Hai loại Tin Sâu đưa hành giả vào Chánh Định Nghiệp. Đại Sư Thiện Đạo bảo Thâm Tâm gọi là Tâm Tin Sâu. Hai loại tin sâu này là: Tin lời Phật A Di Đà và tin vào Bản nguyện xưng danh là chắc chắn được vãng sanh.
Phần Tựu hạnh lập Tín nói: “Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A Di Đà, đi, đứng, nằm, ngồi, bất luận thời gian lâu hay gần, mỗi niệm không bỏ, đây gọi là Chánh Định Nghiệp. Vì thuận theo Bản nguyện của Phật A Di Đà.” Đây chính là lời Phật nói, tư nhiên thành tựu Tín nên rất đáng để Tin Sâu. Đây là nương theo lời Phật để xây dựng Tín Tâm. Vì thế, đại cương trong phần giải thích Thâm Tâm có hai ý:
1. Nương theo lời của người có lòng Đại Bi đầy đủ để xây dựng Tín Tâm, gọi là Tựu Nhân Lập Tín.
2. Nương theo hạnh nghiệp xưng danh Chánh Định để xây dựng tín tâm, gọi là Tựu Hạnh Lập Tín.
Vì thế nên biết, nương vào nguyện lực của Phật A Di Đà thì nhất định vãng sanh. Nguyện lực của Phật A Di Đà chính là Đại nguyện thứ 18…
Tuệ Tâm 2023.




PD. Diệu Hậu viết
“NIỀM TIN CƠ PHÁP là CỐT LÕI ĐỂ VÀO CHÁNH ĐỊNH NGHIỆP”
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
Kính thưa Tuệ Tâm và các Huynh Đệ
Để thấu hiểu về hai pháp Tin Sâu (Tựu Nhân Lập Tín, Tựu Hạnh Lập Tín) khi bước vào hàng Chánh Định Nghiệp, chúng ta cần nhìn nhận sự cứu độ của Phật A Di Đà qua lộ trình vận hành giữa Cơ (chúng sinh) và Pháp (Danh Hiệu Phật) một cách minh bạch.
Tổ Thiện Đạo nói Tin Sâu là niềm tin sáng suốt, cụ thể, rõ ràng, chân xác.
Cốt lõi của việc “Tin Sâu CƠ PHÁP để vào Chánh Định Nghiệp”, đó là người tu phải thấu hiểu tha lực Phật A Di Đà 100% là thế nào. Vào được cửa Tha lực tuyệt đối chúng sinh phải khế nhập khả năng của mình ở vị trí Zero = O.
Nếu bạn còn bất kỳ một vương vấn gì dù nhỏ xíu, thì bạn vẫn chưa hiểu rõ hàm ý “Bình Đẳng, Vô Điều Kiện trong nguyện thứ 18 đấy”.
Vì thế đứng ở vị trí VÔ LỰC là bạn phải TẮT HẾT TẤT CẢ Ý NIỆM CHẤP -> thì bạn mới khế nhập được CĂN CƠ
I – Các Pháp Phá Chấp Trong Bộ Tư Tưởng của Tổ Sư Thiện Đạo.
1/ Trong 23 bài pháp Bộ Tư tưởng Tịnh Độ của Đại Sư Thiện Đạo, mà Pháp Sư Tịnh giảng giải, có 5 bài pháp hàm nghĩa “PHÁ CHẤP”. Ý nghĩa Cốt Lõi của 5 phần pháp bao hàm ở cụm từ: CHẲNG LUẬN.
Các pháp phá chấp này là điểm khẳng định: “Chúng Sinh Phàm Phu Tạo Tội Trong Cõi Ta Bà Thời Ác Trược Ngũ Thế” bản chất vốn là phiền não vô tận, không thể sửa đổi được.
Trước hết chúng ta sơ lược lại tiêu đề các bài pháp để hình dung:
– Chẳng lựa căn cơ, xưng danh nhất định vãng sanh.
– Chẳng luận thời tiết, Xưng Danh quyết định vãng sanh.
– Chẳng luận tội phước, Xưng Danh quyết định vãng sanh.
– Chẳng lo vọng niệm, Xưng Danh ắt vãng sanh.
– Chẳng sợ tham sân si, Xưng Danh quyết định vãng sanh.
(Chẳng luận/Chăng lựa. Cũng có nghĩa là “Không loại trừ”).
2/ Ý Nghĩa của Chẳng Luận.
– Chúng ta đã thấy cả 5 phần Pháp trên liên tục đều có hàm ý “Bất Luận”. Điều này minh chứng vô cùng rõ nét cho cụm từ “Mười Phương chúng sinh” trong Nguyện thứ 18 là công cuộc cứu độ của Đức Từ Phụ A Di Đà không có giới hạn.
– BẤT LUẬN: Nghĩa là không phân biệt căn cơ, thiện ác, trí ngu, tội phước, thời gian, hoàn cảnh… Chính sự cụ thể hóa lòng từ bi không điều kiện của Đức Phật A Di Đà, là điều khẳng định rằng Ngài không loại trừ bất kỳ một ai.
Và điều viên mãn của Nguyện Vương này còn nằm ở 2 chữ CHO ĐẾN trong cụm từ “cho đến 10 niệm trong Nguyện Thứ 18”.
3/ CHO ĐẾN và CHO ĐẾN MƯỜI NIỆM có 2 khía cạnh:
– Cho Đến: Muốn nói rằng đó chính là “bất cứ, bất kỳ, bất luận” chúng sinh nào, căn cơ gì, ở mọi thời đại thì câu Nam Mô A Di Đà Phật vẫn có hiệu lực Mạnh Nhất để cứu độ họ.
– Cho Đến mười niệm: Đây không phải là giới hạn con số 10 niệm, mà là sự bao quát suốt cả đời. “Từ lúc tin nhận Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, thì kể từ đó cho hết hết cuộc đời chỉ CHUYÊN Một Hạnh XƯNG NIỆM này mà thôi”.
– Ý nghĩa của “hoặc 1 ngày, hoặc 2 ngày, …hoặc 7 ngày trong Kinh A Di Đà”, cũng không phải là một KỲ HẠN niệm Phật mà là niệm suốt đời).
– Cốt tủy của “Cho đến”: Không phải là giới hạn con số, mà là sự bao quát tổng thể không hạn chế, không loại bỏ. Trong (Nguyện 18), nói “cho đến 10 niệm”, nghĩa là thậm chí chỉ “cho đến 1 tiếng niệm” cũng được cứu độ (đây là chúng sinh ở giây phút Lâm Chung, thể hiện lòng Từ Bi Vô Tận của Phật A Di Đà).
Nó cũng thể hiện tính “bất kỳ” và “bất luận” của pháp môn.
II – Tóm tắt nội dung, ý nghĩa cốt lõi của 5 Pháp phá chấp.
Trong 5 phần pháp Phá Chấp đặc thù này, thì chỉ riêng ở Mạch Thuần Chánh dòng Tổ Thiện Đạo mới có. Qua đây còn cho chúng ta thấy một cách rõ nét về tính minh bạch, bình đẳng, phổ độ, đơn giản của pháp môn. Với chúng ta, tính CẤP THIẾT của việc tiếp nhận Pháp, đó là GIÁC NGAY hàm ý “Chẳng Luận/Chẳng Lựa” của các bài pháp này:
1/ Chẳng lựa căn cơ. Nội dung: Phá chấp về năng lực bản thân. Tổ Thiện Đạo khẳng định cứu độ của Đức Phật A Di Đà không phân biệt người trí hay kẻ ngu, người xuất gia hay tại gia, người lanh lợi hay kẻ chậm chạp.
->Thông điệp cốt lõi: Không phân biệt trình độ, căn tính cao hay thấp. Chỉ cần bạn là chúng sinh có nguyện vãng sanh và thực hành xưng danh, thì “căn cơ” (trình độ) không còn là rào cản. Danh hiệu Phật là liều thuốc chung cho tất cả mọi bệnh nhân.
2/ Chẳng luận thời tiết. Nội dung: Phá chấp về thời gian tu hành. Nhiều người lo sợ mình tu quá ngắn, hoặc bắt đầu quá muộn (lúc lâm chung mới biết đến Phật pháp) thì không kịp.
->Thông điệp cốt lõi: Không phân biệt thời gian tu tập dài hay ngắn, lúc lâm chung hay lúc bình thường. Pháp môn này không tính bằng năm tháng mà tính bằng sự chuyên nhất. Dù tu cả đời hay chỉ niệm “mười niệm”, “một niệm” lúc lâm chung, nhờ sức mạnh của Bản nguyện, kết quả vãng sanh là như nhau (quyết định vãng sanh).
3/ Chẳng luận tội phước. Nội dung: Phá chấp về nghiệp lực. Đây là chương gây rúng động nhất, khẳng định rằng dù tội chướng sâu nặng (nghiệp ác) cũng không ngăn cản được ánh sáng của Phật A Di Đà, và dù có nhiều phước đức cũng không thể tự cậy vào đó để vãng sanh nếu thiếu xưng danh.
-> Thông điệp cốt lõi: Không phân biệt người thiện hay kẻ ác, nghiệp chướng nặng hay nhẹ. Vãng sanh dựa vào “nguyện lực của Phật” chứ không dựa vào “công đức cá nhân”. Xưng danh chính là nhân duyên tối thắng nhất để chuyển hóa tội nghiệp.
4/ Chẳng lo vọng niệm. Nội dung: Không ngại tâm còn xao động, chưa đạt được nhất tâm bất loạn. Phá chấp về trạng thái tâm lý. Người tu thường khổ sở vì khi niệm Phật mà tâm vẫn đầy tạp niệm, tán loạn, không đạt được “nhất tâm bất loạn” theo nghĩa thiền định.
->Thông điệp cốt lõi: Tổ Thiện Đạo dạy rằng phàm phu thì đương nhiên có vọng niệm. Sức mạnh vãng sanh nằm ở Danh hiệu Phật, không nằm ở chỗ tâm bạn có thanh tịnh tuyệt đối hay không. Cứ để vọng niệm tự đến tự đi, việc của bạn là tiếp tục xưng danh.
5/ Chẳng sợ tham sân si: Nội dung: Phá chấp về phiền não. Nhiều người tự ti rằng mình còn đầy rẫy tham dục, nóng giận và si mê nên không xứng đáng về cõi Phật.
->Thông điệp cốt lõi: Không ngại phiền não chưa đoạn trừ. Cõi Cực Lạc được lập ra chính là để cứu độ những chúng sinh đầy rẫy phiền não (được ví như “đứa con hoang” tội nghiệp). Tham, sân, si là bản chất của phàm phu; nhưng khi hành giả nương tựa vào nguyện lực qua tiếng niệm Phật, thì những phiền não đó không còn khả năng kéo họ xuống địa ngục.
=>Chuỗi 5 bài pháp trên nhằm xây dựng một Niềm tin tuyệt đối. Tổ Thiện Đạo muốn quét sạch mọi nỗi sợ hãi và rào cản tâm lý, đưa người tu về thẳng một con đường duy nhất Chuyên nhất Xưng Danh Nam Mô A Di Đà Phật. Nghĩa là tất cả đều quy về một điểm chung: Chỉ cần Xưng Danh (Niệm Phật) là chắc chắn vãng sanh. Những phần Pháp này cũng đã ôm trọn gói MỤC ĐÍCH cứu độ “Bình Đẳng Vô Điều Kiện” và MỤC TIÊU “chúng sinh Hạ Căn Hạ Liệt được cứu trước” rồi.
Tổ Thiện Đạo nói Niềm Tin là dựa trên căn cứ bạn phải Thấu Cơ – Hiểu Pháp.
Việc nhận diện và phá bỏ 5 pháp chấp này chính là điểm cốt lõi mô tả CƠ BẤT LỰC.
Nếu phụ thuộc vào chúng bạn sẽ bị dẫn dắt không thể giác ngộ được, mà cứ mãi mãi ở lại luân hồi. Chỉ khi nhận ra Sự Thật (Tin Chắc Chắn) là mình không có bất kỳ khả năng gì, thì phải phế bỏ tất cả những chấp trước của mình.
Muốn bỏ như thế nào thì phải biết “nó là cái gì để nhận diện rồi hủy bỏ” -> (đây là minh bạch để bỏ, chứ không mù mờ để bỏ).
Khi Cơ = O, thì mới có chỗ cho Pháp “MỘT” (Duy Nhất) vào Vĩnh Cửu.
Lúc chúng ta dám nhìn thẳng vào sự thật rằng mình hoàn toàn Bất Lực (Cơ = 0), đó không phải là sự yếu đuối, mà là lúc trí tuệ khởi phát để nhận ra Pháp là Duy Nhất (Pháp = 1).
Sự kết hợp giữa:
– Thấu Cơ chính là nền tảng của Tựu Nhân Lập Tín (tin vào lời Phật nói về thực trạng chúng sinh). Biết mình là phàm phu tội chướng, không có khả năng ra khỏi luân hồi.
– Hiểu Pháp chính là nền tảng của Tựu Hạnh Lập Tín (tin vào năng lực của Danh Hiệu). Biết nguyện lực của Phật Di Đà là cứu độ không điều kiện.
-> Khi hai niềm tin này gặp nhau, nó tạo thành “nhịp cầu” Chánh Định Nghiệp. Người tu không còn đi trên dây (ngả nghiêng, chao đảo) mà đi trên cây cầu vững chãi được xây bằng Bản nguyện của Phật. Đây chính là nhịp cầu để hành giả bước từ bờ mê sang bến giác chỉ qua một danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật.
III – Hiệu lực của Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật.
1/ Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật còn có Hiệu lực tối thượng (Độc tôn): Sức mạnh, năng lực của Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật có CÔNG NĂNG Tuyệt Đối Viên Mãn. Ngay cả khi Phật Pháp diệt tận, Giáo lý, Kinh Điển không còn xuất hiện trên Thế Gian, thì Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật vẫn cứu độ những chúng sinh cuối cùng.
2/ Hiện tại chúng ta đã gặp là một nhân duyên thù thắng từ vô lượng kiếp mới có. Thế nhưng các đồng tu vẫn còn “Chần Chừ Không Tiếp Nhận”, thì có phải muốn chờ đến khi Chánh Pháp thực sự Tận Diệt hay sao? Bởi nếu ngay đời này chúng ta không giải thoát thì không có nghĩa là đời sau? Đời sau cũng không phải là đời kế tiếp, cũng không phải là mốc thời gian con số cụ thể, mà là vô lượng kiếp không chừng…
Đây là lời CẢNH BÁO CỦA BẬC CỔ ĐỨC.
IV – Tính chuyên biệt của Bộ Tư Tưởng Tịnh Độ – Chức Năng Danh Hiệu.
1/ Mạch Tịnh Độ Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo được đúc kết là một Pháp có tính sáng tỏ và hoàn hảo nhất trong tất cả các Luận Cứ về Tịnh Độ. Ở đây chúng ta thấy rõ tính chất đặc biệt của mạch đó là sự xuyên suốt, nhất quán, logic, minh bạch và chặt chẽ.
Từ đầu đến cuối toàn bộ hệ thống pháp mạch, dù có phân tích ở bất kỳ góc độ nào, phương diện nào, hình thái nào, thì tất cả các Luận Cứ của Ngài cũng đều mô tả, và lột tả Công Đức cứu độ của Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật.
2/ Để làm rõ Chức Năng của Phật Hiệu, điểm cốt lõi mà người tu phải biết về Mục đích Mục tiêu cứu độ của Phật A Di Đà là gì:
– Mục đích: Cứu độ “Bình đẳng vô điều kiện”: Không có rào cản giữa Thánh và Phàm.
– Mục tiêu: Ưu tiên “Hạ căn hạ liệt được cứu trước”: Đây là tinh thần đặc biệt của Ngài Thiện Đạo, xoay cái nhìn về phía những chúng sinh khổ nạn nhất, yếu kém nhất để khẳng định năng lực tuyệt đối của Phật lực.
3/ Tính ưu việt của Pháp mạch Tổ Thiện Đạo: Ở Mạch Tổ Thiện Đạo, các đặc điểm (sáng tỏ, minh bạch, xuyên suốt, logic, nhất quán và hoàn hảo) khẳng định đây không phải là một niềm tin cảm tính, mà là một hệ thống Pháp vững chắc, dựa trên lòng từ bi và trí tuệ của Phật.
4/ Công đức Danh Hiệu là trung tâm: Danh hiệu không chỉ là cái tên, mà là “Chức năng” cứu độ, là phương tiện chở che mà Đức Phật đã hoàn thành sẵn cho chúng sinh. Do đó để “Thâu tóm trọn gói Công Đức Lực Dụng của Danh Hiệu”, chúng sinh cần phải “Thấu CƠ Hiểu PHÁP một cách minh bạch”.
Đây là điểm quan trọng nhất trong tu tập mạch này.
V – CƠ PHÁP NHẤT THỂ.
Tại sao gọi là “Nhất Thể” (Nhập làm một)? Đây là điểm huyền vi nhất. Trong mạch Thuần Chánh, Cơ và Pháp không phải là hai thực thể tách rời, mà là SỰ GIAO THOA: “Khi chúng ta xưng danh (Cơ), thì chính lúc đó Nguyện lực của Phật (Pháp) đang vận hành trong ta”.
Vì Thế điểm đặc sắc nhất của Mạch Tịnh Độ Thuần Chánh mà Tổ Thiện Đạo triển khai đó là chúng sinh phải đặt niềm tin trên 2 phương diện: TIN CƠ và TIN PHÁP, để sự vận hành Giao Thoa này “Hòa Vào Một Thể an trú trong SINH MẠNG PHẬT A DI ĐÀ”.
– Hiểu rõ Cơ (chính là bản thân mình tội chướng sâu nặng)
– Hiểu rõ Pháp (chính là sự cứu độ chắc chắn của Phật).
Khi “Cơ Pháp” minh bạch, người tu sẽ buông bỏ được sự tự tôn (tự lực) và sự sợ hãi, để trọn lòng nương tựa vào Phật. Nói một cách rõ ràng thì người tu phải thể hội được khả năng của mình là giới hạn ở đâu?
Tổ Thiện Đạo nói Chúng Sinh phải “nhận ra”, phải chấp nhận “sự thật” mình là Phàm Phu tội ác luân chuyển trong chuỗi sinh tử không biết ngày nào thoát ra.
Đức Phật A Di Đà thấu rõ điều này, nên Ngài Chủ Động Phát Nguyện Bình Đẳng Cứu Độ Vô Điều Kiện, chỉ bằng Một Cách Duy Nhất là Xưng Danh Hiệu của Ngài.
Khi Chúng Sinh “Nhận ra thực trạng” là cả 3 thời Quá Khứ – Hiện Tại – Tương Lai, đều không thể tự tu mà xuất ly. Sự nhận diện bản chất này là một CÚ ĐỘT PHÁ QUAY NGƯỢC CHIỀU để NƯƠNG HOÀN TOÀN VÀO PHẬT A DI ĐÀ.
Trong Kinh Vô Lượng Thọ mô tả cảnh giới Tây Phương Cực Lạc có loài Chim Cộng Mạng (một thân có 2 cái đầu). Hình ảnh chim Cộng Mạng chính là minh chứng sống động nhất cho việc: Trong Phật có Ta, trong Ta có Phật. Khi chúng ta nương tựa vào bản nguyện, ta và Phật đã cùng chung một “tuệ mạng” vĩnh hằng.
– CƠ là chúng sinh
– PHÁP là Phật A Di Đà.
– NHẤT THỂ là cả hai cùng chung một Sinh Mệnh.
Khi chúng ta nhận ra thực trạng bất lực của bản thân (Tin Cơ) và chấp nhận sự cứu độ vô điều kiện của đức Phật A Di Đà, chúng ta thực hành Xưng Danh Hiệu Ngày (Tin Pháp), thì ngay lập tức, sinh mạng của ta và sinh mạng của Phật hòa nhập làm một.
Chúng ta tu tập theo Hoằng Nguyện Môn luôn an lạc tự tại và chắc chắn vãng sanh vì Tâm ta đã hòa quện vào Tâm Phật A Di Đà, đây cũng là minh chứng cho Bình Sanh Nghiệp Thành, Bình Đẳng Cứu Độ.
VI – SỰ PHÂN CÔNG GIỮA PHẬT A DI ĐÀ VÀ CHÚNG TA
(đoạn pháp này trích từ phần “Sự phân công giữa Phật A Di Đà và chúng ta” trong giáo lý của Bản Nguyện Niệm Phật).
“Phần này có thể nói là hay nhất, đặc biệt nhất trong giáo lý của Bản Nguyện Niệm Phật. Đơn giản, ngắn gọn và dễ hiểu, nhưng là thanh gươm báu trí huệ, phá sạch chấp trước lẫn nghi nan của người niệm Phật. Cũng ở đây, bạn sẽ hiểu tại sao Bản Nguyện Niệm Phật lại được gọi là Siêu Thế Nguyện., tại sao lại cứu độ bình đẳng, tại sao lại cứu độ một cách vô điều kiện…Sự Phân công giữa Phật A Di Đà và chúng ta rất đơn giản, rõ ràng: Niệm sáu chữ hồng danh Nam mô A Di Đà Phật là việc của chúng ta.
Tiếp dẫn vãng sanh là việc của Phật A Di Đà. Sự phân công này được quy định rõ ràng trong Đại Nguyện Thứ 18: “Nếu ta thành Phật, mười phương chúng sanh, chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi nước ta, xưng danh hiệu ta cho đến 10 niệm, nếu chẳng vãng sanh, ta thề không ở ngôi Chánh giác.”
Hiểu rõ được việc này thì niệm Phật trở nên an vui nhẹ nhàng. Ta niệm Phật theo Bản nguyện của Phật là đủ, còn tội hay phước, tịnh hay uế, vọng niệm hay thanh tịnh, niệm nhiều hay niệm ít…đều chẳng ảnh hưởng gì đến chuyện vãng sanh của ta cả.
Chỉ cần tin nguyện lực của Phật A Di Đà, phát nguyện sanh về Cực Lạc Tịnh Độ, thì “trên là suốt đời, dưới đến 10 niệm, không ai không được vãng sanh “Ta niệm Phật mà vẫn đầy rẫy vọng tưởng tạp niệm có ảnh hưởng gì đến việc vãng sanh của ta hay không? Không hề! Một chút cũng không có! Tội lỗi của ta, chướng nghiệp của ta chưa tiêu trừ hết có ảnh hưởng gì đến việc vãng sanh của ta hay không? Không! Một chút cũng không có”…
1/ Pháp Giới đã phân công như sau:
– Nhiệm vụ của chúng sinh là: Xưng Danh Hiệu của Đức Phật A Di Đà.
– Nhiệm vụ của Phật A Di Đà là: Tiếp Dẫn Chúng Sinh về Cực Lạc.
– Nhiệm vụ của Chư Phật mười phương là: Gia Trì, Hộ Niệm (bảo vệ) những chúng sinh Niệm Phật A Di Đà cầu vãng sanh Cực Lạc.
2/ Sự phân công này nói lên điều gì? Đó là “Tự Nhiên mà vận hành”.
Mỗi “đối tượng” cứ làm đúng nhiệm vụ của mình thì Pháp Giới thu nhập tất cả. Bạn là chúng sinh thì cứ niệm Phật A Di Đà mà thôi, bạn đã biết Phật A Di Đà Phát nguyện cứu mình thì cứ để cho Ngài cứu, đừng bận tâm đến việc Phật làm thế nào để cứu.
“Sự phân công trong Pháp Giới” chính là chiếc chìa khóa tối hậu để mở ra cánh cửa An tâm tuyệt đối cho người hành trì. Chúng ta nên biết sự Vận hành của Pháp Giới là một “quy trình” giải thoát cực kỳ minh bạch, phá tan mọi sự nghi ngờ và lo âu của chúng ta.
3/ Tại sao lại có sự PHÂN CÔNG này?
– Chúng sinh (Bên nhận): Chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là Xưng Danh. Đây là phần việc dễ nhất, ai cũng làm được, “bất luận” căn cơ hay tội phước.
– Phật A Di Đà (Bên cứu): Chịu trách nhiệm Tiếp dẫn. Ngài đã thề thắt bằng Nguyện thứ 18, chỉ cần chúng sinh gọi tên, Ngài có bổn phận đưa về Cực Lạc. Việc “Làm sao để cứu” là năng lực của Phật, chúng sinh không cần lo lắng thay cho Ngài.
– Chư Phật mười phương (Bên bảo chứng): Làm nhiệm vụ Gia trì và Hộ niệm. Đây là lớp hàng rào bảo vệ tâm linh, đảm bảo người niệm Phật không bị chướng ngại, vững bước đến ngày về đích.
VII – Sự vận hành tự nhiên của Quang Minh Phật và Tâm Thức chúng sinh.
1/ Tại sao lại “Tự nhiên mà vận hành”?
– Khi mỗi bên làm đúng phận sự của mình: thì đó là “Tự nhiên mà vận hành”.
– Chúng sinh không lấn sân sang việc của Phật (không lo tội nặng Phật không cứu, không lo vọng niệm Phật không đến).
– Thái độ tu tập chuyển từ “Nỗ lực tự thân” sang “Phó thác hoàn toàn”. Đây chính là trạng thái AN, là đích đến của mọi hành giả Tịnh Độ.
Cơ chế tự nhiên vận hành chính là Nguyên Lý phố chiếu của Hào Quang Phật.
Quang Minh của A Di Đà thường chiếu khắp mọi nơi, mọi lúc, không gằn mé, không ngăn ngại nhưng ánh sáng ấy lại chỉ đi tìm chúng sinh niệm Phật, chỉ nhiếp thủ chúng sinh niệm Phật chứ không nhiếp thủ chúng sinh tu hạnh khác.
– Quang minh của Phật A Di Đà có hai loại là Tâm Quang và Thân Quang.
– Thân Quang là quang minh phát ra từ trên người có chức năng soi chiếu.
– Tâm Quang là đạo quang cảm ứng giữa Phật với chúng sinh mà phát ra, và có chức năng nhiếp thủ.
Tất cả vạn vật cùng chúng sinh trong khắp vũ trụ đều được quang minh của Phật A Di Đà soi chiếu nhưng chỉ có những chúng sinh niệm danh hiệu của Ngài mới được Tâm Quang thiếp thủ giữ lấy không bỏ.
2/ Lộ trình TÂM THỨC của Chung Sinh.
– Phá chấp: Cả 5 bài pháp đều nói về “Chẳng luận”-> Gỡ bỏ mọi mặc cảm về căn cơ, tội lỗi, phiền não. Nhận ra mình Vô Lực thông qua những đặc tính cụ thể từng chấp.
– Khẳng định: Xác lập tính bình đẳng tuyệt đối của Nguyện thứ 18 cho “Mười phương chúng sinh”. Căn cơ hạ ngu, hạ chí hạ liệt phải “bám chặt vào mục tiêu Ưu Ái” của đức Từ Phụ.
– Cảnh báo: Nhắc nhở về sự hy hữu của nhân duyên và nguy cơ luân hồi vô lượng kiếp nếu chần chừ. Cơ hội gặp Phật A Di Đà không thể nói lấp lửng mà “Chắc Chắn” – vì Ngay Hiện Tại Con Đã Ở Bên Ngài”
– Hệ thống Pháp mạch Tổ Thiện Đạo: Khẳng định đây là giáo pháp cụ thể, rõ ràng, minh bach, chặt chẽ, logic và nhất quán. Tính hệ thống của mạch là ở phần Pháp nào thì hàm ý cũng xoáy vào việc Xưng Danh khiến Người Tu như bị “THÔI MIÊN trong Danh Hiệu”.
-> “Thôi miên” ở đây không phải là đánh mất lý trí, mà là trạng thái tâm không còn kẽ hở cho sự toan tính tự lực.
Khi một phàm phu bị “thôi miên” bởi lòng từ bi qua 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật, họ không còn nhìn thấy tội lỗi của mình, không còn nhìn thấy công đức của mình, mà chỉ còn thấy duy nhất một ánh sáng cứu độ. Đó là lúc Cơ đã hoàn toàn tan biến vào Pháp.
Nghĩa là Bạn có xoay vòng kiểu gì vẫn phải BÁM LẤY DANH HIỆU. Bởi nền tảng là: Căn Cơ Phàm Phu tục tử của Bạn phải lấy Pháp Vi Diệu của Phật A Di Đà thì mới “điều trị được”.
TỔNG KẾT:
Chúng Sinh và Phật A Di Đà Cam Kết với nhau thông qua “sự giao thoa Danh Hiệu”. Đó là một bản Hợp Đồng không có điều kiện, nhưng để KHÔNG ĐIỀU KIỆN này có Tòa Án Pháp Giới Chứng Nhận, thì Chúng Sinh Chỉ Cần Xưng Niệm Danh Hiệu Của Phật A Di Đà và Phó Thác Hoàn mọi việc cho Phật A Di Đà lo liệu.
Khi chúng sinh nhận thức được thực trạng Bất Lực thực sự của mình, và nương tựa hoàn toàn vào đại nguyện lực của Phật, thì bản hợp đồng này nghiễm nhiên đã được “Các Bên KÝ ĐÓNG ĐẤU VÀ HIỆU LỰC NGAY LẬP TỨC”.
“Chúng ta không tu để trở thành Thánh mới được về với Phật, mà chúng ta về với Phật để được thành Thánh. Bản hợp đồng này ký bằng lòng tin, đóng dấu bằng Danh Hiệu, và thời hạn VÔ LƯỢNG THỌ”.
Do đó, để xác lập niềm tin vững chắc khi bước vào hàng CHÁNH ĐỊNH NGHIỆP, chúng ta cần thấu hiểu tận ngọn nguồn CƠ – PHÁP như phần đã trình bày ở trên..
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.
Diệu Hậu.PD
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.