Quan điểm niệm Phật phải Phát tâm Bồ Đề, rộng tu các công đức hồi hướng Tây Phương cầu vãng sanh thuộc về Tự Lực Niệm Phật. Quan điểm này đặt việc Phát Tâm Bồ Đề lên trên Phật lực, cho rằng hành trì phải phát tâm Bồ Đề, tu các công đức thì niệm Phật mới được vãng sanh. Nếu không phát tâm Bồ Đề, không thực hành Lục Độ tích lũy công đức, tuy niệm Phật cũng không được vãng sanh. Quan điểm này không nương vào Nguyện lực của Phật A Di Đà, lấy việc Phát Tâm Bồ Đề của mình, tích lũy công đức làm trọng tâm, cho rằng đây mới là nhân tố chủ yếu còn sức của Phật là thứ yếu – Thật vô cùng sai lầm!
Phải Phát Bồ Đề Tâm niệm Phật mới được vãng sanh là một luận điểm sai lầm, trái với kinh giáo và ngược với Bản Nguyện của đức Phật A Di Đà. Hết thảy đều vì người ta không nắm rõ thế nào là Bồ Đề Tâm, thế nào là Phát Tâm Bồ Đề hành Bồ Tát Đạo. Bồ Đề Tâm là phát tâm “Trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh”. Phát tâm này xong phải thực hành Bồ Tát Đạo.
Phát Bồ Đề Tâm – Sự Khác Biệt giữa Nan Hành Đạo và Dị Hành Đạo
Tâm Bồ Đề có hai loại:
- Tâm Bồ Đề của Tịnh Độ Môn.
- Tâm Bồ Đề của Thánh Đạo Môn.
Tịnh Độ Môn là nương vào tha lực của Phật A Di Đà mà vãng sanh Cực Lạc rồi Ngộ Đạo, gọi là Bỉ Độ Nhập Chứng, đó gọi là Tịnh Độ Môn. Thánh Đạo Môn là pháp môn tu hành của bậc Thánh. Tịnh Độ giáo chia Phật đạo thành 2 loại: Thánh Đạo Môn và Tịnh Độ Môn. Ngay trong đời này tự lực tu hành, ngộ đạo, trở thành bậc Thánh, gọi là Thánh Đạo Môn.
Tâm Bồ Đề của Tịnh Độ Môn là vãng sanh về Cực Lạc, về đó rồi tự nhiên sẽ đầy đủ Tâm Bồ Đề, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh, thành tựu hạnh Bồ Đề. Tâm Bồ Đề của Thánh Đạo Môn là nương vào chính mình, phát Tâm Bồ Đề đời đời kiếp kiếp ở thế giới Ta Bà này hành Bồ Tát Đạo, thành tựu Phật đạo trong thế giới Ta Bà này.
*
Căn cứ theo Tâm Bồ Đề mà luận thì Tâm Bồ Đề của Tịnh Độ Môn gọi là Dị Hành Đạo, rất dễ thành tựu, chỉ cần niệm Phật thì có thể thành tựu. Tâm Bồ Đề của Thánh Đạo Môn gọi là Nan Hành Đạo, phàm phu chúng ta không thể nào làm được. Tại sao làm không được? Bởi tâm này lấy Tứ Hoằng Thệ Nguyện làm nền tảng. Người tu theo Thánh Đạo Môn mỗi ngày đều phải nhớ niệm Tứ Hoằng Thệ Nguyện để nhắc nhở bản thân mình. Nhưng thực tế cũng chỉ phát Bồ Đề Tâm ở cửa miệng mà thôi, không thể nào hành được.
Phát Tâm Bồ Đề phải hành Bồ Tát Đạo, mà Bồ Tát Đạo thì việc khó làm vẫn phải làm, khó nhẫn vẫn phải nhẫn, việc khó xả vẫn phải xả. Như có người cần gan ta phải cho gan, cần thận ta phải cho thận, người ta cần gì ta cũng đều phải vui vẻ cho tặng…Hạng phàm phu bọn ta làm sao có thể cho đi đầu, mắt, tủy, não…làm sao có thể cho đi vợ con, gia tài, của cải….Cho nên đa phần nói dễ hơn làm. Miệng tuy đọc tụng văn Phát Bồ Đề Tâm, nhưng hành trì hằng ngày vẫn chỉ là ở nơi cửa miệng. Vì thế nếu bảo rằng phải Phát Bồ Đề Tâm mới được vãng sanh thì chúng sanh cõi Ta Bà này vô phương giải thoát…
Tuệ Tâm 2023.




Cung kính viết
NGÀY NÀO CỦNG VÀO TRANG WEB CHỊ ĐỂ HÓNG CÁC BÀI VIẾT CHỊ HHHHI🥰
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.
PD. Diệu Hậu viết
PHÁT NGUYỆN VÃNG SANH THEO LỐI DỊ HÀNH ĐẠO.
Nam Mô Bổ Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô A Di Đà Phật
Kính bạch Chư Vị Liên Hữu.
Trong dòng chảy tu tập Tịnh Độ hiện nay, nhiều hành giả vẫn bị đè nặng bởi áp lực từ các nghi thức hình thức, đặc biệt là việc đọc tụng các bài văn Phát Nguyện dài dòng trong các thời khóa. Tuy nhiên, nếu đối chiếu sâu sắc với mạch Tịnh Độ Thuần Chánh của Tổ Sư Thiện Đạo, chúng ta sẽ nhận ra một sự thật giải thoát: Phát Nguyện chân thật nằm ngay trong câu xưng danh hằng ngày, hoàn toàn không phụ thuộc vào nghi thức đọc tụng bề ngoài.
Quan điểm Phát Nguyện ở mạch Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo hoàn toàn khác với mạch Thánh Đạo dòng Truyền Thống của các Tổ Sư. Sự khác biệt này xuất phát từ việc khế nhập căn cơ tu tập Pháp Môn Niệm Phật theo hai hướng Tự Lực và Tha Lực.
Bản chất của Pháp Môn niệm danh hiệu Phật A Di Đà cầu Vãng Sanh Cực Lạc là Tha Lực 100%. Chúng sinh phàm phu bất lực tại cõi Ta Bà thời ngũ ác, muốn ra khỏi sinh tử phải nương tựa hoàn toàn vào Thệ Nguyện cứu độ của Phật A Di Đà. Nên dòng mạch Thuần Chánh của Tổ Thiện Đạo đề xướng Tha Lực tuyệt đối.
Khi dùng các cụm từ: THA LỰC 100% – THA LỰC HOÀN TOÀN – THA LỰC TUYỆT ĐỐI để mô tả, thì ý nghĩa Tha Lực ở đây vẫn là chúng sinh phụ thuộc tất cả vào Phật A Di Đà.
Như vậy BẢN CHẤT của “Phát Nguyện” là PHẬT A Di Đà phát nguyện cứu chúng sinh.
Phật: Nguyện Cứu – Chúng Sinh: Nguyện Được Cứu -> Chúng sinh chấp thuận để cho Ngài cứu thì CẢ 2 NGUYỆN THÀNH TỰU -> Hai Nguyện Hợp Lại gọi là NHẤT THỂ.
Tổ Thiện Đạo dạy rằng toàn bộ thệ nguyện cứu độ của Phật đã đúc kết trọn vẹn thành sáu chữ danh hiệu. Khi hai nguyện (Phật cứu – ta nhận) gặp nhau, tất cả cô đọng lại thành tiếng Nam Mô A Di Đà Phật.
Do vậy nếu Xưng Danh là Tha Lực, thì Phát Nguyện đương nhiên sẽ DỊ HÀNH.
Để thấu triệt cơ chế này, chúng ta căn cứ vào 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà.
Bản chất của 48 lời nguyện có sự phân định rạch ròi giữa “BỔN” và “THỆ”. Trong đó, 47 lời nguyện kia chính là “THỆ” – những lời thề nguyền mang tính chất phương tiện để thiết lập nên một cõi nước Cực Lạc trang nghiêm, thanh tịnh. Còn riêng lời Nguyện thứ 18 được tôn xưng là “BỔN”, vì đây là “Hoằng Nguyện/ Biệt Nguyện” – lời nguyện cốt tủy, gốc rễ sinh ra tất cả các nguyện khác.
Lời Nguyện thứ 18 được thiết kế riêng biệt nhằm cứu vớt hàng căn cơ phàm phu ngũ ác tội chướng. Đứng trước Bổn Nguyện này, đối tượng được cứu hoàn toàn không cần gồng mình tự lực phát nguyện, mà bản chất chỉ cần đồng ý để cho Đức Phật cứu độ, rồi nương mình vào sáu chữ hồng danh xưng niệm hằng ngày.
Như vậy bản chất của “Phát Nguyện” ở phía chúng sinh chính là Xưng Danh để Kết Nối.
Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu về cơ chế cứu độ của Phật A Di Đà.
I/ Thệ Nguyện thứ 18: Chủ Động – Cứu Độ – Vô Điều Kiện.
Ở Nguyện thứ 18, đức Phật A Di Đà lấy Danh Hiệu làm phương pháp cứu độ nghĩa là trong bản thể Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật đã đầy đủ mọi thiện hạnh, mọi pháp môn, mọi công đức do Ngài tu tập trong tải triệu vĩnh kiếp tích lũy vào đó rồi. Vì thế tiêu chí của Ngài là: Chủ Động – Cứu Độ – Vô Điều Kiện.
• Chủ động: Đức Phật xuất phát trước (tức bản thân Ngài đã muốn cứu).
• Cứu Độ (Cứu + Độ): Ở đây có 2 đối tượng:
Đối tượng 1: MUỐN CỨU = PHẬT A DI ĐÀ (có khả năng)
Đối tượng 2: ĐƯỢC CỨU = CHÚNG SINH (không có khả năng)
Mô tả: phía đối tượng có khả năng (tức Phật) nhìn thấy + hiểu được đối tượng không có khả năng (tức chúng sinh) đang gặp nạn trong sinh tử, nên Phật phát tâm CỨU và ĐỘ. Trong đó, CỨU là đưa họ ra khỏi vị trí gặp nạn; ĐỘ là để họ không còn bị nạn như thế nữa.
• Vô Điều Kiện: Bản chất của chúng sinh phàm phu cõi Ta Bà đời ngũ ác không có khả năng tự giải thoát. Vì cảnh giới của họ là cõi Hữu Lậu chấp tướng, dù họ có tu tập bằng cách nào cũng không thể khế nhập với cảnh Vô Vi Cực Lạc. Cho nên Đức Phật A Di Đà đã “Chủ Động” tu tập trong tải triệu vĩnh kiếp để tích lũy công đức Vô Lậu vào danh hiệu của mình rồi trao cho họ.
Tại sao lại nói Phật A Di Đà Phát Nguyện cứu chúng sinh?
Cốt lõi:
• Nếu Ngài không thấu hiểu khả năng không thể của chúng sinh.
• Nếu Ngài không nhận ra họ đang chìm trong biển khổ.
• Nếu Ngài không thương xót họ đến tận cùng như vậy.
Thì Phật A Di Đà có chủ động + phát nguyện + cứu độ hay không?
Bản chất cứu độ là Ngài chuẩn bị sẵn hành trang và tư lương cho họ, chứ không phải chúng sinh CẦU NGUYỆN thì Ngài mới làm.
→ Đây là cội nguồn và tiền đề khởi sinh Thệ Nguyện 18 – Tức “Phật CHỦ ĐỘNG tìm đến chúng sinh”
Nguyện thứ 18 được gọi là Bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà. Văn nguyện như sau:
“Nếu Tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi nước Tôi, cho đến mười niệm nếu chẳng được sanh thì Tôi không thành Chánh giác”.
Đọc nội dung Bổn Nguyện, chúng ta thấy ngay sau câu “Muốn Sanh Về Cõi Nước Tôi” là câu “Cho Đến Mười Niệm”. Như vậy rõ ràng “Muốn Về thì phải Xưng Danh”.
II/ Ý nghĩa: Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật và mối quan hệ Cơ – Pháp
1/ Tổ Thiện Đạo định nghĩa về Danh Hiệu như sau
Ngài tách Nam Mô và A Di Đà Phật thành 2 vế:
A. Nam Mô:
– Là Quy mạng/quay về/ hồi đầu/nương tựa.
– Là Tín Tâm.
– Là Phát Nguyện Hồi Hướng.
→ Bản chất của “Phát Nguyện” đã ở trong NAM MÔ. Vì khi ta (Quy mạng/quay về/ hồi đầu/nương tựa) là trong “ý niệm” của ta Đã Muốn/Đã Nguyện.
B. A Di Đà Phật:
– Là Hạnh tu của Phật A Di Đà.
→ Tổ Thiện Đạo giải thích về cứu độ Vô Điều Kiện, thì trong HẠNH này là Phật A Di Đà “đã CHỦ ĐỘNG CỨU” chứ không phải chúng sinh “cầu xin”.
Như vậy ta thấy rõ Phật A Di Đà khởi tâm “CỨU” chúng sinh từ vô lượng kiếp trong quá khứ lâu xa rồi, chứ không phải ngày nay ta “Cầu/Phát Nguyện” Ngài mới biết.
Do đó khi chúng sinh xưng niệm Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật là đã bao hàm trọn vẹn TÍN – HẠNH – NGUYỆN
2/ Danh Hiệu và mối quan hệ CƠ – PHÁP
BẢN THỂ của 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật là mối quan hệ: NHẤT THỂ.
Cơ chúng sinh và Pháp của Phật A Di Đà là mối tương quan không thể tách rời. Đức Phật A Di Đà là Danh Thể Bất Nhị: Danh ở đâu Pháp Thân Phật ở đó.
Nguyên lý: Khi bạn xưng danh chính là bạn trực tiếp gặp Ngài, bạn đang ở trong Pháp Thân của Ngài, vậy tại sao còn phải “Nguyện Muốn Về”?
Ta xưng danh là hiện tại “cạnh Phật”, người không xưng danh thì Phật vẫn ở đó nhưng Ngài không nhiếp thủ: “Quang Minh của Phật Di Đà có 2 loại Thân Quang và Tâm Quang. Thân Quang của Ngài phóng chiếu khắp cùng tận không chỗ nào không tới, nhưng Tâm Quang của Ngài lại chỉ đi tìm chúng sinh Xưng Danh, vì Tâm Quang là điểm tương ưng giao thoa giữa Tâm Phật và Tâm chúng sinh.
Ngài Cứu – Vì người đó Muốn (Muốn là họ phải Xưng Danh).
Bạn ở đâu Phật ở đó, bạn gọi lúc nào Ngài sẵn sàng lúc đó. Ngài chờ bạn và sẵn sàng ngay bất cứ khi nào bạn tin nhận và xưng danh. Như vậy là Ngài chủ động đến với bạn hay phải cầu mong Ngài đến?
Khi Cơ và Pháp hòa vào MỘT THỂ, thì chính là NGUYỆN đã gắn kết không thể tách rời. Đây là NHIẾP THỦ.
Vậy bạn chỉ đọc bài Phát Nguyện hàng ngày mà TÂM KHÔNG MUỐN, thì liệu có được Tâm Quang của Phật A Di Đà “tìm đến” hay không?
Khi ta niệm Nam Mô A Di Đà Phật là sự cứu độ “trực chỉ”, ta được Ngài “trực tiếp” chấp thuận. Vì thế Tổ Thiện Đạo mới nói: Chánh Định Nghiệp Xưng Danh là “Thuận Theo Bổn Nguyện” của Phật A Di Đà.
Ta THUẬN THEO Ý Ngài thì có đúng là NGUYỆN của Ta đã được chấp nhận hay không?
Ta MUỐN mà Được PHẬT CHẤP THUẬN thì “Muốn” đó mới đúng CHÂN LÝ NHƯ THỊ.
Trong tác phẩm Quán Niệm Pháp Môn thuộc “Tứ Thiếp Sớ”, Tổ Thiện Đạo đưa một đoạn Kinh Bát Chu Tam Muội để khẳng định Xưng Danh đã bao gồm Phát Nguyện:
“Kinh Bát Chu nói: Thành tựu pháp quán về đức Phật rồi, hành giả nhìn thấy đức Phật A-di-đà hiển hiện chân thân, tướng hảo trang nghiêm, liền thưa:
Kính bạch Từ Tôn! Con muốn vãng sanh về thế giới Tịnh Độ Cực Lạc của Ngài thì phải làm thế nào để đến được?
Đức Phật A-di-đà đáp: Bạn muốn sanh về quốc độ của Tôi thì hãy liên tục không ngừng niệm tên Tôi”
Nghĩa là: Nếu bạn muốn đến sống ở Tịnh Độ của Tôi thì hãy xưng niệm danh hiệu của Tôi, đừng xen tạp, hễ chuyên niệm danh hiệu thì liền được như nguyện.
Do đó nếu bạn không Xưng Danh thì ĐỌC BÀI NGUYỆN CHÁY HỌNG cũng chả xin-nhê gì. Chúng ta học Hoằng Nguyện thì phải hiểu rõ ý này.
III/ Mục tiêu của Phật A Di Đà là ưu tiên căn cơ Hạ Liệt cứu trước
Xét về căn cơ Hạ Liệt trên góc độ thế gian ta thấy:
1/ Đối tượng vô trí: Như trẻ em, người khờ, các loài vật là những chúng sinh không có khả năng hiểu biết, không có khả năng tư duy. Họ chỉ biết dùng miệng Xưng Danh chứ làm sao họ hiểu TÍN là gì, NGUYỆN là sao?
→ Vậy họ chỉ cần Xưng Danh là đã tự động có sẵn TÍN và NGUYỆN trong đó rồi.
2/ Đối tượng tạo 5 tội nghịch, 10 tội ác, phỉ báng chánh pháp: Đây là hạng chúng sinh cả đời làm ác, không hề giác ngộ, không hề tin nhân quả, cũng không hề phát nguyện giải thoát. Đến khi Lâm Chung, họ mới gặp được chánh pháp. Lúc đó là thời điểm nghiệp lực đổ về vô cùng thảm khốc, thiện tri thức có phân tích giảng giải giáo nghĩa thì họ cũng không còn tâm trí và khả năng để tiếp nhận. Họ không thể nghĩ được gì ngoài việc “làm theo” lời hướng dẫn của người khác là mở miệng Xưng Danh, thậm chí kể cả khi niệm ấy chỉ khởi lên bằng Ý thì vẫn liền được cứu độ.
→ Thế thì người này vào thời khắc đó có đọc bài PHÁT NGUYỆN nào hay không?
Liên kết với giáo lý Nhị Chủng Thâm Tín (Tin Cơ trước, Tin Pháp sau), ta sẽ thấy lời khuyên của Tổ Sư Thiện Đạo: “Chúng sinh phàm phu Ta Bà thời ác trược phải dụng công từ vị trí Hạ Ngu” là vô cùng thâm sâu. Tổ muốn chúng ta nhận ra THỆ NGUYỆN SIÊU THẾ này là thiết kế riêng để dành cho chính mình.
Bổn Nguyện thứ 18 với mục đích cứu độ 10 phương chúng sinh, và mục tiêu ưu tiên hàng hạ căn cứu trước. Nhưng để cứu hết thì Ngài phải thiết lập một phương pháp chung khởi điểm từ chúng sinh bất lực nhất. Nghĩa là bất luận căn cơ nào khi đã tu theo Bổn Nguyện Bình Đẳng Vô Điều Kiện của Phật A Di Đà thì Xưng Danh chính là đã có Nguyện.
IV/ Phát Nguyện chính là HẰNG NGÀY XƯNG DANH
1/ Bản chất của Xưng Danh
Ở trên, Tổ Thiện Đạo phân tích về Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật chính là TÍN – HẠNH – NGUYỆN. Trong Hạnh đã có đủ cả Tín và Nguyện.
Cơ chế: Tam Tư Lương của mạch Thuần Chánh vận hành theo tiến trình:
TÍN → HẠNH → NGUYỆN
• Ta khởi tâm TIN đồng nghĩa là ta sẽ thực hành Niệm → Chỗ này là Tín dẫn đến Hạnh.
• Ta Niệm với mục đích Lâm Chung vãng sanh → Chỗ này là Hạnh thành tựu cho Nguyện.
Nghĩa là: Nếu người tu với mục đích cầu Vãng Sanh, khi nghe đến danh hiệu rồi TIN và Niệm, thì lúc Niệm họ đã tự định hướng “niệm để làm gì” (sự định hướng này chính là PHÁT NGUYỆN). Trong Tâm đã TIN, thì mới dẫn đến hành vi Xưng Danh, và Xưng Danh là để thành tựu cho cái “Làm Gì” – tức Nguyện về Cực Lạc.
Hằng ngày xưng danh chính là ta đang Phát Nguyện sống động nhất.
Khi một người chấp thuận niệm Phật theo mạch Thuần Chánh, trong tâm họ đã mặc định một đích đến duy nhất là Vãng Sanh Tây Phương. Nếu niệm Phật để về Cực Lạc mà lại để ý đến phước báo nhân thiên, thì đó không phải hành giả Thuần Chánh Tịnh Độ. Do đó, hễ có TIN thì sẽ có NIỆM, mà hễ NIỆM tức là tâm đã ĐỊNH VỊ đích đến Cực Lạc. Sự định vị này chính là lời Phát Nguyện chân thật bằng hành động, thay thế cho mọi lời nói suông.
2/ Mục tiêu của Xưng Danh là Lâm Chung Vãng Sanh.
Hằng ngày trong Tâm Ý, ta chỉ “hướng về duy nhất điều này”. Tất cả những điều khác ta làm vì còn duyên, nó không nằm trong định hướng của ta, không nằm trong mục tiêu của ta, và không chi phối được ta.
Khi ta chỉ duy nhất một mục tiêu vãng sanh thì đó là TÂM ĐÃ PHÁT NGUYỆN. Nguyện này mới thực sự là Nguyện Chân Thật.
Việc đọc lời Nguyện theo hình thức hay thời khóa chỉ mang tính chất nhắc nhở. Nhưng nếu hằng ngày còn phải dùng cách này để nhắc, thì hỏi trong Tâm đã thực sự PHÁT NGUYỆN hay chưa?
Do đó, nếu còn bị ảnh hưởng bởi lối tu Tự Lực (hằng ngày dùng Văn Phát Nguyện để đọc lên), thì đâu đã Phó Thác hết cho Phật A Di Đà? Sao gọi là THA LỰC TUYỆT ĐỐI!
V/ Bản chất của Ba lời khuyên Phát Nguyện trong Kinh A Di Đà
Khi học Kinh A Di Đà, hầu hết chúng ta đều hiểu rằng 3 lần khuyên là mức độ tăng dần về tính trọng yếu, nên ra sức nhắc nhau “Phải phát nguyện mỗi khi kết thúc thời khóa”.
Thông thường, chúng ta tu tập theo mạch Tịnh Độ Truyền Thống là cố gắng duy trì 2 thời khóa sáng tối, như vậy ít nhất mỗi ngày chúng ta phát nguyện 2 lần.
Đối với mạch Thuần Chánh thì quan điểm của Pháp Nhiên Thượng Nhân là “Không hình thức chính là hình thức”. Nghĩa là đối với Ngài, niệm Phật không có thời khóa gò bó, bất kỳ lúc nào, ở đâu cũng đều là lúc niệm Phật. Do đó, nếu niệm Phật liên tục trong mọi khoảnh khắc đời sống thì hỏi lời phát nguyện bằng bài văn sẽ xen kẽ thế nào?
Khi bóc tách 3 lần Phát Nguyện của Kinh A Di Đà theo giảng nghĩa của Tổ Sư Thiện Đạo, chúng ta sẽ thấy bản chất của Nguyện hoàn toàn xuất phát từ “Tâm cảm” chứ không phải “Miệng đọc”.
Trong bản dịch của Ngài Cưu Ma La Thập, Đức Phật Thích Ca đã 3 lần tha thiết khuyên chúng sinh phát nguyện.
1/ Ba lời khuyên Phát Nguyện trong Kinh giáo qua sớ giải của Tổ Sư Thiện Đạo
A/ LẦN KHUYÊN NGUYỆN THỨ NHẤT (Sau phần giới thiệu Chánh báo trang nghiêm)
– Kinh văn: “Xá-Lợi-Phất! Chúng sanh nào nghe những điều trên đây, nên phải phát nguyện cầu sanh về cõi nước đó. Vì sao? Vì đặng cùng với các bậc Thượng thiện nhơn như thế câu hội một chỗ.”
– Ý này Tổ Thiện Đạo đã giải nghĩa trong Tác phẩm “Pháp Sự Tán” (Chuyển Kinh Hành Đạo Nguyện Vãng Sanh Tịnh Độ Pháp Sự Tán) rằng: “Mọi trang nghiêm ở cõi Cực Lạc đều hiển thị rõ ràng để phá tan sự dính mắc của phàm phu vào cõi uế trọc. Đức Thích Ca lần đầu tiên khuyên phát nguyện là muốn chúng sanh nghe thấy sự thù thắng liền sinh lòng hân ngưỡng, xả bỏ Ta Bà. Nguyện này tức là tâm tha thiết muốn nương vào sức Phật để đồng hội một chỗ với các bậc Thánh nhân, không dùng tự lực.”
B/ LẦN KHUYÊN NGUYỆN THỨ HAI (Cuối đoạn Nhân hạnh vãng sanh)
– Kinh văn: “Xá-Lợi-Phất! Ta thấy có sự lợi ích ấy nên nói những lời như thế. Nếu có chúng sinh nào, nghe những lời trên đó, nên phải phát nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc.”
– Trong Tác phẩm “Pháp Sự Tán”, Quyển Hạ, phần chuyển kinh sớ, Tổ dạy tiếp: “Đức Thế Tôn Thích Ca vì thấy cái lợi ích lớn lao của việc xưng danh niệm Phật liền được Phật hiện thân tiếp dẫn, nên Ngài mới buông lời phú chúc, khuyên nhắc thiết tha. Lời khuyên phát nguyện này là để đánh thức tánh giác của phàm phu. Nghe cõi Phật trang nghiêm, nghe danh hiệu dễ niệm, nghe lợi ích vãng sanh quyết định, thì không có lý do gì mà không phát nguyện để nương vào thệ nguyện lực của Phật A Di Đà.”
C/ LẦN KHUYÊN NGUYỆN THỨ BA (Cuối phần Chư Phật sáu phương Hộ niệm)
– Kinh văn: “Cho nên, Xá Lợi Phất! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân nếu có lòng tin thì nên phải phát nguyện sinh về cõi nước kia.”
– Trong tác phẩm “Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ” (Quán Kinh Sớ), Quyển 4, phần “Tán Thiện Nghĩa”. Tổ Thiện Đạo nói: “Đức Phật Thích Ca ba lần ân cần khuyên nhắc chúng sanh phát nguyện. Đến lời khuyên cuối cùng này, Ngài phó chúc triệt để: Chữ ‘Tin’ và ‘Nguyện’ ở đây không nằm ở công hạnh cao sâu của hành giả, mà là tin sâu lời chứng thực của chư Phật sáu phương. Hễ có lòng tin tưởng thuận nhận thì định mệnh phải phát nguyện vãng sinh. Khuyên nguyện chính là khuyên chúng sinh đi vào con đường chuyên trách xưng danh, nương thệ nguyện lực của Phật, không một ai không được vãng sanh.”
2/ Ý nghĩa cốt lõi dưới góc nhìn Thuần Chánh
Qua hệ thống lời sớ giải đồng bộ trên của cả hai bộ đại tác phẩm, Tổ Thiện Đạo đã vạch trần bản chất của Nguyện qua ba điểm mấu chốt:
• Chữ “Nghe”: Không phải chỉ là âm thanh qua tai. Nghe ở đây nghĩa là hiểu thấu, sụp đổ hoàn toàn ngã chấp tự lực để tin nhận trọn vẹn “sự lợi ích” cứu độ của danh hiệu.
• Chữ “Lợi ích”: Lợi ích lớn nhất và duy nhất là dù phàm phu ít thiện căn phước đức tự lực, nhưng hễ chấp trì danh hiệu thì lâm chung liền được Phật hiện thân bảo hộ, tâm không điên đảo, quyết định vãng sanh.
• Bản chất của lời Nguyện này hoàn toàn không phải là một văn bản hay bài kệ do phàm phu tự lực đọc lên, mà bản chất chính là sự “vâng lời” Phật Thích Ca để đồng ý mở lòng nhận món quà cứu độ đã thành tựu sẵn từ Phật A Di Đà.
3/ Ý nghĩa của lời nguyện: Đã sanh, đang sanh, sẽ sanh
Kinh văn: “Nếu có người đã phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện… hoặc đã sinh về, hoặc nay sinh về, hoặc sẽ sinh về…”
Trong tác phẩm “Pháp Sự Tán”, Quyển Hạ, chương giảng giải về “Phát nguyện bất thối chuyển”. Tổ Sư Thiện Đạo nhấn mạnh rằng kết quả “đã sanh, nay sanh, sẽ sanh” đi liền ngay sau tâm phát nguyện là do “Thệ nguyện lực của Phật A Di Đà làm tăng thượng duyên”.
Tổ khẳng định tiến trình này không có bất kỳ sự chướng ngại nào (vô ngại), vì hễ chúng sinh khởi tâm phát nguyện quy hướng, thì năng lực cứu độ của Bản nguyện đã lập tức nhiếp thọ hành giả đó, biến việc vãng sinh thành sự thật quyết định ở tương lai.
VI/ KẾT LUẬN
Tư Tưởng Niệm Phật của Tổ Thiện Đạo nhấn mạnh về Tam Tâm (Chí Thành Tâm, Thâm Tâm, Hồi hướng Phát Nguyện Tâm). Trong 3 tâm này quan trọng nhất là Thâm Tâm tức Tâm Tin Tưởng Sâu Sắc. Khi bạn đã “Tin Tưởng Sâu Sắc”, thì bạn sẽ thực hành “Cho đến mười niệm”. Đây là cốt tủy để bạn khởi được 2 tâm còn lại là Chí Thành Tâm và Hồi hướng Phát Nguyện Tâm.
Nghĩa là nếu không Xưng Danh thì 2 tâm đó không trọn vẹn, nên chỉ cần Xưng Danh thì hoàn thiện cả 3 tâm. Điều này Tổ Pháp Nhiên khẳng định “Khi bạn nhất hướng chuyên xưng thì Tam Tâm, Tứ Tu hay Ngũ Niệm cũng ở nằm trong việc Xưng Danh rồi.
Bản chất Thuần Chánh dòng Tổ Thiện Đạo qua lời giảng rất sâu của Pháp Sư Huệ Tịnh về chữ “Giai đắc bất thối chuyển” (Đều được bất thối chuyển) cho thấy: Văn Kinh không hề nói là “đọc bài nguyện”, mà nói hễ có cái Nguyện hướng về (Quá khứ, Hiện tại, Vị lai) thì cái Quả vãng sinh đã được “định vị vĩnh viễn” ngay lúc đó:
• Đã nguyện = Đã sinh (Trong quá khứ)
• Đang nguyện = Đang sinh (Trong hiện tại – chính là chúng ta bây giờ)
• Sẽ nguyện = Sẽ sinh (Trong Vị lai)
Mạch văn này chứng minh một sự thật cứu độ: Cái Nguyện của chúng sinh một khi đã chạm vào Bản Nguyện của Phật thì lập tức thành tựu, bất di bất dịch. Nó hoàn toàn không phụ thuộc vào việc phàm phu có lặp đi lặp lại một nghi thức đọc tụng bài văn phát nguyện hằng ngày hay không.
Trong mạch Tịnh Độ Thuần Chánh, Tổ Thiện Đạo thiết lập tư tưởng cốt lõi: “Toàn bộ Kinh A Di Đà chỉ nhằm giải thích và làm sống động Lời nguyện thứ 18 (Bản nguyện niệm Phật vãng sinh) của Phật A Di Đà”.
Ba lần Đức Phật Thích Ca khuyên chúng sinh phát nguyện trong Kinh A Di Đà chính là để tương ứng và hoàn thành trọn vẹn cụm từ “Dục sanh ngã quốc” (Muốn sanh về nước tôi) nằm trong văn bản của Lời nguyện thứ 18.
Tổ Thiện Đạo khẳng định: Phật A Di Đà phát nguyện đón rước (Nguyện 18), còn Phật Thích Ca thì 3 lần thúc giục phàm phu phát nguyện để bước lên chiếc thuyền hoằng nguyện đó. Hai Đức Thế Tôn một bên đẩy, một bên kéo, tất cả đều quy nạp về danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật.
• Đức Thích Ca khuyên: Muốn đến Cực Lạc phải niệm Danh Hiệu Phật A Di Đà.
• Đức Từ Phụ Cứu Độ cũng dạy: Muốn về Nước Ta thì Xưng Danh Ta.
Như vậy, Xưng Danh đã bao hàm Muốn/Nguyện. ĐÂY CHÍNH LÀ PHÁT NGUYỆN THEO LỐI DỊ HÀNH ĐẠO.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Tuệ Tâm viết
Nam mô A Di Đà Phật.