reo vang, mọi người đều nghe thấy. Bài kệ của ông được truyền khắp Hồ Nam. Người phát tâm niệm Phật rất đông.
Lời bình:
Chẳng có tài nào khác
Chỉ biết có niệm Phật
Một nện một câu Phật
Niệm Phật không ngơi nghỉ
Làm kệ rồi đứng chết
Sắc mặt không thay đổi
Hương thơm bay ngào ngạt
Nhạc trời reo vang rền
Niệm Phật và làm việc
Chẳng chống trái lẫn nhau
Sĩ nông và công thương
Đều có thể bắt chước
Chỉ làm được như thế
Noi theo gương hành trì
Chớ tìm điều kỳ diệu
Mà luống uổng một đời.
(100 Truyện niệm Phật cảm ứng )




PD. Diệu Hậu viết
“Người thợ rèn vừa làm việc vừa dùng tâm tán loạn niệm Phật”.
Kính bạch Thầy Tuệ Tâm cùng các chư vị bạn hữu đồng tu.
Có người hỏi Pháp Nhiên Thượng Nhân rằng: Tuy niệm Phật mà tâm tán loạn, việc này như thế nào?
Thượng nhân đáp: Người xưng danh hiệu Phật, tâm tuy tán loạn, nhưng nhờ nguyện lực của Phật nên nhất định vãng sanh (người đã sanh ở Dục giới thì tâm đều tán loạn, nếu phải bỏ tán tâm mới vãng sanh thì không thể có đạo lý này; người tán tâm niệm Phật mà vãng sanh, đó mới là bản nguyện thù thắng. Tâm phàm phu, làm sao có thể không tán loạn! Tuy tán loạn mà được vãng sanh, đây mới gọi là “Dị hành đạo”).
Sự tồn tại của Đức Phật A Di Đà là để cứu độ chúng sinh. Ngài thành Phật chỉ một mục đích là đưa tất cả chúng sinh ra khỏi biển khổ. Ngài biết rõ chúng sinh trong Cõi Ta Bà thời ác trược là chúng sinh tội ác, luân chuyển từ vô lượng kiếp. Bản chất của những chúng sinh này là vọng tưởng, phiền não, đọa lạc nên khi phát nguyện cứu độ họ Ngài không hề đưa ra yêu cầu phải dẹp bỏ phiền não, lắng đọng vọng niệm, hay tu tập phải có công phu. Phương pháp trì danh của Bổn sư dạy trong Kinh A Di Đà cũng không nói như vậy.
Tổ Thiện Đạo khai thị rằng tất cả mọi lo lắng của chúng ta đều không hề liên quan đến mạch tiếp dẫn của đức Phật A Di Đà. Điều mà Phật Di Đà muốn là chúng sinh có chịu niệm Danh Hiệu Ngài hay không.
Niềm tin trong Pháp môn Tịnh Độ không xuất phát từ bên trong nội tâm (chủ quan) của chúng ta, mà từ sự thật (khách quan) bên ngoài: Tỳ kheo Pháp Tạng thành Phật cách nay đã hơn 10 kiếp, Ngài lấy tên Vô Lượng Thọ, hiệu là A Di Đà.
Đức Phật A Di Đà là khách quan bên ngoài. Ngài đã thành Phật nên Bổn nguyện xưa kia của Ngài không thể nào hư dối, đây là cơ sở chắc chắn. Chúng ta căn cứ vào điểm này làm gốc của tín tâm, là tin vào đối tượng nội hàm mà chúng ta cần tin.
Khi lấy đối tượng bên ngoài là Đức Phật A Di Đà để Tin thì niềm tin đó là chân lý. Chúng ta không có cách gì để thiết lập mệnh đề đúng sai. Đã tin là sự thật y như vậy, hiển nhiên như vậy, chắc chắn như vậy.
Niềm tin trong mạch Tổ Thiện Đạo rất rõ ràng (Tin ở đây không phải chúng ta dùng cảm tính để tin, không phải dốc sức để tin, không phải dùng trí tuệ và hiểu biết để tin, mà vốn dĩ bản thân sự thật khách quan chính là Tin, chứ không phải lấy sự thể nghiệm của mình làm Tin).
Có 3 đặc điểm nổi bật nhất để đặt niềm tin khi tu tập mạch này, đó là:
1/ Tỳ kheo Pháp Tạng đã thành Phật A Di Đà: Đây là cơ sở đầu tiên chắc để xác lập niềm tin.
2/ Tin rằng: Xưng Danh nhất định VS. Đó là phương pháp tu tập duy nhất, khẳng định Kết Quả của Bổn Nguyện 18.
3/ Khi tu học: phải ứng dụng niềm tin trên 2 phương diện: Tin Cơ – Tin Pháp.
A – Tin Cơ: Cơ là căn cơ, khả năng của chúng sinh: Chúng ta phải nhận ra được sự thật xuyên suốt cả 3 thời Quá Khứ, Hiện Tại, Tương Lai là bản thân mình đều ở các tướng trạng:
-Tướng trạng Quá Khứ: Từ vô thỉ kiếp quá khứ chúng ta thường bị chìm đắm, lưu chuyển trong sinh tử, lưu lạc mãi như vậy vì nghiệp lực, lỗi lầm và vô minh.
-Tướng trạng Hiện Tại: Mình vẫn đang hiện diện trong luân hồi. Tội ác là nhân, sanh tử là quả (Hiện tại bị như vậy vì quá khứ vốn không tốt).
-Tướng trạng Vị Lai. Thực tế là không có cơ hội để thoát ra (nghĩa là chúng ta không chịu quay đầu, quá khứ, hiện tại luôn là phàm phu tội ác, thế nên tương lai cũng không thể có cơ hội nào xuất ly).
B – Tin Pháp: Pháp ở đây là Thệ Nguyện Cứu Độ của Đức Phật A Di Đà. Vậy phải tin thế nào?
– Tin vào Pháp mà Phật A Di Đà nói. Ngài nói rằng: “Khi Tôi thành Phật, chúng sinh trong mười phương nghe danh hiệu Tôi, hết lòng tin tưởng, nếu có điều lành nào tâm tâm hồi hướng nguyện sinh về cõi nước Tôi cho đến mười niệm, nếu không được vãng sinh, Tôi thề không thành Chính giác”. Ở đây là Tin vào Thệ Nguyện của Phật.
– Tin vào Công Năng tác dụng của Nguyện Lực Phật. Nguyện Lực: Là sức của NGUYỆN THỨ 18. Là Đại Nguyện, Đại Hạnh và Đại Lực Vĩ Đại của Ngài.
Đại Nguyện: là quá trình trải qua 5 kiếp quán sát, tư duy căn cơ của hết thảy chúng sinh, rồi phát khởi 48 Thệ nguyện cứu độ.
Đại Hạnh: là công cuộc tu hành trong vô lượng kiếp để thành tựu Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật đầy đủ, viên mãn công đức cứu độ chúng sinh.
Từ Đại Nguyện, Đại Hạnh đó đã tạo nên Đại Lực Vĩ Đại của Ngài là có khả năng nhiếp thọ hết thảy khắp pháp giới chúng sinh. Có khả năng cứu độ cả những chúng sinh mà 10 phương Chư Phật đều không cứu được.
– Tin vào Đạo Lý “Tự Nhiên được Nguyện Lực Phật dẫn dắt”, vì sao? Người nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, thì TỰ NHIÊN tâm tương ưng với tâm Phật A-di-đà (tự nhiên bởi Ngài đã quán chiếu căn cơ phát nguyện cứu độ, do đó Ngài cũng khai sẵn mạch pháp đến từng chúng sinh, chỉ cần chúng sinh tin nhận thì mạch pháp tự nhiên chảy trong tâm).
Đạo lý này bất luận là người biết hay không biết, người tin hay không tin, thì chắc chắn là như vậy, bởi pháp này vốn thế. Cho nên Niệm Phật cũng chính là yêu cầu là mệnh lệnh là lời kêu gọi và thúc giục của Đức Phật A-di-đà.
———–
Tại sao người Thợ Rèn dùng tâm tán loạn niệm Phật mà vẫn được Vãng Sanh? Ông ta đã thực hành niệm DHP “chuyên trong chuyên”, ngày này qua ngày khác, trong tâm Chỉ Một Niệm này.
Kinh A Di Đà có nói: “Chấp Trì DH Một Lòng Không Tạp”.
“Một Lòng Không Tạp” còn được gọi là “Nhất Tâm Bất Loạn”. Tổ Thiện Đạo dạy Nhất Tâm Bất Loạn chính là “Chuyên trong Chuyên”. Đã chuyên lại càng chuyên hơn.
Nếu “Chấp Trì” mà tâm cứ TÁN LOẠN? và nếu “Chấp Trì” mà không hiểu chấp trì như thế nào để đạt được MỘT LÒNG KHÔNG TẠP thì phải chăng chưa xác lập được Tín Nguyện? Chúng ta nên biết sức Nhiếp Thủ ánh sáng Quang Minh của Phật A Di Đà, có khả năng tiếp nhận tất cả mọi rào cản về tội lỗi, nghiệp chướng, xấu ác của chúng sinh. Sức mạnh này xuất phát từ Tâm Lượng, Trí tuệ, Lòng Bi Mẫn tột cùng của Ngài. Cho nên Diệu Ý của Phật A Di Đà trong Bổn Nguyện 18 là: XƯNG DANH NHẤT ĐỊNH VÃNG SANH->Đây là TỘT CÙNG của Tha Lực mà chỉ có mạch Tổ Thiện Đạo mới khai mở rõ nghĩa này.
Xưng Danh là Hạnh kèm Nguyện và Tín vì Xưng Danh để VS-> đó cũng là ĐỈNH ĐIỂM của niềm tin.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
Diệu Hậu!