Hoằng Nguyện môn là pháp môn niệm Phật nương hoàn toàn vào tha lực nhiếp thọ của đức Phật A Di Đà để vãng sanh về Cực Lạc Tịnh Độ. Yếu nguyện môn là pháp môn nương vào Tự Lực của hành giả, dùng giới định huệ mà niệm Phật và quán tưởng cầu đắc nhất tâm mà vãng sanh về Cực Lạc.
Hai môn một siêu dễ và một siêu khó này được Đại Sư Thiện Đạo phân định rõ ràng. Theo đó Yếu Nguyện Môn duy chỉ có hàng Thánh Nhân, giới hạnh tinh nghiêm mới tu nổi, còn Hoằng Nguyện Môn thì phù hợp với mọi căn cơ, do nương nơi Phật lực nên ai tu cũng được, cũng đều được vãng sanh về Tây Phương Tịnh Độ. Vì thế Tổ khuyên hậu thế học Phật bỏ khó chọn dễ mà nắm chắc phần giải thoát.
Hoằng Nguyện Môn là gì? Yếu Nguyện Môn là gì?
Yếu môn của Tịnh Độ chính là hai môn Định& Tán trong Quán Kinh. Định tức là dừng mọi lo âu phiền muộn để được nhất tâm. Tán tức là bỏ ác để tu thiện, quay về hai hạnh này mà cầu Vãng Sanh. Nói về Hoằng Nguyện, như trong Đại Kinh ghi: “Tất cả phàm phu thiện hay ác đều được vãng sanh. Không ai không nhờ nương vào Đại nguyện, đại hạnh và đại lực của Phật A Di Đà để làm Tăng Thượng Duyên.”
Yếu môn tức là Định Thiện của 13 pháp quán và Tán Thiện của Tam Phước chín phẩm. Hoằng Nguyện tức là nguyện thứ 18 trong Kinh Vô Lượng Thọ, cũng tức là Bản Nguyện Lực của Phật A Di Đà.
Yếu môn là tự mình tu hành Định Thiện và Tán Thiện, hồi hướng để cầu vãng sanh. Bồ Tát Long Thọ gọi là Nan Hành Đạo. Đại sư Đàm Loan gọi là Tự Lực.
Hoằng Nguyện là nương hoàn toàn vào sức Bản Nguyện của Phật A Di Đà. Bản nguyện cứu độ của Phật A Di Đà đã hoàn mãn công đức cứu độ không thể nghĩ bàn cho chúng sanh trong mười phương. Cũng chính là Đại Nguyện, Đại Hạnh, Đại Lực của Phật A Di Đà cứu độ chúng sanh trong mười phương, không bỏ sót một ai. Dù thiện hay ác đều thâu nhiếp bảo vệ. Đại Nguyện này rộng lớn nên gọi là Hoằng Nguyện. Bồ Tát Long Thọ gọi là Dị Hành Đạo. Đại sư Đàm Loan gọi đó là Tha Lực…
Tuệ Tâm 2023.




PD. Diệu Hậu viết
NHỊ HÀ BẠCH ĐẠO – LẰN RANH SINH TỬ GIỮA “YẾU MÔN VÀ HOẰNG NGUYỆN”
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
Kính bạch Tuệ Tâm, thưa các đồng tu.
Nếu yếu môn là nỗ lực tuyệt vọng của người bộ hành cố gắng vùng vẫy giữa hai dòng sông nước tham, lửa sân, thì hoằng nguyện môn chính là “con đường màu trắng” bất hoại hiện ra ngay giữa cơn nguy biến. Nhiều người tu Tịnh độ hiện nay vẫn đang mắc kẹt trong yếu môn: họ niệm Phật nhưng tâm vẫn canh cánh lo âu, cố dùng sức mọn của phàm phu để dập tắt ngọn lửa sân hay tát cạn dòng nước tham, để rồi càng tu càng thấy bến bờ Cực lạc xa vời vợi. Đó là con đường tự lực đầy cam go và bất định.
Yếu môn hoằng nguyện và Nhị hà bạch đạo có mối quan hệ thế nào đối với tâm thế của người tu tập cầu nguyện vãng sanh Cực lạc? Bài viết này sẽ mở ra một góc nhìn chính diện và quyết liệt nhất thông qua ẩn dụ kinh điển của Tổ Thiện Đạo. Chúng ta sẽ thấy rằng hoằng nguyện không phải là đợi cho sông tham cạn lửa sân tắt mà là sự chấp nhận thực tại ta là tượng đất để bước đi vững vàng trên con đường màu trắng cũng chính là chiều cầu danh hiệu mang tên Nam Mô A Di Đà Phật.
Đây không chỉ là ẩn dụ mà lời khẳng định đanh thép: hoằng nguyện chính là cây cầu Nam Mô A Di Đà Phật được bắc phía bên trên hai dòng sông tham sân, nơi mà mọi tội chướng của phàm phu không còn sức mạnh ngăn cản ánh sáng nhiếp thủ của Phật A Di Đà.
Hãy một lần nhìn thẳng vào sự thật của Nhị hà bạch đạo để thấu hiểu vì sao hoằng nguyện là lối thoát duy nhất, viên mãn nhất cho người tu nguyện 18 ngay trong một đời.
Trong bộ tư tưởng Tịnh độ của Tổ Thiện Đạo có các chủ đề “phá chấp” rất căn bản như:
• Chẳng lựa căn cơ, xưng danh nhất định vãng.
• Chẳng luận thời tiết, xưng danh quyết định vãng sanh.
• Chẳng luận tội phước, xưng danh quyết định vãng sanh.
• Chẳng lo vọng niệm, xưng danh ắt vãng sanh.
• Chẳng sợ tham sân, xưng danh nhất định vãng sanh.
Chẳng sợ tham sân chính là phần phá chấp cuối cùng trong bộ tư tưởng này. Tham sân si là tập khí căn bản nhất, sâu dày nhất, nguy hiểm nhất của chúng sinh nơi cõi Ta bà ác trược, trừ bậc thánh nhân ra, không ai không có. Vì thế, nếu bạn niệm Phật cầu vãng sanh thì cần phải biết: “Tham sân si chẳng ảnh hưởng gì đến chuyện vãng sanh cả”.
Ẩn dụ kinh điển Nhị hà bạch đạo đã mô tả hai dòng sông tham sân đang nổi sóng dữ và ở giữa là con đường màu trắng nhỏ hẹp nguy hiểm. Khi bạch đạo ấy được lắp đặt một hệ thống hàng rào bảo vệ mang tên Nam Mô A Di Đà Phật thì đó không còn là sự sợ hãi của người bộ hành đơn độc nữa, mà là sức mạnh uy lực của vị Phật có quyền năng nhất pháp giới đang bảo vệ họ.
Với con đường màu trắng hoằng nguyện khẳng định: trên lộ trình đi của mình, người bộ hành sẽ nhận ra rằng: phải phế bỏ những hạnh tu tạp theo lối yếu môn, để cậy nhờ tuyệt đối vào thệ nguyện của Phật A Di Đà, vì như thế thì cuộc hành trình ấy sẽ luôn được Ngài bao bọc, che chở ngoạn mục.
Trong phần Tán thiện nghĩa của Quán kinh tứ thiếp sớ (nói về tam tâm: chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm). Tổ Thiện Đạo giải thích điều kiện tiên quyết để vãng sanh, đó là việc minh họa hình ảnh mang tên “Nhị hà bạch đạo”:
• Ở giữa là một con đường màu trắng nhỏ hẹp.
• Hai bên là sóng tham, lửa sân vô cùng dữ tợn của hai dòng sông nước lửa.
Đây là một ẩn dụ vô cùng sâu sắc mô tả về công cuộc tu tập của người niệm Phật cầu vãng sanh Cực lạc. Ngưỡng cửa này cũng chính là ranh giới vượt ải quan trọng nhất cho người tu tiến từ cửa yếu môn đi vào hoằng nguyện.
Chỉ có những ai đã đặt niềm tin tận cùng vào danh hiệu, họ không còn gì để bám víu nữa, không còn điểm nào để với nữa, năng lực hy vọng đã cạn kiệt, thì điểm trụ duy nhất chính là nơi đây: chiếc cầu danh hiệu mang tên Nam Mô A Di Đà Phật, nối từ bờ Đông sang bờ Tây. Họ sẽ một lòng cương quyết băng trên con đường màu trắng đó để tiến vào hoằng nguyện.
Trước hết con xin sơ qua về ý nghĩa của các chi tiết trong ẩn dụ này:
Trên lộ trình đi của mình, hành giả gặp vô vàn chướng ngại có thể nói là trùng trùng cản trở. Nhưng điều viên mãn nhất đó là hành giả luôn luôn được hai đức Phật vô cùng từ bi ân cần chăm sóc.
• Bờ Đông là đức Thích Ca khuyên nhủ, dắt dìu, chỉ lối. Bờ Tây là đức Phật A Di Đà vẫy gọi, chờ đón.
• Một Ngài ở bên này hướng dẫn dắt dìu, một Ngài ở bên kia yêu thương đứng đón.
• Hai bên lộ trình, sóng dữ của hai con sông nước tham và lửa sân luôn luôn lấn tới, xô đẩy, đe dọa.
• Ở giữa một con đường nhỏ hẹp màu trắng là chiếc cầu danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật đưa hành giả sang bến Cực lạc, và cũng hàm ý đó là đạo tâm của hành giả đang quyết liệt tiến về Tây phương.
• Đằng sau có muôn trùng cản trở của ma chướng đòi nợ bủa vây, của thiện pháp thế gian níu kéo.
Hình ảnh này muốn nói rằng hành giả phải đối diện với tất cả tham cầu thế gian như: tiền tài danh vọng địa vị sắc dục, cho đến tình thân luyến ái, cho đến những quan điểm kiến giải tu tập khác biệt trong đạo pháp, và cho đến nghiệp lực của chính bản thân mình.
Đây cũng là điểm mắc của những người tu cửa tự kèm tha (yếu môn). Nếu họ không nhận ra con đường màu trắng đã được danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật bao bọc suốt cả chiều dài của lộ trình (giống như một cây cầu phải có lan can an toàn, lan can đó phải được thiết kế với chiều dài, độ vững chãi tương ứng).
Trong cuộc đời mỗi chúng ta một mình đến đi trong đơn độc (ta đến thế gian chỉ một mình, ta rời thế gian vẫn đơn côi). Nhưng với người niệm Phật cầu vãng sanh Tây phương Cực lạc, thì độc nhất một cách chính là sự thăng hoa của danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật.
Vì thế trên suốt con đường màu trắng đó chỉ có duy nhất một chiếc xe (chở hành giả tới đích) đó là danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật. Cũng muốn nói rằng danh hiệu ngự trị trong tâm người tu suốt cả một đời. Bởi “cho đến” nghĩa là bạn phải niệm ngay từ khi tin nhận cho đến lúc lâm chung. Khi bạn vào hoằng nguyện môn, thì sự duy nhất một cách này giúp bạn đã bên cạnh đức Từ phụ ngay khi đang niệm.
Hai dòng sông lửa sân và nước tham đều rất lớn, rất nguy hiểm, con đường màu trắng lại nhỏ hẹp vô cùng (muốn nói người tu phải đối diện với tham sân bằng một đạo tâm yếu ớt, thì không cách nào thoát ly được). Cũng hàm ý rằng dù tham có lớn đến đâu, dù sân có dữ thế nào, và dù thiện ác nghiệp chướng có lôi kéo ở lại, thì người bộ hành kia vẫn một lòng tiến về phía trước. Vì ở bên kia đức Phật A Di Đà bảo toàn, bảo vệ, bảo lãnh đón chúng ta.
Ý nghĩa của Nhị hà bạch đạo vô cùng sâu sắc: nhất quyết niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật suốt cả một đời, thì đó mới thực sự đã y vào bổn nguyện 18, và thực hành đúng tiêu chí “chấp trì danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật một lòng không tạp” (Kinh A Di Đà). Nếu bạn không còn quan tâm để ý đến sự nguy hiểm của hai dòng sông tham sân, thì đó là bạn đã rời bỏ yếu môn để bước vào hoằng nguyện.
Để các hình ảnh trong ẩn dụ này nổi bật về ý nghĩa một cách sâu sắc, chúng ta sẽ phân tích từng tiêu chí:
1.TIẾNG GỌI BỜ ĐÔNG
Bờ Đông thể hiện cho cõi Ta bà đầy trược ác mà chúng ta đang sống. Đức Phật Thích ca Mâu ni là giáo chủ cõi này, Ngài đã nhập diệt nhưng kinh điển của Ngài để lại là “thầy dẫn đường cho chúng ta”. Trong 49 năm thuyết pháp, Bổn Sư để lại 84 ngàn phương pháp phá trừ tập khí phiền não vọng tưởng vô minh của chúng sinh, nhưng đó chỉ là những cách tạm thời, làm phương tiện tùy căn tánh chúng sinh mà thôi.
Trong ba kinh Tịnh độ, Bổn Sư chỉ nhằm một mục đích duy nhất (đây cũng là lời phó chúc căn dặn) chúng sinh phàm phu tục tử cõi Ta bà trược ác, muốn thoát khỏi luân hồi chỉ có một cách duy nhất là nương tựa vào công năng của danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật cầu vãng sanh Cực lạc.
Vì thế pháp môn niệm Phật cầu vãng sinh Cực lạc theo mạch thuần chánh là pháp siêu đốn nằm ngoài hệ thống của 84 ngàn phương pháp kia.
Thệ nguyện 18 là sự cứu độ trực tiếp của đức Phật A Di Đà. Đây chính là “hoằng nguyện” của Ngài, và cũng là “bản hoài” mong muốn của thầy đức Bổn sư. Trong phần pháp này đức Bổn sư là ẩn dụ của tiếng gọi bờ Đông, Ngài nói rằng: “Bạn hãy bước thẳng về phía trước, đừng nhìn sang hai bên, cũng đừng ngoái lại phía sau làm gì”. Nghĩa là chúng ta đừng sợ sóng to của sông nước tham, cũng đừng nản lòng vì sức nóng của sông lửa sân, và cũng không quan tâm gì đến phía sau là sự níu kéo của luyến ái, tình thân, gia tài, địa vị, cho đến những kiến giải không phù hợp từ những mạch tu khác.
84 ngàn pháp mà đức Bổn sư thuyết thực chất chỉ là phương tiện dẫn dắt từng tầng tùy thuộc vào nhân duyên và khả năng của mỗi chúng sinh (thánh đạo môn hoàn toàn tự lực, đến yếu môn tự kèm tha, đều là bước đệm để vào hoằng nguyện). Bản hoài thống thiết của Ngài đó là: bạn hãy tiến vào bổn nguyện 18 (hoằng nguyện riêng biệt của Phật A Di Đà), bạn quyết tâm đi trên con đường màu trắng chiếc cầu Nam Mô A Di Đà Phật thì chắc chắn đến bến Cực lạc.
2. TIẾNG GỌI BỜ TÂY
Bờ Tây là nói đến thế giới Tây phương Cực lạc của đức Phật A Di Đà. Chúng ta biết rằng đức Phật A Di Đà vốn là một vị cổ Phật, việc Ngài thị hiện Tỳ kheo Pháp Tạng phát 48 thệ nguyện là để hoàn thành mục đích cứu độ vĩ đại nhất mà cả chư Phật mười phương đều không thể làm được. Trong kinh Bi hoa nói rằng 1.400 đức Phật đều không thể cứu chúng sinh cõi Ta bà (vì họ là những chúng sinh phàm phu tục tử vô minh phiền não, chỉ biết tạo nghiệp ác).
Đức Phật A Di Đà đã phát thệ nguyện 18 với mục đích chủ động, bình đẳng, vô điều kiện và đặc biệt là Ngài ưu tiên những chúng sanh hạ căn hạ chí sẽ được cứu trước. Phương pháp cứu độ của Ngài cũng chỉ duy nhất có một cách là “danh hiệu cứu độ”. Đây chính là chiếc cầu Nam Mô A Di Đà Phật duy nhất đưa chúng sinh từ bờ mê Ta bà đến bến giác Cực lạc. Chiếc cầu này chính là con đường màu trắng bắc qua hai dòng sông nước lửa.
Tiếng gọi bờ Tây là sự chờ đợi yêu thương của Ngài. Đây là tiếng gọi trực lệ. Nghĩa là bạn hãy nhất tâm chánh niệm, đi thẳng tới đây. Tiếng gọi này của đức Phật A Di Đà không chỉ là một lời mời gọi, mà là một đại mệnh lệnh mang sức mạnh bảo chứng tuyệt đối. Ngài nói rằng: bạn cứ tiến thẳng tới đây, đừng dè dặt tôi đang chờ bạn, tôi sẽ bảo vệ bạn.
Trong lời thệ nguyện thứ 18, Tỳ kheo Pháp Tạng phát nguyện rằng: …Nếu chúng sinh không được toại nguyện thì tôi không thành chánh giác. Đây là mấu chốt quyết định bổn nguyện thứ 18 đã hoàn mãn. Nghĩa là chính đích thân Ngài sẽ bảo vệ chúng sinh trên lộ trình tu tập.
Ngài bảo vệ chúng ta bằng cách nào?
• Dựa vào công đức chánh giác của Ngài để bảo vệ chúng ta.
• Dựa vào thần lực ánh sáng quang minh của Ngài để bảo vệ chúng ta.
• Dựa vào sức đại thệ nguyện của Ngài để bảo vệ chúng ta.
Vì thế tiếng gọi đi thẳng tới đây ở phía bờ Tây của đức Phật A Di Đà, chính là chỉ cần xưng danh không sợ tham sân… Bạn muốn sanh về nước tôi, tôi sẽ bảo vệ bạn. Đây chính là tiếng gọi của nguyện thứ 18.
Nếu chúng ta đã nghe bài pháp: Cách phân biệt yếu môn và hoằng nguyện môn (tư tưởng Tịnh độ của Đại sư Thiện Đạo – phần 6, do Pháp sư Tịnh Tông giảng, mà Tuệ Tâm đã đăng), thì thấy rằng khi phu nhân Vi Đề Hy (đại diện cho thân phận phàm phu) trong tâm thế đầy bi kịch đã quỵ ngã và phủ phục dưới chân đức Thích Ca vì tuyệt vọng trước bi cảnh của chính mình, bà đã chạm đến tận cùng của sự đau khổ kiệt quệ.
Trong cảnh ngục tù vây hãm, bà tha thiết cầu xin một phương pháp tu hành để thoát ly khổ cảnh (Tổ Thiện Đạo nhấn mạnh rằng: tuy bà thỉnh cầu phương pháp tu hành yếu môn, nhưng mục đích sâu xa của Phật Thích ca là muốn dẫn dắt bà và chúng sanh đời sau đi thẳng vào hoằng nguyện). Đáp lại lời cầu thị của phu nhân, đức Bổn sư đã khai mở yếu môn (định thiện và tán thiện), dạy bà cách quán tưởng, tu phước để hồi hướng vãng sanh. Thế nhưng, đó chỉ là cái nền để làm nổi bật sự mầu nhiệm của hoằng nguyện.
Ngay khoảnh khắc bà Vi Đề Hy thấy mình hoàn toàn bất lực trước những phép quán cao siêu, thì đức Phật A Di Đà đã thị hiện giữa hư không. Đó là lúc tự lực của phàm phu hoàn toàn bế tắc, thì sức cứu độ của hoằng nguyện mới thực sự hiển lộ viên mãn. Phu nhân không vãng sanh bằng năng lực quán tưởng của chính mình, mà vãng sanh bằng sự tin nhận trọn vẹn vào danh hiệu.
Đây chính là bước ngoặt vĩ đại, sự đối lập giữa sự “quỵ ngã, ngục tù” của phu nhân với sự “huy hoàng, thị hiện” của Phật A Di Đà đã khẳng định đức Thích ca dùng yếu môn làm “cái nền” (phương tiện) để giới thiệu hoằng nguyện (cốt tủy).
3. GIÁ TRỊ VÔ HÌNH CỦA CON ĐƯỜNG MÀU TRẮNG. TÂM THẾ CỦA NGƯỜI BỘ HÀNH.
A. Giá trị con đường màu trắng (xác lập pháp)
Nghĩa là bạn không thể dùng nó để đo đếm, suy lường, nhiều ít mà bạn phải hiểu rằng danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật là sinh mạng của Phật A Di Đà, là danh dự của Ngài, là quả vị chánh giác của Ngài thì làm sao bạn đo đếm. Vì thế niềm tin ở đây là không thể nói sâu cạn, nhiều ít, có không mà là hiển nhiên – như thị.
Con đường này nhỏ hẹp là nói vì tâm tham sân của bạn quá lớn, nhưng sự nhỏ hẹp này lại có sức mạnh vô song. Nước tham, lửa sân chảy đến đâu, thì chiếc cầu màu trắng ấy vẫn hiên ngang trải dài cùng sóng. Nghĩa là dù “bạn mệt nhoài bò trên lộ, thì Phật vẫn bên cạnh đút cháo cho bạn ăn”. Bởi với Ngài bình đẳng chính là cơm, vô điều kiện chính là thuốc, xưng danh chính là khỏi bệnh.
Giá trị thực của con đường màu trắng chính là hoằng nguyện của đức Phật A Di Đà, là bản hoài của đức Bổn sư hiển nhiên đã có hiệu lực. Đây là hai đấng Thế Tôn cùng đồng tương cảm ý nguyện cứu độ chúng sinh. Khi Bổn sư dùng các nấc thang phụ yếu môn (kê tạm) để giúp chúng sinh dễ dàng bước vào thềm thệ nguyện cứu độ bình đẳng vô điều kiện, thì chính là lúc hoằng nguyện của đức Từ phụ hiển bày.
B. Tâm thế của người đi trên cầu Nam Mô A Di Đà Phật (Phế bỏ cơ)
Chúng ta đã rõ tiếng gọi bờ Đông và tiếng gọi bờ Tây với hàm nghĩa an tâm, chắc chắn của hai đức Thế Tôn rồi. Vì thế lộ trình mà chúng ta đi chính là tiến thẳng về Cực lạc. Nghĩa là bạn chỉ có một lòng duy nhất một con đường Nam Mô A Di Đà Phật mà thôi:
• Đã gọi là duy nhất thì chỉ quan tâm đến bổn nguyện của đức Phật A Di Đà. Bổn nguyện của Ngài là bất luật căn cơ nào cũng được Ngài cứu.
• Đã gọi là duy nhất thì chỉ một lòng nương tựa vào câu Phật hiệu. Đừng vì những thứ khác chi phối mà niềm tin của mình về câu Phật hiệu bị giảm.
• Đã gọi là duy nhất thì phải cương quyết cắt bỏ tất cả những ràng buộc vướng mắc trong tâm. Nhân tố được vãng sanh chính là công đức, lực dụng của câu Phật hiệu chứ không phải là khả năng tu tập của chúng sinh.
• Đã một lòng, và nhất hướng tin nhận Phật hiệu, thì ngoài câu Phật hiệu ra, trong tâm không cần phải lo lắng đối trị (phiền não, vọng tưởng, tham sân, nghiệp chướng, thiện ác…) vì nó không có cách nào ngăn cản quang minh nhiếp thủ của Phật A Di Đà.
Một lòng không tạp còn gọi là nhất tâm bất loạn. Tổ Thiện Đạo giải thích về nhất tâm bất loạn nghĩa là: tâm chuyên nhất làm một việc – làm đi làm lại (chuyên trong chuyên, đã chuyên lại càng chuyên). Chuyên trong chuyên chính là lực của hoằng nguyện.
Muốn vào được hoằng nguyện thì bạn phải phế bỏ cửa yếu môn.
Trong 84 ngàn pháp môn của thánh đạo (giới định tuệ) và yếu môn (định thiện, tán thiện), chỉ là những pháp phương tiện mà Bổn sư dùng để khai thị dẫn dắt chúng sinh, còn mục đích chính của Ngài là muốn đưa chúng sinh tiến vào hoằng nguyện. Giống như việc muốn có được gương sen, chúng ta chờ từng lớp cánh sen rơi xuống, để cuối cùng gương sen ló ra.
Vì thế Tổ Thiện Đạo mới khai thị: phế yếu môn lập hoằng nguyện tức phế quyền lập thật (quyền chỉ là phương tiện, còn thật là pháp chân thật). Thánh đạo môn hay yếu môn chỉ là pháp phương tiện (lớp cánh sen bên ngoài) mà đức Bổn sư bóc dần từng cánh để cuối cùng lộ ra gương sen hoằng nguyện.
Khi tâm thế của bạn chỉ một lòng và duy nhất nghĩa là bạn đang dứt bỏ từng lớp mê lầm của mình để nhận ra gương sen quý. Bạn đã có được gương sen chính là lực dụng công đức của danh hiệu Phật. Bỏ lớp cánh sen yếu môn (các pháp tu tạp) để có được gương sen (hoằng nguyện). Tức là bạn tiến từ yếu môn để vào hoằng nguyện một cách oanh liệt. Tâm thế này chính là giai đoạn phế bỏ mình (cơ) – xác lập Phật (pháp).
4. TIẾNG GỌI CỦA MA QUÂN
Tiếng gọi ở phần này mô tả hai phương diện.
A. Giặc vô minh (tâm si)
Lục căn lục thức lục trần là những kẻ thù hàng ngày lôi kéo chúng ta. Tại sao lại gọi là kẻ thù? Chúng ta đã học các bài phá chấp về (căn cơ trí ngu, về hoàn cảnh điều kiện, về thời gian tu tập lâu mau, về niệm Phật nhiều ít, về tội phước thiện ác, về vọng tưởng phiền não, cho đến bài hiện tại là tham sân). Chúng ta niệm Phật đã nhiều năm, công phu cũng tinh tấn, nhưng tận sâu trong lòng vẫn còn canh cánh một nỗi niềm:
• Tại sao tôi niệm Phật miết mà tham sân, phiền não vẫn còn ngùn ngụt?
• Liệu với một phàm phu đầy lỗi lầm như thế này, tôi có chắc chắn được vãng sanh?
Sự nghi ngờ này chính là bức tường vô hình ngăn chúng ta đến với sự an lạc tuyệt đối của bổn nguyện. Chúng ta cứ loay hoay tìm cách dẹp sạch phiền não trước, rồi mới dám tin mình được cứu. Tất cả những điều này chính là chúng ta bị ngăn che bởi các chủng tử vô minh mà tàng ẩn chính là việc thấy nghe hay biết không đúng. Do đó chúng ta phải tỉnh đòn mà nghĩ rằng phiền não là bản chất, gốc gác của phàm phu (tượng đã bằng đất thì từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên cũng đều là đất), việc cứu độ là bản nguyện của Phật, phiền não chả ảnh hưởng gì.
B. Những tri kiến lệch lạc của lối tu tự lực/yếu môn
Quan điểm của những người tu theo mạch thánh đạo môn là họ dùng giới định tuệ để dụng công, vì thế họ cần phải tích lũy công đức, tu tập phước thiện, trì tụng kinh chú, giữ gìn giới luật, tu tam phước thập thiện để hồi hướng Cực lạc. Thế nên khi thấy chúng ta chỉ: một mực duy nhất là niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, thì họ sẽ công kích, thêm bớt, không đồng tình cho đến ngăn cản, thì đây chính là ma quân.
Khi chúng ta kết duyên với họ, chúng ta sẽ nghe thấy những câu như: tu thế này sao đắc đạo được? Phải tụng kinh này, trì chú kia mới chắc ăn? Đây chính là những tri thức sai lệch hoặc (thiện tri thức) nhưng không hiểu về bổn nguyện, dùng tự lực để hù dọa người chuyên tu.
Chúng ta tu hoằng nguyện thì việc duy nhất đó là tin căn cơ của mình là vô lực, tin đức Phật A Di Đà có lực, như vậy chúng ta chỉ cần tu tập một hạnh xưng danh là chắc chắn về báo độ Cực lạc. Ẩn dụ của Nhị hà bạch đạo cho chúng ta một niềm tin kiên định vững chắc. Tại sao lại tin chắc chắn như vậy vì:
• Đó là bổn nguyện 18 của đức Phật A Di Đà, khi còn là Tỳ kheo Pháp Tạng Ngài nói rằng: khi tôi thành Phật sẽ cứu độ tất cả mười phương chúng sinh nếu nghe thấy danh hiệu của tôi, mà tin nhận rồi xưng niệm. Nếu không được như vậy tôi thề không thành chánh giác.
• Đó là Tỳ kheo Pháp Tạng thành Phật đã được mười kiếp, Ngài lấy tên là Vô Lượng Thọ, hiệu là A Di Đà. Hiện tại Ngài đang thuyết pháp tại cõi nước Tây phương Cực lạc. Ngài thành Phật rồi nên chắc chắn lời thệ nguyện đó không thể nào hư dối.
• Đó là lực dụng công đức trong câu Phật hiệu đã thành tựu tròn đầy viên mãn, có công năng cứu độ hết thảy chúng sinh mà không có bất kỳ điều gì chướng ngại.
• Đó là tâm bi nguyện vô cùng khẩn thiết của Ngài, là trí tuệ viên mãn thù thắng, là sự yêu thương mà Ngài dành cho chúng sinh không có điều kiện. Nên nó có năng lực vô biên vượt qua mọi trí tuệ của tất cả các pháp.
Tại sao đức Từ phụ lại thiết lập pháp cứu độ bình đẳng không điều kiện?
Và tại sao đức Bổn sư lại thành tựu việc không ai hỏi mà Ngài tự nói pháp khó tin (Kinh A Di Đà là bản kinh vô vấn tự thuyết)?
Đây là tâm bi nguyện không giới hạn của hai đức Thế Tôn. Và cũng chứng minh rằng các pháp phương tiện yếu môn mà đức Bổn sư khơi ra là để có thời gian nạp điện vào chiếc đèn pha hoằng nguyện. Khi đó ta không còn phải (tự lực) tu tập trong u mê nữa.
Tự kèm tha (yếu môn) chính là lúc bạn vẫn đang dò dẫm bằng chiếc đèn pin đi trong đêm tối, hoằng nguyện là bạn đã ngồi trên chiếc xe có đèn pha băng băng trên lộ. Khi bạn bước đi vững chãi trên con đường màu trắng hoằng nguyện để tiến về phía trước thì bạn không còn để ý đến hai bên lộ văng vẳng những âm thanh, hình ảnh ảo nữa, và bạn cũng không thể nán lại để chờ xem tình thân thế thái làm gì.
Vì tàu tốc hành danh hiệu mà bạn đang ngồi trong đó đã đến giờ khởi hành, nó không thể dừng lại để phục vụ cho việc nghe âm thanh hay ngắm cảnh vật (âm thanh là những kiến giải của lối tu khác, ảnh ảo là tâm bạn còn nghĩ tu thêm hạnh này hạnh kia, nán lại xem nhân tình thế thái là bạn còn chấp vào luyến ái được mất hơn thua của thế gian). Bạn phải nhận ra tất cả những thứ này khi quán chiếu với mục tiêu hoằng nguyện thì bắt buộc bạn phải phế bỏ.
Khi chúng ta đặt niềm tin vào câu danh hiệu thì sức mạnh của nó sẽ phá vỡ mọi tri kiến theo lối tu yếu môn tự kèm tha, bạn cũng không còn phải điều khiển sáu căn sáu thức sáu trần theo cách mà bạn muốn.
Bản chất của con đường màu trắng chiếc cầu danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật này được bắc phía bên trên hai dòng sông tham sân. Nghĩa là bạn đừng lo lắng gì về giặc tham sân, vì câu Phật hiệu sẽ phá tan những âm mưu của chúng.
Tất cả sóng lớn hay lửa dữ đều ở bên dưới cầu không ảnh hưởng gì đến người bộ hành đang tiến bước. Tham sân cứ nổi nhưng danh hiệu Phật đã ngự trị trong tâm ta thì sóng tham có lớn, lửa sân có mạnh cũng không thể làm cho bước chân ta dừng lại.
Bảo đảm hơn thế là hai bên cầu đã được hai Thế Tôn bảo vệ, trên lộ trình mười phương chư Phật hộ trì, thì người bộ hành vô cùng an toàn tiến bước. Chúng ta nếu đã hoàn toàn tin nhận, hoàn toàn hành trì mà không đến được bờ kia thì lỗi tại Phật – nhưng điều đó lại không bao giờ xảy ra. Vì thế cứ làm đúng nhé đừng lo lắng gì cả. Đã phó thác hết cho Ngài rồi thì bạn cứ ăn vạ Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
Diệu Hậu PD.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.